Các thành viên trong nhóm:
Nguyễn Lộc Quý Dương
Nguyễn Thị Thanh Thanh
Phí Đình Liệu
Lê Thị Hương Quỳnh
Hoàng Hà Trang
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8 tháng
8 năm 1967 trên cơ sở Tuyên bố Bangkok, với 5 nước thành viên ban đầu là
Indonesia, Malaysia, Phillippin, Singapore, Thái Lan.
Sau 40 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay đã
trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc
gia Đông Nam Á (thêm 5 nước là Brunei, Cămpuchia, Lào, Mianma và Việt
Nam), là một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở Châu Á-Thái Bình
Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước
lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới. Hiện nay, ASEAN đang
chuyển sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu bao trùm là hình thành
Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là
Hiến chương ASEAN.
Có diện tích lãnh thổ rộng tới gần 4,5 triệu km2 vớidân số hơn 600 triệu
người (năm 2012) và lượng lao động dồi dào, ASEAN trở thành một thị
trường quan trọng, rộng lớn và giàu tiềm năng _ một trung tâm kinh tế phát
triển năng động. Mặc dù chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng nợ công
châu Âu, sự suy yếu của kinh tế Mỹ và sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh
tế TQ và Ấn Độ, song trong năm 2012, kinh tế khu vực ASEAN vẫn giữ
được mức tăng trưởng cao. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởng
kinh tế của ASEAN năm nay đạt khoảng 5,2%, trong đó, tốc độ tăng trưởng
Tính đến năm 2012, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới về
GDP danh nghĩa. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) của Trung Quốc năm 2011 đạt 7.298 nghìn tỉ đô la Mỹ, GDP bình
quân đầu người đạt 5.417 đô la Mỹ, bằng khoảng 1/9 GDP bình quân đầu
người của Mỹ (48.328 USD) và cao gấp 4 lần GDP bình quân đầu người của
Việt Nam (1.374 USD). Nếu tính theo sức mua tương đương, GDP của
Trung Quốc đạt 11.299 nghìn tỉ đô la Mỹ, GDP đầu người tương đương là
8.382 đô la Mỹ.
Trung Quốc cũng là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) và
là cường quốc thương mại đứng thứ hai thế giới sau Mỹ, tổng giá trị thương
mại quốc tế đạt 3,64 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2011. Dự trữ ngoại hối đạt 2,85
nghìn tỷ vào cuối năm 2010, tăng 18,7% so với năm trước đó, biến Trung
Quốc trở thành nước có lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới. Trung
Quốc nắm giữ 1,16 nghìn tỷ đô la trái phiếu chính phủ Mỹ và trở thành chủ
nợ lớn nhất của Hoa Kỳ. Trung Quốc là nước nhận được lượng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn thứ ba trên thế giới, quốc gia này đã thu hút
115 tỉ đô la Mỹ chỉ riêng trong năm 2011, tăng 9% so với năm 2010. Số vốn
FDI của Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài cũng ngày càng gia tăng, tổng số
vốn FDI ra nước ngoài năm 2010 là 68 tỉ đô la Mỹ.
Thành công của Trung Quốc đạt được là nhờ sự phát triển vượt bậc của lĩnh
vực sản xuất. Sự phát triển của kinh tế Trung Quốc là nhờ sự kết hợp của
nhiều yếu tố như giá lao động rẻ, cơ sở hạ tầng tốt, năng suất lao động cao,
khả năng quản lý kinh tế tốt, chính sách kinh tế ưu đãi và thuận lợi, và một
đồng nội tệ được hạ thấp so với giá trị thực nhằm tằng sức cạnh tranh của
hàng hóa Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu. Việc hạ giá thấp đồng tiền
giúp Trung Quốc có được thặng dư thương mại kỷ lục 262,7 tỉ đô la Mỹ năm
2007
[27]
và đây cũng là vấn đề gây tranh cãi giữa Trung Quốc và các đối tác
thương mại lớn là Mỹ, EU và Nhật Bản.
chấp giữa ASEAN và Trung Quốc ký tháng 11 năm 2004 tại Viêng Chăn.
Hiệp định về thương mại hàng hóa bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005.
Hiệp định thương mại dịch vụ được ký bên lề Hội nghị thượng đỉnh lần thứ
10 ASEAN -Trung Quốc vào tháng 1 năm 2007 tại Cebu, Phillippines và có
hiệu lực từ ngày 1/7/2007. Ủy ban Đàm phán thương mại ASEAN-Trung
Quốc (AC-TNC) đã hoàn tất thương lượng về Hiệp định đầu tư ASEAN-
Trung Quốc vào tháng 11 năm 2008, và ký kết hiệp định này trong khuôn
khổ Hội nghị các bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 41 vào tháng 8 năm
2009 tại Bangkok, Thái Lan. Điều này đồng nghĩa với việc các tiến trình
đàm phán giữa ASEAN-Trung Quốc về khu vực mậu dịch tự do đã được
hoàn tất theo như Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa
ASEAN và Trung Quốc đặt ra.
% 1234&&5)
Nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và thúc đẩy gắn kết giữa ASEAN và Trung
Quốc, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố thành lập Quỹ Hợp tác Đầu tư
ASEAN – Trung Quốc chi 10 tỷ USD cho các dự án hợp tác đầu tư lớn của
ASEAN và Trung Quốc trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, năng lượng và tài
nguyên, công nghệ thông tin và truyền thông và một số lĩnh vực khác.
Khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường các mối
quan hệ kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc. Hội chợ Trung Quốc-ASEAN
(CAEXPO) nhằm giới thiệu các sản phẩm của hai bên được tổ chức hàng
năm tại Nam Ninh, Trung Quốc kể từ năm 2004, với nhiều sản phẩm mới
được giới thiệu mỗi năm bởi các doanh nghiệp từ hai bên. Ngoài ra, Hội
nghị Thương mại và Đầu tư ASEAN-Trung Quốc (CABIS), được tổ chức
tiếp nối với hội chợ CAEXPO hàng năm, là một cách thức hiệu quả để chính
phủ và khu vực tư nhân xích gần nhau hơn nhằm trao đổi quan điểm về các
vấn đề ảnh hưởng đến tình hình kinh tế và kinh doanh của các nước thành
viên ASEAN và Trung Quốc.
Chưa bao giờ ASEAN - Trung Quốc có được mối quan hệ thương mại gần
gũi, hợp tác chặt chẽ như hiện nay.
cùng kỳ năm trước.
,67))%8%97)%% 1234):;'=4&&5)
Quan hệ kinh tế, thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc đã lớn mạnh
nhanh chóng trong những năm vừa qua, đặc biệt là sau Hiệp định khung về
Hợp tác Kinh tế toàn diện ký tháng 11 năm 2002 nhằm thiết lập khu vực
mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), với mục tiêu hiện thực hóa
ACFTA vào năm 2010 đối với Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines,
Singapore, Thái Lan và Trung Quốc, và vào 2015 đối với Campuchia, Lào,
Myanma và Việt Nam.
2.1 Hiệp định về thương mại hàng hóa và thỏa thuận cơ chế giải quyết
tranh chấp giữa ASEAN và Trung Quốc ký Viêng Chăn
Hiệp định về thương mại hàng hóa bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005.
Hiệp định thương mại dịch vụ được ký bên lề Hội nghị thượng đỉnh lần thứ
10 ASEAN -Trung Quốc vào tháng 1 năm 2007 tại Cebu, Phillippines và có
hiệu lực từ ngày 1/7/2007. Ủy ban Đàm phán thương mại ASEAN-Trung
Quốc (AC-TNC) đã hoàn tất thương lượng về Hiệp định đầu tư ASEAN-
Trung Quốc vào tháng 11 năm 2008, và ký kết hiệp định này trong khuôn
khổ Hội nghị các bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 41 vào tháng 8 năm
2009 tại Bangkok, Thái Lan. Điều này đồng nghĩa với việc các tiến trình
đàm phán giữa ASEAN-Trung Quốc về khu vực mậu dịch tự do đã được
hoàn tất theo như Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện giữa
ASEAN và Trung Quốc đặt ra.
2.2 / Khu vực mậu dịch tự
do
ASEAN - Trung Quốc (China ASEAN
free
trade
area -
CAFTA)
Trước khi trở thành đối tác đầy
khung
hợp tác kinh tế toàn
diện ASEAN -
Trung
Quốc”, trong đó có việc thành lập CAFTA
vào
năm 2010. Theo cam kết, từ 1/1/2005 khu
vực
mậu dịch tự do này sẽ
chính thức khởi động.
Trên
thực tế, Trung Quốc đã mở cửa thị
trường
nông
sản
từ
1/1/2004 cho các nước ASEAN t
heo
Chương trình thu
hoạch
sớm.
Ngoài việc kí các thoả thuận cho
việc
chính thức khởi động CAFTA,
Hội nghị cấp cao lần thứ 7 ASEAN - Trung Quốc đã đi đến thoả thuận: Kể
từ 2004, Trung Quốc hàng năm sẽ
tổ
chức Hội chợ thương mại
ASEAN
-
nội (GDP) đạt khoảng 6000 tỷ đô-la Mỹ, tổng kim ngạch thương mại đạt
4500 tỷ đô-la Mỹ. Hiện nay, Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc—
ASEAN đã triển khai hợp tác xoay quanh các mặt sau đây:
Một là, giao dịch nông sản phẩm. Năm 2011, tổng kim ngạch thương mại
hai chiều Trung Quốc—ASEAN đạt 362,85 tỷ đô-la Mỹ, tăng 23,9%, cao
hơn 1,4% so với tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu chung của Trung Quốc
cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN của Trung Quốc đạt 170,08 tỷ
đô-la Mỹ, tăng 23,1%; kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN của Trung Quốc đạt
192,77 tỷ đô-la Mỹ, tăng 24,6%; nhập siêu từ ASEAN đạt 22,69 tỷ đô-la
Mỹ, tăng 37,1%. So với thị trường truyền thống châu Âu, Mỹ và Nhật Bản,
thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN tăng mạnh. Năm 2011,
ASEAN lần đầu tiên trở thành đối tác thương mại lớn thứ 3 của Trung Quốc,
Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN. ASEAN
lần đầu tiên trở thành thị trường lớn nhất thu hút đầu tư của doanh nghiệp
Trung Quốc.
Hai là, hợp tác sản xuất một số nông sản phẩm. Hiện nay Trung Quốc thiếu
khoảng một nửa sản phẩm sắn, Quảng Tây là tỉnh sản xuất sắn nhiều nhất ở
Trung Quốc. Quảng Tây mỗi năm sản xuất 5 triệu tấn sắn, chiếm 70% tổng
sản lượng của Trung Quốc, nhưng sản lượng này chưa đủ, còn phải nhập
khẩu một nửa sắn. Vì vậy, Quảng Tây đã đi ra nước ngoài, hợp tác trồng sắn
ở Việt Nam, Cam-pu-chia và In-đô-nê-xi-a, sau khi chế biến ở địa phương,
vận chuyển về Trung Quốc. Quảng Tây còn hợp tác với các nước ASEAN
về mía, lúa nước, ngư nghiệp và hoa quả.
Ngoài ra, Trung quốc
và
ASEAN còn thông qua “Bị vong lục về
hợp tác giao thông” bao gồm đường sắt và đường bộ
để
thuận tiện cho
hàng hoá lưu thông và du khách
.
Với lộ
trình
khá rõ ràng và hàng loạt những thoả thuận đạt được nhằm thực hiện
tự do hoá thương mại hàng
hoá,
dịch vụ và đầu tư, đặc biệt là các bên
đồng
ý
thực hiện “Chương trình thu hoạch sớm”
đã
bước đầu tạo ra
môi trường thuận lợi thúc
đẩy
sự
hợp tác, liên kết một cách năng động
giữa
các
nước ASEAN và Trung Quốc. Việc dỡ
bỏ
các
rào cản thương
mại theo các thoả thuận
đạt
được giữa hai bên chắc chắn sẽ góp phần
quan
trọng làm giảm chi phí và tăng hiệu quả kinh
ASEAN, với tổng số vốn đầu tư cho tới năm 2008 lên tới 6,1 tỷ USD. Tổng
đầu tư của các nước ASEAN vào Trung Quốc cho tới hết năm 2008 đạt 5,6
tỷ USD.Năm 2008, khu vực ASEAN thu hút hơn 60,2 tỷ USD vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó Liên minh châu Âu chiếm 20,6%
(tương đương 12,4 tỷ USD), tiếp theo là Nhật Bản, 7,6 tỷ USD và Mỹ, 3,2 tỷ
USD.
Ngày 15/8/2009 Bộ trưởng Kinh tế các nước thành viên ASEAN và Trung
Quốc đã ký hiệp định đầu tư, đây được xem là một bước tiến mới trong việc
mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai bên.
Hiệp định - được ký trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN
(AEM) lần thứ 41 tại Bangkok, Thái Lan - đồng thời sẽ tạo động lực cho
việc hoàn thành khu vực Mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN theo đúng dự
kiến vào năm 2010, với dân số 1,9 tỷ người và tổng GDP khoảng 6.000 tỷ
USD. Cùng với các bộ trưởng kinh tế ASEAN và Trung Quốc, Bộ trưởng
Bộ Công thương Việt Nam Vũ Huy Hoàng khẳng định cam kết sẽ hỗ trợ,
thúc đẩy và bảo vệ đầu tư của các bên liên quan, đối xử công bằng, không
phân biệt đối với các nhà đầu tư, đền bù hợp lý trong trường hợp tài sản của
các nhà đầu tư bị xung công và xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp giữa
các nhà đầu tư và nhà nước. Bộ trưởng Thương mại Thái Lan Porntiva
Nakasai cho biết tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và bảo vệ các nhà đầu tư
sẽ giúp gia tăng sản xuất, xuất khẩu và thương mại giữa ASEAN và Trung
Quốc. Trong khuôn khổ hội nghị, bộ trưởng các nước ASEAN cũng nhất trí
cùng hành động để thúc đẩy nguồn vốn FDI từ các quốc gia khác, ngoài
Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm những cách tiếp cận mới để thúc đẩy đầu tư
nội khối ASEAN như kêu gọi và hỗ trợ, tăng cường sự tham gia của khu vực
tư nhân.
Trong tương lai, vốn đầu tư của trung quốc vào các nước thuộc khối
ASEAN sẽ gia tăng một cách đáng kể trong dài hạn, một phần là do sự nỗ
lực lớn của các công ti của trung quốc đầu tư ra nước ngoài Trung Quốc và
Bảng số liệu các nước châu Á năm 2011 – 2013
(Nguồn: )
Từ bảng thống kê trên, ta thấy nhìn chung GDP của các nước trong khối
ASEAN đều tăng lên đang kể. Một phân trong đó không thể không kể đến
sự đóng góp của khu vực tự do hóa thương mại.Với những chính sách về
thương mại ngày càng nới lỏng và mở rộng cũng tạo điều kiện ddể các quốc
gia tham gia vào thị trường ncung cấp nguyên liệu phong phú. Các quốc gia
sẽ tận dụng được lợi thế so sáng của mình , tạo ra sự chuyên môn hóa trong
quá trình sản xuất để tăng tính tính cạnh tranh vê giá cả và chất lượng hàng
hóa và sản phẩm của mình trên thị trường trong nước và quốc tê, từ đó nâng
cao vị thể của mỗi nước.
,6%7)%%H)
Như chúng ta đã biết, cái gì cũng có hai mặt của nó. Việc tham gia, cam kết
về tự do hóa thương mại cũng như các chính sách mở của thông thương
trong mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc, bên cạnh đem lại những
cơ hội, nó cũng đặt ra những thách thức đặc biết đối với những nước đang và
kŠm phát triển.
Thứ nhất, quan hệ phát triển không cân bằng giữa Trung Quốc với từng
nước thành viên ASEAN.
Thứ hai, sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, kinh tế Trung Quốc phát triển
nhanh chóng đã tạo ra nhiều cơ hội cho các nước ASEAN, nhưng cũng
mang đến sự cạnh tranh quyết liệt về thị trường hàng hoá và đầu tư tiền vốn
quốc tế.
Thứ ba, trong việc thực hiện ưu đãi thuế quan thương mại giữa Trung Quốc
-ASEAN, rất nhiều doanh nghiệp chưa tận dụng đầy đủ nơi sản xuất để
chứng minh xuất khẩu.
Thứ tư, Tình trạng thiếu hiểu biết về thị trường của nhau.
Thứ năm, tình trạng hàng lậu Trung Quốc xuất hiện tràn lan đã ảnh hưởng
đến các nền kinh tế ASEAN.
Thứ sáu, Vấn đề tranh chấp biên giới lãnh thổ, đặc biệt là tranh chấp trên
dựng “ Bốn hiện đại hoá” trên quy mô lớn cần thu hút nhiều đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài.
Một số những lĩnh vực đầu tư mà Việt Nam muốn thu hút đầu tư trực
tiếp của nước ngoài thì phía Trung Quốc cũng đang cần đầu tư và có
nhiều triển vọng để phát triển nên phía Trung Quốc chưa có nhu cầu
cấp bách đầu tư ra nước ngoài.
Đối với đầu tư của Trung Quốc người Việt Nam cung không mặn mà
lắm vì cho rằng kỹ thuật và công nghệ sản xuất của Trung Quốc chưa
tiên tiến hiện đại bằng các nước phát triển khác, do đó khi các doanh
nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam đầu tư sản xuất kinh doanh còn
gặp khó khăn trở ngại. Hơn nữa phía các doanh nghiệp Trung Quốc
chưa thật sự tin tưởng và coi trọng thị trường đầu tư ở Việt Nam .
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam trong những năm qua tuy
chưa nhiều, song cũng đã đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai phía đầu tư và
tiếp nhận đầu tư. Thông qua các dự án đầu tư trực tiếp mà phía Trung Quốc
triển khai, Việt Nam có thêm một số xí nghiệp, nhà máy với những thiết bị
máy móc, kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới, tạo ra nhiều sản phẩm mới và
doanh thu mới, giải quyết được hàng chục nghìn việc làm cho người lao
động trực tiếp và gián tiếp của Việt Nam . Đây là những đóng góp có tác
dụng tích cực trong mức độ nhất định của đầu tư trực tiếp Trung Quốc đối
với công cuộc xây dựng kinh tế và phát triển đất nước mà Đảng và nhân dân
ta đang tiến hành, cần được khẳng định.
Về phía Việt Nam do năng lực còn hạn chế nên số lượng dự án đầu tư của
Việt Nam vào Trung Quốc không nhiều và có qui mô nhỏ. Theo Bộ kế
hoạch và đầu tư, trong hơn 10 năm từ sau khi bình thưòng hoá quan hệ Việt
Nam mới chỉ đầu tư trị giá 240.000 USD tại Tỉnh Vân Nam - Trung Quốc.
Đơn vị:USD
Thời gian Tổng số dự án đầu tư Tổng kim ngạch đầu tư theo
giấy phŠp
2000 1 200.000
tăng lên, đồng thời con số nhập siêu của Việt Nam vào các năm 2009, 2010
cũng lớn hơn so với số liệu thống kê
Kim ngạch XNK hàng hoá hai chiều Việt Nam-Trung Quốc
thời kỳ 1999-2012
(nguồn: )
Năm Tổng kim ngạch Việt Nam xuất Việt Nam nhập
1999 377 193 184
2000 1274 956 318
2001 2213 1358 855
2002 4399 2957 1442
2003 6916 3619 3297
2004 6692 3402 3290
2005 8785 4711 4044
2006 9894 4789 5105
2007 15423 8589 6834
2008 29570 15340 14230
2009 30472,21 14180,92 16291,29
2010 36542,75 14954,85 21587,90
2011 35700 11100 24600
2012
(T1-T8)
26650 8370 18280
Nhìn chung trong một thời gian khá dài (hơn 10 năm), kim ngạch xuất nhập
khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc khá cân bằng, kim ngạch tăng đều qua
các năm và chỉ giảm nhẹ vào năm 2005. Sự biến động này có thể chấp nhận
được do những dao động của thị trường qua hàng năm . Năm 2007, Việt
Nam giảm nhập thiết bị cho các nhà máy đường, xi măng, nhất là đối với các
thiết bị của nhà máy xi măng lò đứng đã làm giảm kim ngạch nhập khẩu,
trong khi đó số lượng hàng xuất khẩu không giảm đã dẫn đến hiện tượng
xuất siêu khá cao đạt 11,2 triệu USD năm 2006, năm 2007 là 66,7 triệu
công an việc làm cho người lao động cũng như nâng cao giá thành
sản phẩm.
Trước yêu cầu cần phải giảm xuất khẩu nguyên liệu thô và các sản
phẩm chưa qua chế biến, trong những năm gần đây,Việt Nam đã
và đang giảm tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu để tận dụng sức lao động
sáng tạo trong nước sản xuất sản phẩm thành phẩm rồi mới xuất
khẩu. Tuy nhiên, một số nhóm hàng như sản phẩm nhựa giầy dŠp,
hàng dệt may, máy tính và linh kiện, dây cáp điện, cao su, đường
tinh cùng một số mặt hàng thực phẩm khác dã thâm nhập được
vào thị trường Trung Quốc nhưng với số lượng không còn rất
khiêm tốn. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 2
năm 2009 và 2010 cho thấy, trị giá mặt hàng dệt may xuất khẩu
sang Trung Quốc là 34,8 triệu USD, chiếm 1,19% tổng kim ngạch
hàng xuất khẩu; mặt hàng giầy dŠp các loại là 12,39 triệu USD,
chiếm 0,42% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Một số mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 2009 – 2010
U%> V1'W X A W47Y"Z
Cà phê Tấn 15.319 6.527.400
, Cao su Tấn 256.868 139.886.124
. Chè Tấn 932 1.432.229
[ Dầu ăn Tấn 26.517 8.648.757
\ Dầu thô Tấn 6.613.963 1.206.235.328
] Dây điện và cáp điện USD 739.266
^ Đồ chơi trẻ em USD 37.014
_ Đường tinh Tấn 86.678 25.691.988
` Gạo Tấn 11.368 2.225.554
- Giày dŠp các loại USD 12.349.157
Hải sản USD 435.391.121
, Hàng dệt may USD 34.851.236
. Rau quả USD 264.330.461
công nông nghiệp, các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong giai
đoạn này là Máy móc thiết bị, phụ tùng, xăng dầu, nguyên vật liệu dệt may,
phân bón và linh kiện xe máy.
Cũng theo số liệu thống kê của Tổng Cục Hải quan, trong 2 năm 2008 và
2009, ta đã nhập một lượng lớn máy móc thiết bị với trị giá là 567,277 triệu
USD chiếm tỷ trọng 14,9% trong tổng kim ngạch hàng nhập khẩu; xăng dầu
là 705,099 triệu USD chiếm tỷ trọng 18,6; nguyên vật liệu dệt may là
202,06 triệu USD và một số mặt hàng khác như phân bón là 120,011 triệu
USD
Các mặt hàng máy móc thiết bị nhập khẩu của Trung Quốc chỉ ở trình độ kỹ
thuật thấp hoặc trung bình so với khu vực và thế giới, nhưng khá phù hợp
với trình độ phát triển của nước ta trong thời kỳ qua.
Đối với nhóm hàng tiêu dùng nhập khẩu, các sản phẩm của Trung Quốc
đang cạnh tranh rất mạnh với hàng sản xuất trong nước do hàng Trung Quốc
có mẫu mã đẹp, đa dạng về chủng loại, tuy có chất lượng không cao, chủ
yếu là hàng địa phương nhưng giá rẻ, khá phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của
thị trường Việt Nam.
Trước thực tế đó đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm trong nước, hạ giá thành để tăng tính cạnh
tranh của các sản phẩm cùng loại trên thị trường nội địa và khẳng định sản
phẩm của mình trên thị trường khu vực cũng như Quốc tế.
Một số mặt hàng chủ yếu Việt nam nhập khẩu từ Trung Quốc
trong 2 năm (2008 - 2009)
U%> V1'W X A W47Y"Z
Chất dẻo nguyên liệu Tấn 19.815 15.471.206
, Cliker Tấn 19.690 383.484
. Linh kiện điện tử và vi tính USD 64.227.418
[ Máy móc, thiết bị, phụ tùng USD 567.277.230
\ NVL dệt may da USD 202.060.525
] Ôtô dạng CKD, SKD Bộ 96 742.160
lớn trong kim ngạch hàng xuất khẩu của Việt Nam
- Nạn buôn lậu và gian lận thương mại.
Sau một thời gian quan hệ hai nước bị gián đoạn, từ khi Đảng và
Nhà nước ta chủ trương cho phŠp nhân dân cư trú ở khu vực biên
giới được qua lại thăm thân, trao đổi hàng hoá phục vụ nhu cầu
tiêu dùng(1991) tiến tới từng bước bình thường hoá quan hệ, đến
nay quan hệ về chính trị, ngoại giao, kinh tế giữa hai nước đã và
đang phát triển tốt đẹp.
Đặc biệt quan hệ kinh tế thương mại đạt được nhiều kết quả thiết
thực. Kinh doanh xuất nhập khẩu giữa các tổ chức doanh nghiệp
hai nước ngày càng phát triển về quy mô và chiều sâu.
Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều năm 2002 đạt trên 3 tỷ USD
và ngày càng gia tăng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh
biên giới nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung, đời sống
đồng bào các dân tộc được cải thiện, cơ sở hạ tầng phát triển, dân
trí được nâng cao, góp phần xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa miền núi với miền đồng bằng…
Tuy nhiên cùng với sự phát triển quan hệ giao lưu, buôn bán kinh
doanh xuất nhập khẩu và đầu tư giữa hai nước, tình hình buôn lậu
và gian lận thương mại ở tuyến biên giới phía Bắc ngày càng gia
tăng và diễn biến phức tạp. Do đặc điểm địa lý vừa có đường biên
giới đất liền kŠo dài vừa có vùng lãnh hải tiếp giáp rộng lớn, ngoài
các cửa khẩu quốc tế còn có hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch và
hàng trăm đường đi lối lại dọc tuyến biên giới, thuận tiện cho việc
mang vác, vận chuyển hàng hoá nhập lậu qua biên giới làm cho
tình hình quản lý an ninh khu vực biên giới, kiểm soát chống buôn
lậu hết sức khó khăn, phức tạp. Hàng lậu từ Trung Quốc luồn lách
qua các đường tiểu ngạch biên giới vào các tỉnh biên giới rồi được
vận chuyển trên đủ loại phương tiện từ xe máy, ôtô, tầu hoả, tàu,
thuyền trên sông, trên biển đổ về các tụ điểm chứa chấp tiêu thụ là