Nghiên cứu điều chế thuốc đè chìm cho tuyển nổi quặng apatit loại II lào cai - Pdf 13


1
Hội hoá học việt nam
viện hoá học công nghiệp việt nam

báo cáo tổng kết
kết quả nghiên cứu đề tài

nghiên cứu phụ gia đè chìm
cho tuyển nổi
Quặng apatit loại II 6762
24/3/2008 Hà nội 12/2007

2
Mục lục


Bảng Các kí hiệu viết tắt

Kí hiệu tắt Nghĩa

Hàm lợng chất có ích trong quặng đầu,%

Hàm lợng chất có ích trong quặng tinh,%

Hàm lợng chất có ích trong quặng đuôi,%

Thu hoạch của các sản phẩm tuyển, %

Thực thu của chất có ích trong quặng tinh, %
CMS Tinh bột cacboxymetyl
DS Độ thế
RE% Hiệu suất
AGU 1 mắt xích tinh bột
SMCA Natri mono clo acetat

quặng apatit Lào Cai -Việt Nam

Quặng apatit Lào cai thuộc thành hệ metaphosphoric (apatit-dolomit), là
thành hệ chủ yếu đợc sử dụng cho ngành công nghiệp sản xuất phân bón chứa
lân ở nớc ta. Về trữ lợng thì thành hệ apatit-dolomit có trữ lợng lớn nhất phân
bố dọc theo bờ phải sông Hồng thuộc địa phận Lào cai. Mỏ apatit Lào cai có
chiều dày 200m, rộng từ 1-4km chạy dài 100 km nằm trong địa phận Việt nam, từ
Bảo hà ở phía Đông nam đến Bát xát ở phía bắc, giáp biên giới Trung quốc.
Quặng apatit ở đây đợc phát hiện từ năm 1924. Các nhà địa chất đã hoàn thành
các nghiên cứu về khảo sát chi tiết địa tầng chứa apatit, nghiên cứu cấu trúc kiến
tạo của khu mỏ, nghiên cứu và xác định trữ lợng từng loại quặng.
Theo thành phần hoá học, khoáng vật, thạch học quặng apatit đợc phân
chia ra ba dạng cơ bản:
Quặng loại 1 là loại apatit n khoáng giu P
2
O
5
(hm lng t 37% tr
lên) .
Qung loi 2 l loi apatit dolomit (hm lng P
2
O
5
23-26%).
Qung loi 3 l loi apatit thch anh (hm lng P
2
O
5
t 14-19%).


đợc apatit, hàm lợng 95-96% dạng tinh khiết, chỉ 4-5% dạng liên tinh, chủ yếu
là liên kết với thạch anh và hydroxit sắt, chính những liên tinh ấy thờng tạo thành
những vết ở vùng quanh các hạt apatit hoặc chứa các mô ở trên bề mặt của chúng.
Một phần nhỏ hydroxit sắt ở dạng bao thể pelit bên trong của các hạt apatit.

II.2. Quặng apatit dolomit (Quặng loại 2).
Các quặng apatit dolomit là những đá màu xám, xám xanh, xám thẫm rất
rắn chắc, có dạng khối, thỉnh thoảng có dạng dải mờ đều đợc đặc trng bởi cấu
tạo vi hạt và hạt nhỏ. Trong thành phần của chúng chứa tới 65-70% apatit, từ 10
đến 30% cacbônat, cá biệt có những mẫu tới 60%. Ngoài đá ra, khoảng 5-10% là
thạch anh, xcacpôlit, muskovit và pirit. ở nền của tầng quặng, quan sát đôi chỗ có

6
những lớp kẹp, dạng thấu kính không dày lắm ( 0,2 - 0,3 àm ), chứa mangan,
dolomit, apatit với hàm lợng MnO từ 3ữ5%.
Apatit tạo nên những hạt tròn không hoàn chỉnh với kích thớc nhỏ nhất
đến 0,05 - 0,07 mm. Có chỗ bị gắn chặt lại, hoặc đợc chứa trong ximăng
cacbônat, các hạt apatit đôi khi tạo nên những mạch nhỏ và dải nhỏ nằm song
song với vỉa quặng.
Về cơ bản, cacbônat là dolomit, có một lợng nhỏ canxit. Canxit thờng ở
dạng tinh thể nhỏ và vừa, chủ yếu tạo nên các lỗ hổng và các khe nứt trong đá.
Dolomit tạo nên các hạt cùng cỡ với kích thớc 0,08- 0,15 mm, đôi khi đến 0,3-
1,2 mm.
Phần lớn thạch anh tạo nên những bao thể không hoàn chỉnh cỡ từ 0,04 đến
0,15-20 mm, nằm xen kẽ giữa các hạt apatit. Trong những bao thể ấy của thạch
anh thờng thấy những tinh thể apatit dạng lăng kính rất nhỏ. Xcacpôlit và
muskovit có mặt với lợng không đáng kể. Xcacpôlit có màu trắng, hạt có dạng
lăng trụ với cỡ 0,02- 0,05 mm (theo trục dài). Muskovit tạo nên những phiến lá,
thờng mỏng ớc chừng 0,02- 0,05 mm. Sự có mặt của pirit (1ữ3%) - đặc trng
cho quặng apatit dolomit.

7
thạch anh dạng men rạn, trong đó kèm theo những hạt nhỏ apatit, cỡ 0,2- 0,4 mm.
Các lỗ rỗng chiếm từ 5-10 đến 30%, đôi khi tới 40% so với thể tích của đá.
Trong các quặng apatit thạch anh, ngoài apatit, thạch anh còn có các hạt
felspat, xcacpolit, hidroxit sắt và cả các phiến lá muscovit. Thành phần hoá học
của quặng apatit thạch anh cũng nh quặng đơn khoáng có đặc điểm là hoàn toàn
không có dolomit, mà chỉ có một lợng rất nhỏ canxit, hầu nh không có những
hợp chất của sunfua. Tổn thất khi nung khá lớn, chứng tỏ hàm lợng các chất hữu
cơ cao.
Khác với quặng giàu, u thế của Al
2
O
3
so với Fe
2
O
3
đặc trng cho quặng
apatit thạch anh. Hơn nữa, hàm lợng của Al
2
O
3
tăng lên một cách xác định trong
các biến thể. Nhất là trong các biến thể giàu P
2
O
5
.Trong các quặng apatit đơn
khoáng và quặng apatit thạch anh, ngoài fluoapatit và các khoáng vật phosphat
chủ yếu, còn có cả một lợng alumophosphat nào đó. Trong các quặng apatit

vào khoảng 2,9 do đó về mặt lý thuyết ta có thể tách đợc chúng bằng phơng
pháp tuyển trọng lực. Độ cứng và dạng cục của quặng cũng là các tính chất quan
trọng tạo thuận lợi cho phơng pháp tuyển này. Những nghiên cứu đầu tiên về đặc
tính trọng lực và tính khả tuyển bằng phơng pháp huyền phù đã đợc nghiên cứu
cho các mẫu quặng phosphat-dolomit Folrida (Mỹ) và Karatau (Liên Xô cũ). Các
nghiên cứu cho thấy rằng, phơng pháp tuyển huyền phù rất có triển vọng đối với
quặng khó tuyển Karatau. Tuỳ theo mục đích mà ta phân tách ở các tỷ trọng khác
nhau, để tách thạch anh và một phần cacbonat tách ở tỷ trọng 2,9 để tách phần
nặng là tinh quặng phosphat ta tách ở tỷ trọng.

III.2. Phơng pháp tuyển hoá-tuyển nổi
Các phơng pháp tuyển hoá cũng đợc quan tâm nhiều trong thời gian gần
đây. Các nhà khoa học Mỹ đã công bố rằng khi sục khí SO
2
vào bùn quặng có thể
làm giảm đáng kể thành phần MgO của tinh quặng tuyển nổi từ quặng phosphat-
cacbonat. Trong quá trình sục khí này, một số muối mangan , sắt, đồng có trong
quặng phosphat làm xúc tác cho quă trình oxi hoá SO
2
pha lỏng thành axit
sunfuric và axit này phân huỷ CaO và MgO thành sunphat. Cũng theo các nhà
khoa học Mỹ, một phơng án khác đó là làm thay đổi bề mặt hạt khoáng trớc khi
đa vào tuyển nổi bằng cách phủ lên bề mặt các hạt phosphat bởi một màng mỏng
sunphit. Sau đó phosphat sẽ đợc tuyển nổi bằng các thuốc tập hợp đối với quặng
sunphit. Trong quá trình tuyển nổi, phosphat đi vào sản phẩm bọt, cacbonat và
silicat còn lại trong sản phẩm ngăn máy. Nh vậy việc phân tách quặng phosphat-
cacbonat-silicat chỉ tiến hành trong một giai đoạn tuyển nổi.
Một sơ đồ xử lí độc đáo quặng phosphat-dolomit là sơ đồ tuyển hoá-tuyển
nổi quặng Karatau của các nhà khoa học Liên xô (cũ). Quặng đợc nghiền mịn,
sau đó đa vào quá trình phân huỷ cacbonat trong dung dịch đặc biệt. Magie đợc

600
o
C thành phần cacbonat có trong mạng tinh thể cacbonat-fluorapatit đợc tách
ra, cấu trúc tinh thể bị co lại. ở nhiệt độ 750
o
C bắt đầu phân hủy dolomit và đến
950
o
C phân hủy canxit. Sản phẩm sau khi phân hủy cacbonat là CaO và MgO
đợc tách ra ở công đoạn hóa vôi và rửa. ở công đoạn này, dới tác dụng của nớc
các sản phẩm CaO và MgO chuyển thành Ca(OH)
2
và Mg(OH)
2
tách khỏi quặng
và đợc gạn ra trong quá trình rửa. ở Bắc Phi, nung thiêu là phơng pháp hữu hiệu
để xử lí quặng phosphat-cacbonat độ hạt thô, quặng phosphat có hàm lợng
cacbonat phân tán trong các vi liên tinh với apatit cao. Tuy nhiên, nhợc điểm của
phơng pháp này là chi phí năng lợng lớn, không loại đợc thạch anh và silicat.
Trong nhiều trờng hợp cụ thể không tách đợc hoàn toàn CaO và MgO khi
những hợp chất này kết hợp với thạch anh và silicat tạo thành những hợp chất
dạng diopsit CaMg(SiO
3
) không thể tách ra đợc bằng công đoạn hóa vôi và rửa.

III.4. Phơng pháp tuyển nổi
Tuyển nổi là phơng pháp rất có hiệu quả trong việc tách apatit ra khỏi các
khoáng vật khác. Hàng năm bằng phơng pháp tuyển nổi, thế giới đã tuyển đợc
60-70 triệu tấn quặng phosphat.


5
tơng đối cao.
. Hiện nay, trên thế giới một số qui trình công nghệ tuyển ngợc apatit
dolomit đã đợc nghiên cứu và áp dụng.
Các nhà khoa học thuộc Viện tài nguyên khoáng sản MRI (Mỹ) đã đạt đợc
kết quả khả quan khi nghiên cứu tính khả tuyển của một số mẫu quặng phosphat-
dolomit tại ấn độ và Trung quốc bằng thuốc tập hợp axit béo theo quy trình tuyển
ngợc, apatit đợc đè chìm bằng axit sunfuric với pH dao động từ 5,5 đến 6 và
dầu thông đợc dùng nh là chất tạo bọt. Quy trình này cũng đợc áp dụng để
tuyển một số loại quặng phosphat dạng dolomit-silicat ở Nam Florida và Utah.
Sau khi dolomit đợc gạt ra khỏi ngăn máy, phần bùn còn lại đợc đa về môi

11
trờng pH từ 6-7 với chất đè chìm là thủy tinh lỏng sau đó dùng axit béo để tuyển
nổi apatit. Kết quả cho thấy, với mẫu quặng ở Nam Florida hàm lợng P
2
O
5
đạt
29%, MgO 0,8% thực thu đạt 76%. Với mẫu quặng Utah, hàm lợng P
2
O
5
đạt
30%, MgO 1% thực thu đạt 80% .

III.4.2 Phơng pháp tuyển nổi thuận apatit
Công nghệ tuyển nổi thuận apatit đã đợc áp dụng từ rất sớm để tuyển nổi
quặng apatit loại 3. Với quặng apatit loại 2 đã có nhiều cố gắng để tuyển nổi bằng
sơ đồ tuyển nổi thuận. Thông thờng đó là những chế độ thuốc tuyển phức tạp

76%.
Tại Viện hoá học công nghiệp, kết hợp 2 loại thuốc tập hợp VH
2000
, Flotol
cùng với chất đè chìm để tuyển nổi quặng apatit loại 2 theo sơ đồ kết hợp. với
quặng đầu vào có hàm lợng 24,75 % P
2
O
5
, qua một lần tuyển ngợc và một lần
tuyển thuận, quặng tinh đạt hàm lợng 34,19% P
2
O
5 ,
quặng thải đạt 12,01% P
2
O
5
. 12
So sánh các phơng pháp làm giàu quặng phosphat cacbonat, thì phơng
pháp tuyển nổi là phơng pháp đợc quan tâm hơn cả vì những triển vọng của nó.
Tuy nhiên, quặng cacbonnat phosphat có những đặc tính công nghệ khó
khăn trong việc tách apatit ra khỏi dolomit và canxit do trong mạng tinh thể của
chúng đều có cation Ca
2+
có cùng hoạt tính tuyển nổi. Mặt khác, do các khoáng
vật apatit-cacbonat có những đặc tính hóa lý và tuyển nổi tơng tự đối với các

Thuc tuyn ni l mt phng tin có hiu lc v mm do m bo tính
chn la, tính n nh v hiu qu cao ca quá trình tuyn ni, ng thi nó cũng
to ra kh nng ln nht hon thin v lm tng hiu qu ca phng pháp
tuyn ni. Có th khng nh rng, không sử dụng thu
c tuyn ni thì sẽ không có
phơng pháp tuyển nổi.
Thuc tuyn ni có thnh phn rt a dng.Trong đó có th bao gm nhng
hp cht vô c v hu c, có th l các axit v các kim, các loi mui, nhng
cht có th tan c hoc không th tan c trong nc.
Tu thuc vo mc đích s dng các thuc tuyn ni c phân chia thnh
nhng loi sau ây: Thuc tp hp, Thuc to b
t, Thuc iu chnh môi trng,
thuc kích ng v thuc đè chìm.
Thuốc đè chìm đợc sử dụng chủ yếu để nâng cao tính lựa chọn của quá
trình tuyển nổi khi phân chia các khoáng vật cùng loại và có tính nổi gần nhau.
Các thuốc đè chìm khi đợc đa vào quá trình tuyển nổi có tác dụng hấp phụ chọn
lọc lên bề mặt các hạt khoáng vật không có ích trong thành phần quặng, làm cho
các hạt này a nớc, không thể bám vào bóng khí và không nổi lên đợc. Thuốc
đè chìm còn làm điều chỉnh tác dụng của thuốc tập hợp lên các hạt khoáng vật
khác nhau, do sự tác dụng này, thuốc tập hợp chỉ tác dụng và làm kị nớc những
hạt khoáng vật nào cần đa vào sản phẩm bọt, do đó nâng cao tính chọn lựa của
quá trình tuyển nổi.
Các nghiên cứu trớc đây thờng tập trung vào việc nghiên cứu chế tạo
thuốc tập hợp mới, các chế độ tuyển và sử dụng các chất đè chìm truyền thống. Vì
vậy chúng tôi đề xuất một hớng mới là nghiên cứu biến tính các chất đè chìm
truyền thống để tạo ra một chất đè chìm có hiệu quả cao trong quá trình tuyển nổi
quặng apatit loại 2.

này tinh bột dễ dàng phản ứng với các enzym. Những đặc tính keo quan trọng
nhất của tinh bột trong nớc là độ trong, màu sắc, lu biến, nồng độ gel, lực bám
dính và tính tạo màng.
Tinh bột là một polime cacbohidrat tự nhiên có phân tử lợng lớn với nhiều
nhóm hiđroxyl trong phân tử nên chúng có thể tham gia các phản ứng sau:
Phản ứng thuỷ phân, phản ứng oxi hoá, phản ứng este hoá, phản ứng ete hoá.
Phản ứng tạo màu với iốt: Tinh bột, mà cụ thể là hồ tinh bột cho phản ứng
đặc trng với iôt tạo thành phức màu xanh.
Các phản ứng khác: Nhóm anđehit trong phân tử tinh bột có tính khử, với xúc
tác hidro hoá, đặc biệt khi có một lợng nhỏ axit, gây ra sự hidro phân tạo thành
poliancol, sorbitol.
15
IV.2.Tinh bột biến tính và ứng dụng của chúng trong công nghiệp
Bằng các phản ứng hoá học, ngời ta biến tính tinh bột để sử dụng vào
nhiều lĩnh vực khác nhau trong công nghiệp. Dựa trên bản chất những biến đổi
xảy ra trong phân tử tinh bột, tinh bột biến tính đợc chia thành 2 loại: tinh bột cắt
và tinh bột thế.
Nhóm tinh bột cắt: trong phân tử tinh bột xảy ra hiện tợng phân cắt liên kết
C-O giữa các monome và những liên kết khác, giảm khối lợng phân tử, xuất hiện
một số liên kết mới trong và giữa các phân tử. Cấu trúc hạt của tinh bột có thể bị
phá vỡ ít nhiều. Nhóm tinh bột này có rất nhiều ứng dụng nh tinh bột biến tính
bằng axit đợc dùng để phủ giấy, tăng độ bền của giấy, cải thiện chất lợng
in Trong công nghiệp thực phẩm, tinh bột loại này dùng để tạo cấu trúc gel trong
sản xuất bánh kẹo.
Tinh bột oxi hoá cũng đợc xếp và nhóm này. Một số loại tinh bột đợc oxi
hoá bởi KMnO
4

- Với công nghiệp khai khoáng, tinh bột đợc dùng trong tuyển nổi quặng,
dung dịch nhũ tơng khoan dầu.
- Với công nghiệp giấy, tinh bột đợc dùng chế tạo chất phủ bề mặt, thành
phần nguyên liệu giấy không tro, các sản phẩm tã giấy cho trẻ em.
- Với công nghiệp dệt, tinh bột dùng trong hồ sợi, in.
- Với các ngành khác, tinh bột đợc dùng làm màng plastic phân huỷ sinh
học, pin khô, thuộc da, keo nóng chảy, chất gắn khuôn đúc, phụ gia nung kết
kim loại.

17

V. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài

18

VI. Thực nghiệm
VI.1. thí nghiệm tuyển sơ bộ để lựa chọn chất đè chìm .
Mục đích của các thí nghiệm này là để so sánh lựa chọn mẫu tinh bột
biến tính có tác dụng đè chìm tốt nhất, trong các mẫu tinh bột biến tính
nhập ngoại (đợc sử dụng trong các lĩnh vực khác), để làm đối tợng
nghiên cứu.
VI.1.1. Mẫu quặng, thuốc tuyển dùng nghiên cứu.
- Mẫu quặng: Mẫu quặng loại 2 dùng để làm các thí nghiệm tuyển sơ bộ
do phòng kỹ thuật của công ty Apatit Lào cai cung cấp, lấy tại khai trờng 13.
Bảng 1.1. Thành phần hoá học mẫu nghiên cứu:

P
2
O
5
(%) Al
2
O
3
(%) Fe
2
O
3
(%) CaO (%) MgO (%) SiO
2
(%)
18,23 1,26 2,13 32,81 6,25 19,96


2
CO
3
> 93%.
Pha thành dung dịch 1%.

Thuốc tập hợp:
Dùng 3 loại thuốc là VH
2000
, PO
L
(Axit béo từ dầu thực vật) và Flotol 7,9 cả
3 mẫu thuốc tuyển đều do Viện hoá chế tạo.
Cả ba loại thuốc tập hợp trên pha ở nồng độ 0,5%.

- Nớc dùng để thí nghiệm :
Dùng nớc máy tại Hà nội. VI.1.2. Nghiên cứu tuyển.
Các thí nghiệm tuyển sơ bộ để so sánh các chất đè chìm là thí nghiệm tuyển
chỉ có một lần tuyển, quặng sau khi nghiền mịn đợc đa vào ngăn máy tuyển
dới dạng dung dịch huyền phù 25% (gọi là bùn quặng), bật máy khuấy sau đó
lần lợt cho thuốc đè chìm, thuốc điều chỉnh môi trờng, thuốc tập hợp vào bùn
quặng, tiếp theo mở ống dẫn khí đồng thời với bật cánh gạt để máy hút không khí
vào trong khối bùn quặng, các hạt quặng sau khi tiếp xúc với thuốc tập hợp nổi
lên lớp bọt đợc cánh gạt đẩy ra cốc chứa quặng tinh, phần không nổi đợc, nằm
lại trong ngăn máy là quặng thải.
Thời gian khuấy : - thuốc đè chìm
Thuỷ tinh lỏng 3 phút

Cộng
82,5
117,5
200,0
41,25
58,75
100
24,76
13,79
18,31
2 CMS 2 Quặng tinh
Quặng thải
Cộng
77,0
121,0
198,0
38,89
61,11
100
24,39
14,39
18,72
3 Tinh bột
anion
Quặng tinh
Quặng thải
Cộng
78,0
121,0
199,0
Nhận xét : ở điều kiện thí nghiệm các mẫu tinh bột biến tính đợc pha bằng nớc
lạnh, chí phí 300 gam tinh bột / tấn quặng đầu vào, các mẫu CMS 1 và CMS 2 có
tác dụng đè chìm chọn lọc tốt nhất. Khi không có chất đè chìm là tinh bột biến
tính, quặng tinh nổi không chọn lọc, làm cho hàm lợng P
2
O
5
trong quặng tinh
giảm, trong quặng thải cao.
21
Bảng 1.3. Kết quả tuyển sơ bộ so sánh các loại tinh bột biến tinh.
Các thí nghiệm làm cùng ở điều kiện chi phí :
Na
2
SiO
3
: 200 g/t ; Na
2
CO

56,5
138,5
195
28.97
71,03
100
25,55
15,41
18.34
3 Tinh bột
anion
Quặng tinh
Quặng thải
Cộng
81,5
114,5
196
41,58
58,42
100
25,04
13,00
18,00
4 Tinh bột
cation
Quặng tinh
Quặng thải
Cộng
81,5
115,5 22
Bảng 1.4. Kết quả tuyển sơ bộ so sánh các loại tinh bột biến tinh.
Các thí nghiệm làm cùng ở điều kiện chi phí :
Na
2
SiO
3
: 200 g/t ; Na
2
CO
3
: 200 g/t ;
PO
L
: 200 g/t ; Tb biến tính : 500 g/t .
( ở các TN 3và 5 các mẫu tinh bột đợc hồ hoá ở 80
0
C ).

Số TN Tb biến tính Sản phẩm Q (g)
(%) (% P
2
O
5
)
1 CMS 1 Quặng tinh

196,5
32,32
67,68
100
26,74
14,36
18,36
4 Tinh bột
dextrin
Quặng tinh
Quặng thải
Cộng
59,5
136,5
196,0
30,36
69,64
100
24,61
15,81
18,58
5 KT37 Quặng tinh
Quặng thải
Cộng
61,0
135,5
196,5
31,04
68,96
100

n
NaOH
n
H
2
O
OH
OH
O
OH
O Na
OH
O
OH
1
2
3
4
5
6
n
n
(1)

Bớc 2: Nhóm cacboxymetyl đợc tạo thành bằng phản ứng S
N
2 giữa tinh
bột ankoxit và natri monocloaxetat (SMCA):

SMCA và NaOH có thể phản ứng tạo thành sản phẩm phụ natri glycolat theo phản

Cl
n
OH
O
OH
O
OH
O
OH
O
OH
O
OH
O
224
Natri glycolat có thể phản ứng tiếp với chính nó hoặc với SMCA tạo thành
natri điglycolat:
2HOCH
2
COONa

(NaOOCCH
2
)
2
O + H
2

Lấy 50g tinh bột khô (đã sấy ở 50
o
C) cho vào bình cầu 2 cổ nhám có lắp
khuấy từ, nhiệt kế. Thêm etanol, khuấy 15 phút. Thêm từ từ dung dịch NaOH vào
hỗn hợp tinh bột và etanol, khuấy khoảng 30 phút. Thêm SMCA vào hỗn hợp,
tăng nhiệt độ hỗn hợp đến nhiệt độ phản ứng, giữ nhiệt độ này trong một khoảng
thời gian nhất định. Trung hoà hỗn hợp phản ứng. Lọc và rửa sản phẩm bằng
etanol 85% cho tới khi dịch rửa sạch ion Cl
-
(thử bằng dung dịch AgNO
3
), sấy khô
sản phẩm trong tủ sấy ở 50
o
C. Sau đó, sản phẩm đợc nghiền mịn và sàng để đảm
bảo cỡ hạt đồng đều.

Tinh b

t
SMCA
NaOH

Thiết bị
phản ứng
TB L

c
Etanol
TB Sấ

Tỉ lệ n
SMCA
/n
AGU
: 0,5
Tỉ lệ V
etanol
/V
H2O
:100/20
Thể tích dung môi/ khối lợng tinh bột : 3 (ml/g)

Bảng 2.1: ảnh hởng của nhiệt độ phản ứng đến độ thế DS
Số thí
nghiệm
Nhiệt độ p/ (
0
C) DS RE(%)
1 35 0,18 36
2 40 0,23 46
3 50 0,29 58
4 60 0,33 66
5 65 0,32 64
6 70 0,31 62
Độ thế cao nhất đạt đợc khi nhiệt độ phản ứng là 60
o
C. ở nhiệt độ trên
70
0
C, mẫu bị hồ hóa ngay từ đầu, khối phản ứng bị keo lại, không khuấy đợc. Có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status