Khãa luËn tèt nghiÖp : §¹i häc th¬ng m¹i
§Ò tµi : KÕ to¸n vèn b»ng tiÒn
Khoa : KÕ to¸n – KiÓm to¸n
LỜI CÁM ƠN
Trong điều kiện kinh tế nước ta ngày càng phát triển, hội nhập với nền kinh tế thị trường của các
nước trong khu vực và thế giới. Các doanh nghiệp đang ngày càng có nhiều những cơ hội và thuận
lợi hơn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh trong nước và quốc tế. Nhưng cơ hội luôn gắn liền
với thử thách,khó khăn. Vì vậy,các doanh nghiệp muốn tồn tại và giữ vững được vị thế của mình
trên thị trường thì phải có những phương pháp kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất để nâng
cao sức cạnh tranh của mình.
Tại công ty cổ phần tập đoàn đầu tư và xây dựng Phú Lộc tại Lạng Sơn- địa bàn kinh doanh chủ
yếu của đơn vị ngày càng có thêm nhiều doanh nghiệp mới ra đời, kinh doanh các lĩnh vực giống
như công ty, có nghĩa là tình hình kinh doanh ngày càng khó khăn, cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi
doanh nghiệp để tồn tại và phát triển, phải tự khẳng định được vị thế bằng chính nội lực của
mình.Trong thời gian thực tập em đã đi sâu và tìm hiểu về công tác kế toán tài sản bằng tiền của
công ty. Từ đó đưa ra các vấn đề đạt được và những hạn chế, đồng thời có một số kiến nghị và giải
pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài sản bằng tiền tại công ty hiện nay.
Do hạn chế về thời gian và năng lực nên bài khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi sai sót.
Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các anh chị phòng kế toán của công
ty để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS. TS Phạm Thu Thủy cùng toàn thể các
anh chị phòng kế toán Công ty cổ phần tập đoàn Đầu Tư và Xây Dựng Phú Lộc đã giúp đỡ em hoàn
thành bài khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cám ơn.
Lạng Sơn, Ngày 11 tháng 06 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Hường
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
•
CP
chính xác nhất về thực trạng và cơ cấu của tài sản bằng tiền, về nguồn thu và sự chi tiêu của chúng
trong quá trình kinh doanh để nhà quản lý nắm bắt được những thông tin kinh tế cần thiết, đưa ra
những quyết định tối ưu, chi tiêu trong tương lai. Từ đó, góp phần giúp nắm bắt hiệu quả kinh tế của
đơn vị.
Việc nghiên cứu về kế toán tài sản bằng tiền không chỉ có ý nghĩa thực tiễn và có tầm quan trọng
với riêng công ty cổ phần tập đoàn đầu tư và xây dựng Phú Lộc mà còn cả đối với tất cả các doanh
nghiệp lớn nhỏ. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài : “ Kế toán tài sản bằng tiền tại công ty cổ phần tập
đoàn Phú Lộc” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp để làm rõ hơn về lý luận cũng như thực trạng kế toán
tài sản bằng tiền tại công ty.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tài sản
bằng tiền trong doanh nghiệp, đánh giá thực trạng công tác kế toán tài sản bằng tiền tại công ty cổ
phần tập đoàn đầu tư và xây dựng Phú Lộc. Từ đó tìm ra ưu, nhược điểm và đề xuất các kiến nghị,
giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác kế toán tài sản bằng tiền của công ty.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về kế toán tài sản bằng tiền tại công ty cổ phần tập đoàn đầu tư
và xây dựng Phú Lộc
* Địa điểm: Công ty cổ phần tập đoàn đầu tư và xây dựng Phú Lộc
Văn phòng giao dịch: Số 17 Trần Phú – Phường Hoàng Văn Thụ – Thành phố Lạng Sơn – Tỉnh
Lạng Sơn.
- Phạm vi số liệu nghiên cứu: Số liệu minh họa trong bài là số liệu thực tế của công ty cung cấp
vào quý IV năm 2011.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
•
Phương pháp thu thập dữ liệu.
Để có cái nhìn chung nhất về kế toán tài sản bằng tiền, em thu thập dữ liệu thu cấp như Chuẩn
mực Kế Toán Viêt Nam, các giáo trình kế toán, chế độ kế toán hiện hành mà DN áp dụng (quyết
định 48/2006/QĐ-BTC, quyết định 15/2006/QĐ- BTC. Trên cơ sở đó em thu thập các tài liệu chứng
từ sổ sách về kế toán tài sản bằng tiền tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Phú Lộc. Tiếp theo em
Trình tự thực hiện: Trong thời gian thực tập tại phòng kế toán Công ty cổ phần tập đoàn đầu tư và
xây dựng Phú Lộc, dựa trên những kiến thức đã được học và quan sát thực tế tại Công ty về chứng từ
sử dụng, vận dụng tài khoản kế toán, sổ kế toán có được thực hiện đúng theo mẫu biểu, quy định của
Bộ tài chính ban hành không? Tổ chức công tác kế toán tài sản bằng tiền tại Công ty có phù hợp với
quy mô và loại hình kinh doanh của Công ty hay không?
•
Phương Pháp Phân Tích Dữ Liệu.
•
Phương pháp phân tích: Áp dụng phương pháp so sánh để so sánh các chỉ tiêu giữa các kỳ với
nhau. Chia nhỏ để làm đơn giản các vấn đề để nhận xét và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ
tiêu phân tích.
•
Phương pháp đánh giá: Sử dụng các đơn vị đo lường được biểu hiện bằng tiền để biểu hiện giá trị
của từng loại tài sản trong doanh nghiệp theo những nguyên tắc xác định.
•
Kết quả thu được của phương pháp điều tra phỏng vấn.
Tổng số phiều điều tra được phát ra là 5 phiếu và kết quả thu về là 5 phiếu ( tỷ lệ 100%). Việc sử
dụng phiếu điều tra thực tế nhằm thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác về tình hình công tác
kế toán tại công ty cũng như kế toán tài sản bằng tiền. Từ đó đề ra các biện pháp nhằm tăng số lượng
bán hàng để tăng doanh thu của doanh nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu này có ưu điểm rất dễ làm, tiết kiệm được thời gian và chi phí trong quá
trình nghiên cứu, việc điều tra theo phương pháp này thu được hiệu quả chính xác, đầy đủ.
- Kết quả thu được của phương pháp quan sát thực tế:
Qua thời gian thực tập ở Công ty, em thấy rằng tô chức công tác kế toán tài sản bằng tiền tại Công
ty phù hợp với mô hình kinh doanh, thông tin do kế toán cung cấp kịp thời, chính xác có chứng từ,
vận dụng tài khoản, sổ sách sử dụng phù hợp với chế độ kế toán hiện hành của Bộ tài chính. Tuy
nhiên, tổ chức công tác kế toán tài sản bằng tiền tại công ty vẫn còn một số những tồn tại bất cập và
hạn chế
1.5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Kết cấu bài khóa luận gồm 3 chương:
tiêu hàng ngày trong sản xuất kinh oanh của Doanh nghiệp.
+ Tiền gửi Ngân hàng: Bao gồm các loại tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành như
vàng bạc, kim khí đá quý đang gửi vào tài khoản của Doanh nghiệp tại Ngân hàng.
+ Tiền đang chuyển: Là loại tiền đang trong quá trình vận động để làm chức năng phương tiện
thanh toán hoặc đang trong quá trình vận động từ trạng thái này sang trạng thái khác.
* Yêu cầu quản lý tài sản bằng tiền:
Tài sản bằng tiền là một bộ phận vốn lưu động quan trọng của các Doanh nghiệp. Quản lý chặt
chẽ vốn bằng tiền là điều kiện tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động, bảo vệ chặt chẽ tài sản, ngăn
ngừa các hiện tượng lãng phí, tham ô tài sản của đơn vị.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản bằng tiền được sử dụng để đáp ứng nhu
cầu về thanh toán các khoản nợ của Doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, tài sản để phục vụ sản xuất
kinh doanh Vì vậy công tác quản lý tài sản bằng tiền đòi hỏi Doanh nghiệp phải quản lý hết sức
chẳt chẽ. Trong quá trình hạch toán tài sản bằng tiền các thủ tục nhằm bảo vệ vốn bằng tiền khỏi bị
lạm dụng là rất cần thiết, việc sử dụng tài sản bằng tiền phải tuân theo các nguyên tắc chế độ quản lý
thống nhất của Nhà nước chẳng hạn như lượng tiền mặt tại quỹ của Doanh nghiệp và Ngân hàng đã
thoả thuận theo hợp đồng thương mại.
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tài sản bằng tiền
1.2.1. Quy định kế toán
Tài sản bằng tiền là một bộ phận của tài sản lưu động bao gồm: tiền mặt tại quỹ tiền mặt, tiền gửi
ở các ngân hàng và các khoản tiền đang chuyển. Với tính lưu hoạt cao nhất – tài sản bằng tiền đáp
ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, thực hiện việc mua sắm hoặc chi phí.
Kế toán tài sản bằng tiền tuân thủ theo các quy định trong chuẩn mực số 01- chuẩn mực chung và
chuẩn mực số 10- ảnh hưởng của việc thay đổi TGHĐ.
•
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản
tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra
•
Vốn chủ sở hữu được phản ánh trong BCĐ kế toán, gồm : vốn của các nhà đầu tư, thặng dư
vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch
đánh giá lại tài sản.
nghiệp đang hoạt động, chênh lệch TGHĐ phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính sẽ được ghi nhận là
thu nhập, hoặc chi phí trong năm tài chính.
+ Đối với doanh nghiệp sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái thì các khoản vay, nợ
phải trả có gốc ngoại tệ được hạch toán theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh. Doanh nghiệp
không được đánh giá lại các khoản vay, nợ phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công cụ tài chính để
dự phòng rủi ro hối đoái.
+ Chênh lệch TGHĐ phát sinh được ghi nhận khi có sự thay đổi TGHĐ giữa ngày giao dịch và ngày
thanh toán của mọi khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. Khi giao dịch phát sinh và được thanh toán
trong cùng kỳ kế toán, các khoản chênh lệch TGHĐ được hạch toán trong kỳ đó. Nếu giao dịch được
thanh toán ở các kỳ kế toán sau, chênh lệch TGHĐ được tính theo sự thay đổi của TGHĐ của từng
kỳ cho đến kỳ giao dịch đó được thanh toán
Ngoài ra, kế toán tài sản bằng tiền còn cần phải tuân thủ theo chuẩn mực kế toán số 24 về Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ ( Quyết định số 165/2002/QĐ- BTC). Chuẩn mực quy định và hướng dẫn các
nguyên tắc, phương pháp lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Nội dung chủ yếu như sau:
Trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Doanh nghiệp phải trình bày các luồng tiền trong kỳ trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo 3 loại
hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
- Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Việc phân
loại và báo cáo luồng tiền theo các hoạt động sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng đánh giá được
ảnh hưởng của các hoạt động đó đối với tình hình tài chính và đối với lượng tiền và các khoản tương
đương tiền tạo ra trong kỳ của doanh nghiệp. Thông tin này cũng được dùng để đánh giá các mối
quan hệ giữa các hoạt động nêu trên.
- Một giao dịch đơn lẻ có thể liên quan đến các luồng tiền ở nhiều loại hoạt động khác nhau. Ví dụ,
thanh toán một khoản nợ vay bao gồm cả nợ gốc và lãi, trong đó lãi thuộc hoạt động kinh doanh và
nợ gốc thuộc hoạt động tài chính.
Luồng ền từ hoạt động kinh doanh
- Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra
doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của
thương mại;
+ Tiền thu hồi cho vay đối với bên khác, trừ trường hợp tiền thu hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức
tín dụng và các tổ chức tài chính; tiền thu do bán lại các công cụ nợ của đơn vị khác, trừ trường hợp
thu tiền từ bán các công cụ nợ được coi là các khoản tương đương tiền và bán các công cụ nợ dùng
cho mục đích thương mại;
+ Tiền chi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương
mại;
+ Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ phiếu đã mua vì
mục đích thương mại;
+ Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận nhận được.
Luồng ền từ hoạt động tài chính
- Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô
và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp. Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động
tài chính, gồm:
+ Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của chủ sở hữu;
+ Tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp đã phát hành;
+ Tiền thu từ các khoản đi vay ngắn hạn, dài hạn;
+ Tiền chi trả các khoản nợ gốc đã vay;
+ Tiền chi trả nợ thuê tài chính;
+ Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu.
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính và
doanh nghiệp bảo hiểm
- Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính và doanh nghiệp bảo hiểm, các luồng tiền
phát sinh có đặc điểm riêng. Khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các tổ chức này phải căn cứ vào
tính chất, đặc điểm hoạt động để phân loại các luồng tiền một cách thích hợp.
- Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, các luồng tiền sau đây được phân loại là
luồng tiền từ hoạt động kinh doanh:
+ Tiền chi cho vay;
+ Tiền thu hồi cho vay;
+ Tiền thu từ hoạt động huy động vốn (kể cả khoản nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm của các tổ chức, cá