Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành điện tử việt nam trong giai đoạn gia nhập WTO - Pdf 13

Bộ công thơng
viện nghiên cứu điện tử, tự động, tin học hóa Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ năm 2007

xây dựng các giải pháp, chính sách tổng thể
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành
điện tử việt nam trong giai đoạn gia nhập WTO Chủ nhiệm đề tài: trần thanh thủy
C quan ch trỡ: VIN NC IN T, TIN HC, T NG HO
Ch nhim ti: TRN THANH THU
Hà Nội 2007
DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

STT

Họ và tên
Học hàm, học vị, chuyên
môn
Cơ quan công tác
1.
Trần Thanh Thuỷ Ths. Quản trị kinh doanh VIELINA
2.
Nguyễn Duy Hưng Ths. Công nghệ vi điện tử VIELINA
3.
Lê văn Ngự TS. Cơ điện tử VIELINA


5

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh trong nền
kinh tế thị trường
9

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh, phân loại cạnh tranh 9

1.1.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 10

1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh
13

1.2 Tổng quan về ngành điện tử Việt Nam 18

1.2.1 Một số đặc điểm chủ yếu của ngành điện tử 18

1.2.2 Hai mươi năm phát triển của ngành điện tử và những đặc điểm
chủ yếu
19

1.2.3 Nhận diện lại một số chính sách thương mại và đầu tư của Nhà
nước đối với ngành điện tử
23

62

2.2.1 Khái quát chung về làn sóng công nghiệp Đông Á 62

2.2.2 Một số xu hướng phát triển cụ thể của ngành điện tử ở các
nước trong khu vực và trên thế giới
65

2.3 Một số nhận xét chung và bài học đối với ngành điện tử Việt
Nam
74

2.3.1 Về tình hình và kinh nghiệm phát triển 74

2.3.2 Về xu hướng phát triển 76CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP,
CHÍNH SÁCH TỔNG THỂ NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO
NGÀNH ĐIỆN TỬ TRONG GIAI ĐOẠN
VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 3.1 Những tác động của WTO đối với các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh điện tử Việt Nam
77

3.1.1 Một số nét đặc trưng về WTO 77



3.4.3 Giải pháp của các tổ chức nghiên cứu - triển khai KH&CN
thuộc lĩnh vực điện tử
119

3.4.4 Giải pháp của các trường Đại học, Cao đẳng và Dạy nghề có
đào tạo các chuyên ngành thuộc lĩnh vực điện tử
120

3.4.5 Giải pháp của Hiệp hội các doanh nghiệp điện tử

121

KẾT LUẬN

122

TÀI LIỆU THAM KHẢO

124

PHỤ LỤC 128

5

MỞ ĐẦU


Nhằm thực hiện thành công Nghị quyết của Đảng, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ
Công Thương) đã chỉ đạo và giao nhiệm vụ cho các đơn vị trong Bộ thực hiện các
đề tài thuộc các chuyên ngành khác nhau, trong đó có đề tài “Xây dựng các giải
pháp, chính sách tổng thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành điện tử
Việt Nam trong giai đoạn gia nhập WTO”.

1. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

Ngành điện tử được đánh giá là có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội ở Việt Nam và tại Quyết định số 55/2007/QĐ - TTg ngày 23 tháng 4 năm
2007 của Thủ tướng Chính phủ ngành điện tử tiếp tục được khẳng định là một

1
Văn kiện Đại hội Đaị biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2006
6

trong ba ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn từ 2007 đến năm 2020, nhưng
trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, ngành điện tử vẫn không có quy hoạch
và chiến lược và mãi cho đến ngày 28/5/2007, lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ
mới có Quyết định số số 75/2007/QĐ - TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển
công nghiệp điện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Như vậy
là trong một thời gian rất dài ngành điện tử không có chiến lược phát triển tổng thể.
Các doanh nghiệp ngành điện tử phải tự tìm đường đi cho mình và chịu thiệt thòi
khi chính sách không nhất quán, mặc dù sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế ở Việt
Nam 20 năm qua đã làm cho môi trường hoạt động của các doanh nghiệp thay đổi
và có nhiều thuận lợi. Tại Hội nghị đánh giá thực trạng Công nghiệp Điện tử Việt
Nam do Bộ Bưu chính - Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) và
Hiệp hội các doanh nghiệp Điện tử Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 08/6/2006 ở
Hà Nội đã nêu lên một hiện thực: ”Mặc dù luôn được tuyên bố chú trọng quan tâm
phát triển, nhưng chưa một lần ngành điện tử Việt Nam có được một chiến lược


2
Nguồn: Tuổi trẻ Online, thứ 6, ngày 16/06/2006
7

với mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
mở cửa và hội nhập hiện nay. Nếu chúng ta biết tận dụng áp lực của cạnh tranh để
đổi mới, cải tổ và vươn lên thì đó lại là một cơ hội. Thực tế cho thấy hơn nửa thế
kỷ thiếu vắng áp lực của cạnh tranh, nền kinh tế nước ta đã trở nên quá trì trệ và
kém hiệu quả. Cũng tương tự như vậy, thị trường rộng mở là một cơ hội, nhưng
nếu chúng ta lại không có thứ hàng hóa gì có thể bán được cho thiên hạ thì đó chỉ
là sự rộng mở để cho thiên hạ khai thác thị trường trong nước mà thôi.

Xây dựng các giải pháp, chính sách tổng thể nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh cho ngành điện tử Việt Nam trong giai đoạn hội nhập WTO là việc làm rất
cấp thiết và cũng chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Thực hiện tốt mục tiêu
này phần nào sẽ giúp được các doanh nghiệp điện tử không bị thua cuộc, không bị
gạt bỏ ra khỏi thị truờng trong quá trình phát triển và hội nhập, đồng thời cũng đáp
ứng được mong mỏi của nhiều doanh nghiệp điện tử tại Hội nghị đánh giá thực
trạng Công nghiệp Điện tử Việt Nam do Bộ Bưu chính - Viễn thông (nay là Bộ
Thông tin và Truyền thông) và Hiệp hội các doanh nghiệp điện tử Việt Nam phối
hợp tổ chức ngày 08/6/2006 ở Hà Nội: “Dù được ưu tiên phát triển hay không thì
sự ra đời của một chính sách định hướng rõ ràng cho Công nghiệp Điện tử Việt
Nam quan trọng hơn tiền đầu tư”
3
, mặc dù hiện tại ngành điện tử Việt Nam vẫn
phải tranh thủ nguồn đầu tư nước ngoài để có thể phát triển vì nguồn vốn đầu tư
trong nước rất hạn chế.

2. Nội dung nghiên cứu:

tập trung chủ yếu nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách hệ thống kết quả điều
tra khảo sát và các tài liệu, dữ liệu thu được từ các nguồn thông tin về thực trạng
sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp điện tử, khả năng
cạnh tranh của các sản phẩm điện tử được sản xuất tại Việt Nam và bằng phương
pháp phân tích ma trận SWOT (Strength, Weakness, Opportunity, Threat), tiến
hành tổ hợp và xây dựng các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
cho ngành điện tử trong giai đoạn hội nhập WTO.

Sau khi xây dựng xong bản thảo Báo cáo tổng kết khoa học, nhóm nghiên cứu
sẽ tiến hành xin ý kiến chuyên gia và tổ chức hội thảo khoa học để trao đổi, thảo
luận về các kết quả nghiên cứu của đề tài.

Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành
sửa đổi, điều chỉnh và hoàn thiện nhằm tăng tính khả thi của các kết quả nghiên
cứu, tạo cơ sở cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách tham khảo
khi tiến hành xây dựng chiến lược phát triển ngành điện tử trong giai đoạn Việt
Nam gia nhập WTO.
9
Chương I

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

1.1. Một số khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế
thị trường
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh


của nhiều chủ thể cùng tham dự.

Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể hay một loạt
điều kiện có lợi nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản
phẩm, một dự án hay một thị trường, một khách hàng,…). Mục đích cuối cùng là
kiếm được lợi nhuận cao. 4
Các Mác “Mác – Ăng Ghen toàn tập” NXB Sự thật, Hà Nội - 1978
5
Adam J.H. “Từ điển rút gọn về kinh doanh”, NXB Longman York Press - 1993
6
“Từ điển Bách khoa” NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội - 1995

10

Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung
mà các bên tham gia phải tuân thủ như đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều
kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh…

Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử
dụng nhiều công cụ khác nhau như cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản
phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp; chính sách
định giá cao; chính sách giá phân biệt; bán phá giá), cạnh tranh bằng nghệ thuật
tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ), cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt,
cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán…

Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: "Cạnh tranh
là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp cả

9
.

7
Chu Văn Cấp “Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế”,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2003
8
Viện NC QLKT Trung ương, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”
NXB Giao thông Vận tải, Hà Nội - 2002
9
M. Porter “Chiến lược cạnh tranh”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - 1996

11

Theo Uỷ ban về cạnh tranh công nghiệp trực thuộc Tổng thống Mỹ "Một nước
là cạnh tranh nếu như nước đó duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng thu nhập thực
ngang bằng với tỷ lệ đó của các nước bạn hàng trong một môi trường thương mại
tự do"
10
.

Trên cơ sở các quan niệm nêu trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh của quốc
gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi
trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới.

b. Khái niệm sức cạnh tranh của doanh nghiệp:

Phần lớn các nhà nghiên cứu kinh tế đều gắn năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc vị trí của
doanh nghiệp trên thị trường theo thị phần mà nó chiếm giữ thông qua khả năng tổ

Bộ KH&ĐT, Viện CLPT, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc “Tổng quan về cạnh tranh công
nghiệp”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1999
11
Bộ KH&ĐT, Viện CLPT, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc “Tổng quan về cạnh tranh công
nghiệp”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1999
12
Nguyễn Bách Khoa “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh
nghiệp”, Tạp chí Khoa học Thương mại số 4+5, Hà Nội - 2004

12

Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải là
thực lực của doanh nghiệp được tạo thành bởi các yếu tố nội tại cũng như uy tín
của doanh nghiệp.

Ba là, khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh với
doanh nghiệp hữu quan (tức là các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị
trường. Muốn tạo nên năng lực cạnh tranh thực thụ, thực lực của doanh nghiệp
phải tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh để có thể giữ được khách
hàng của mình và lôi kéo khách hàng của các đối thủ cạnh tranh.

Bốn là, các biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng
buộc nhau. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh khi doanh nghiệp đó có
khả năng thoả mãn đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng.

Tóm lại, có thể hiểu: "Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực
và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thoả mãn tốt nhất
các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp trong
môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước".


“Từ điển kinh doanh”, Đại học KTQD - 2000

13

dáng, mẫu mã, hình thức của sản phẩm, phương thức tiêu thụ, quảng cáo, dịch vụ
sau bán hàng, v.v…

Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo
điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có năng
lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh
mạnh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh,
môi trường sản xuất kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh
tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, bộ máy Nhà nước phải trong sạch, hoạt
động có tính chuyên nghiệp và có hiệu quả cao. Đồng thời, năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Như vậy, có thể khẳng định, doanh nghiệp là nhân tố quan trọng quyết định
năng lực cạnh tranh của ngành, của quốc gia. Nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, của sản phẩm vừa là bộ phận cấu thành, vừa là một trong những
mục tiêu để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, của quốc gia.

1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,
các nhà kinh tế đã xây dựng hệ thống các chỉ tiêu có thể so sánh được trong mối
tương quan với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng, bao gồm:

- Các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh phi marketing

linh hoạt thích ứng với các biến động đó, nếu không doanh nghiệp sẽ trở thành lạc
hậu và bị loại khỏi cuộc chơi. Nhu cầu luôn thay đổi, chu kỳ sống của sản phẩm bị
rút ngắn, các sản phẩm thay thế liên tục xuất hiện với chất lượng, mẫu mã, công
dụng cao hơn. Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá bởi sự
linh hoạt và biết thực hành của doanh nghiệp để luôn đáp ứng được nhu cầu luôn
thay đổi của thị trường. Sự linh hoạt và biết thực hành trong quản trị và lãnh đạo sẽ
giảm được tỷ lệ chi phí quản lý trong giá thành sản phẩm, qua đó nâng cao được
sức cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp.

- Năng lực nguồn nhân lực:

Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, con người là yếu tố quyết định đến
ưu thế cạnh tranh. Doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ quản trị và lãnh đạo có trình
độ, kinh nghiệm, có năng lực đánh giá, năng động và có mối quan hệ tốt với bên
ngoài, không những sẽ có những lợi ích trước mắt như tăng doanh thu, giá trị sản
xuất, lợi nhuận mà còn cả uy tín và lợi ích lâu dài. Bên cạnh đó, với trình độ tay
nghề cao, chuyên môn nghiệp vụ giỏi và lòng hăng say làm việc của người lao
động, doanh nghiệp sẽ có điều kiện để tăng năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, đảm bảo cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường.

- Năng lực R&D:

Năng lực R&D bao gồm các phân tích về các thành tựu đổi mới để triển khai
các sản phẩm mới, quá trình mới, công tác tổ chức hoạt động nghiên cứu triển khai
(theo định hướng thị trường hay định hướng công nghệ), ngân quỹ dành cho R&D
và vị thế nói chung của bộ phận R&D của doanh nghiệp trong ngành. R&D hữu
hiệu cho phép doanh nghiệp có được sức mạnh trong đổi mới công nghệ, có ưu thế
vượt trội trong giới thiệu sản phẩm mới, cải tiến và cập nhật liên tục các sản phẩm.
Ngược lại, một doanh nghiệp có thể sẽ bị tụt hậu năng lực cạnh tranh trong ngành
bởi yếu kém trong R&D.


Các yếu tố marketing là nguồn nội lực quan trọng hình thành năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, vì đây là những yếu tố căn bản để vừa sáng tạo những giá
trị gia tăng cao hơn cho khách hàng, vừa đưa ra sự khác biệt rõ nét trong tương
quan với các đối thủ cạnh tranh. Đánh giá năng lực cạnh tranh marketing của
doanh nghiệp là phân tích cách thức mà marketing được quản trị trong doanh
nghiệp và hiệu suất thực hiện marketing trên thị trường mục tiêu. Những tác nhân,
lực lượng marketing cơ bản bao gồm:

- Tổ chức marketing:

Trong các doanh nghiệp có định hướng thị trường, marketing không chỉ là trách
nhiệm riêng biệt của bộ phận marketing, mà là trách nhiệm của tất cả mọi người ở
các bậc quản trị trong doanh nghiệp. Nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh
marketing chính là:

o Xác định phạm vi ra quyết định và thực tiễn thực hiện marketing thông qua
tổ chức marketing.
o Đánh giá kết cấu tổ chức marketing, khả năng đảm bảo việc sáng tạo giá trị
cho khách hàng và khả năng đối phó với đối thủ cạnh tranh của tổ chức
marketing.

16

o Tình hình thông tin về hoạt động marketing của nội bộ doanh nghiệp cho các
nhân sự trong tổ chức marketing.

- Hệ thông tin marketing:

Doanh nghiệp sẽ có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp thường xuyên nhận

có xu thế tập trung tới các quyền lợi cục bộ hơn là tới khách hàng và đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc xác định năng lực của bộ máy tổ chức tổng
thể để phối thuộc những nguồn đa chức năng của doanh nghiệp nhằm sáng tạo và
duy trì các giá trị vượt trội cho khách hàng cũng như khả năng đáp ứng nhanh hơn
với những thay đổi trong môi trường ngoại vi so với đối thủ cạnh tranh là rất cần
thiệt. Nói cách khác, doanh nghiệp nào đạt được trình độ cao trong tác nghiệp đa
chức năng và năng lực xuất sắc trong ứng xử thị trường thì doanh nghiệp đó có
năng lực cạnh tranh mạnh.

17

- Khả năng hợp tác hữu hiệu với các doanh nghiệp hữu quan

Tình trạng tranh mua, tranh bán ở thị trường nội địa, tranh bán, tranh mua trên
thị trường thế giới sẽ làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Đặc biệt trong điều kiện vốn ít, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, các doanh nghiệp
càng phải tăng cường liên kết và hợp tác. Có như vậy mới thiết lập được quan hệ
bạn hàng và nhanh chóng hình thành hệ thống phân phối, mở rộng thị trường, nâng
cao năng lực cạnh tranh. Trong trường hợp này, vai trò cầu nối để liên kết, hợp tác
các doanh nghiệp khi tung sản phẩm ra thị trường của hiệp hội các doanh nghiệp là
rất quan trọng và phải được phát huy đến mức tối đa.

- Đảm bảo "chữ tín" đối với khách hàng

Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, đảm bảo "chữ
tín" có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Những hành động bất tín, gian lận, v.v chỉ
có thể đem lại lợi ích nhỏ nhoi trước mắt, nhưng nhất định sẽ làm cho doanh
nghiệp thiệt hại nhiều và lâu dài, mất bạn hàng và chỗ đứng trên thị trường.

- Hoạch định chi phí sản xuất kinh doanh


Ngành điện tử là ngành sản xuất có các đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Tích hợp các thành tựu KH&CN của nhiều lĩnh vực công nghệ cao.
- Cấu trúc sản phẩm khá phức tạp và đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành công
nghiệp nhằm đáp ứng tính đa dạng của công nghệ và các yếu tố đầu vào. Các
ngành công nghiệp hỗ trợ không chỉ bao hàm việc sản xuất hàng hóa, mà còn
cả những dịch vụ khác nhau như thiết kế, kỹ thuật, tư vấn, sản xuất thử, thử
nghiệm, kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm, chuyển giao công nghệ.
- Tiềm năng thị trường các sản phẩm điện tử lớn và được mở rộng cùng với sự
phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng. Vì vậy, cạnh tranh
toàn cầu để xuất khẩu các sản phẩm điện tử là điều rất quan trọng.
- Quá trình sản xuất các sản phẩm điện tử sử dụng rất ít nguyên liệu, năng lượng,
vì các sản phẩm này đuợc phát triển với mục tiêu hạn chế chi phí các nguồn
nguyên liệu và năng lượng không tái tạo, cũng như nhằm bảo vệ môi trường.

Do có những đặc điểm nêu trên mà ngành điện tử đòi hỏi phải có đầu tư vốn lớn
và có công nghệ hiện đại và các sản phẩm sản xuất ra có một số đặc thù riêng so
với các ngành sản xuất khác, đó là:

q Sản phẩm có tính quốc tế hoá rất cao.
q Đời sống sản phẩm rất ngắn nhưng ứng dụng ở tầm nhìn rất xa và phạm vi
rất rộng.
q Sản phẩm là kết quả tích hợp nhiều lĩnh vực công nghệ cao, chứa đựng hàm
lượng R&D lớn và do đó có giái trị gia tăng cao.

Đối với Việt Nam ngành điện tử là ngành công nghiệp tuy đã có hơn 20 năm
hoạt động, nhưng có thể nói là còn rất trẻ và mới mẻ. Trong khi ở các nền kinh tế
phát triển khác, với những đặc điểm nêu trên, điện tử đã trở thành một ngành chủ
đạo, thường chiếm một tỷ trọng đáng kể (từ 30% ÷ 50%) trong tổng kim ngạch

như SONY, NATIONAL, SANYO của những năm 70, đến cuối năm 2006 Việt
Nam đã có 534 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp và kinh doanh các mặt hàng này
15
.
Số lượng và chất lượng sản phẩm các mặt hàng điện tử trên thị trường Việt Nam
được gia tăng và đa dạng hoá nhanh chóng, đặc biệt là các mặt hàng điện tử dân
dụng, điện tử công nghiệp và các mặt hàng máy tính. Hiện tại thị trường các mặt
hàng điện tử của Việt Nam còn tiềm ẩn một năng lực rất lớn: 2/3 trong tổng số gần
18 triệu gia đình chưa có các thiết bị nghe nhìn, tủ lạnh, máy giặt; tổng giá trị thiết
bị tin học còn quá nhỏ, chỉ chiếm khoảng 0,3% GDP, nghĩa là còn thấp xa so với
nhu cầu thực sự của nền kinh tế quốc dân; thị trường các thiết bị điện tử công
nghiệp còn bỏ ngỏ, hầu như đang dành toàn bộ cho các công ty nước ngoài.

Thứ hai, sự sôi động của thị trường chuyển từ sự cạnh tranh giữa người mua
sang sự cạnh tranh của người bán.

Vào đầu những năm 90, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của
người mua tăng lên và theo đó, họ không còn thích sử dụng hàng điện tử cũ và các
thiết bị tin học lạc hậu. Mặt khác, nguồn cung cấp hàng hoá trên thị trường trong
nước chưa nhiều do năng lực lắp ráp cũng như nhập khẩu của các doanh nghiệp
trong nước còn nhỏ, các xí nghiệp liên doanh chưa đi vào hoạt động. Nhu cầu lớn
hơn khả năng cung cấp đã khiến cho thị trường các mặt hàng điện tử - tin học hoạt
động rất nhộn nhịp. Đã có không ít các nhà sản xuất đã nhìn nhận và đánh giá thiếu
đầy đủ hiện tượng này nên đã nhập khẩu ồ ạt SKD, IKD để lắp ráp các sản phẩm
tung ra thị trường. Cũng giống như ngành ô tô, xe máy, số lượng các xí nghiệp liên
doanh trong ngành điện tử cũng tăng lên rất nhanh. Trong khi theo nhiều dự báo,
nhu cầu các mặt hàng điện tử - tin học đang tăng chậm dần do giới hạn bởi sức
mua thực tế, thì số lượng hàng cung cấp đã vượt quá xa so với nhu cầu. Không
những thế, một số lượng lớn hàng nhập mang các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới cũng


phẩm được lắp ráp trong nước. Khi thực hiện chính sách kinh tế thị trường mở,
Việt Nam đã trở thành một bộ phận của thị trường sản phẩm điện tử quốc tế. Các
sản phẩm điện tử trên thế giới đã tràn vào Việt Nam dưới nhiều hình thức khác
nhau: nhập khẩu chính thức linh kiện và bộ linh kiện; nhập khẩu chính thức và
nhập lậu các sản phẩm nguyên chiếc; các sản phẩm do các liên doanh nước ngoài
sản xuất tại Việt Nam.

Do đặc điểm là ngành sản xuất đòi hỏi phải có đầu tư vốn lớn và có công nghệ
hiện đại, sản phẩm sản xuất ra phải có thương hiệu được người tiêu dùng quen biết
và tin tưởng mới dễ dàng tiêu thụ, nên hoạt động của khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài trong ngành điện tử chiếm ưu thế gần như tuyệt đối. Mặt khác, với trình độ
chuyên môn và quy mô sản xuất linh kiện cũng như lắp ráp sản phẩm còn yếu,
công nghiệp điện tử Việt Nam lệ thuộc nặng nề vào các linh kiện và công nghệ
nhập ngoại, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong việc mua linh kiện,
phụ tùng phục vụ sản xuất từ các công ty đã có liên doanh tại Việt Nam như
SONY, SHARP, SANYO, NATIONAL, PHILIP, LG, SAMSUNG,…, nên các
doanh nghiệp điện tử Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất dần thị phần ở ngay
cả trên thị trường nội địa. 21

Thứ năm, thị trường điện tử mất cân đối nghiêm trọng giữa các mảng kinh
doanh: điện tử dân dụng chiếm thị phần lớn và có xu hướng bão hòa, điện tử công
nghiệp và điện tử y sinh phát triển kém và chậm, điện tử viễn thông phát triển khả
quan hơn.

Trước hết, sản phẩm có thị trường lớn và kinh doanh sôi động nhất ở nước ta
hiện nay là các mặt hàng điện tử dân dụng như các thiết bị nghe nhìn, các phương
tiện giải trí,… Trong cơ cấu sản xuất, sản phẩm được lắp ráp hoặc sản xuất tại Việt

Nam, Công ty cổ phần y tế Danameco, Công ty cổ phần Menifa, Công ty cổ phần
Merufa, Công ty liên doanh Vinahankook, Công ty liên doanh Vikimco… đều đã
áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO để quản lý chất lượng sản
phẩm của mình. 16
Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông “Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam giai đoạn đến
2010, tầm nhìn đến năm 2020”, Hà Nội – 2006

22

Theo tài liệu Hội nghị trang thiết bị y tế do Bộ Y tế tổ chức ngày 18 tháng 12
năm 2006, trong số các sản phẩm sản xuất trong nước đã có trên 600 sản phẩm
được Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành, trong đó có các sản phẩm
điện tử y sinh như các loại nồi hấp, tủ sấy, thiết bị tiệt trùng, các thiết bị chẩn đoán
hình ảnh X quang, siêu âm, các loại thiết bị Laser phục vụ điều trị hoặc phẫu thuật,
các loại máy điện tim, máy nghe tim thai, máy lắc máu, máy hút dịch, v.v…

Điện tử viễn thông phát triển khả quan hơn bằng chính sự mạnh bạo trong việc
đầu tư hiện đại hoá các kỹ thuật vi ba, điện tử tự động số, sử dụng cáp quang, các
hệ thống thông tin di động với các công nghệ CDMA, và GSM, phát triển mạng đa
dịch vụ trong cả nước, đảm bảo việc khai thác mạng Internet. Các doanh nghiệp
công nghiệp thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã từng
bước chiếm lĩnh được thị trường trong nước, cung cấp cho mạng lưới những sản
phẩm hiện đại, đạt trình độ công nghệ tiên tiến. Các sản phẩm chính bao gồm: tổng
đài điện tử kỹ thuật số, thiết bị truyền dẫn quang và vi ba số, cáp quang, cáp đồng,
ống nhựa và các sản phẩm nhựa, máy điện thoại các loại, thiết bị đấu nối, phụ kiện,
các thiết bị mạng ngoại vi …Tuy nhiên, do chưa được đầu tư đúng mức và thiếu
chính sách hỗ trợ nên công nghiệp điện tử viễn thông chưa phát triển tương xứng

2010, tầm nhìn đến năm 2020”, Hà Nội – 2006
18
Nguồn: TT Thông tin và Dự báo KTXH Quốc gia

23

chỉ xuất khẩu được 90 triệu USD, năm 2004 xuất khẩu 1,075 tỷ USD và năm
2005 đã xuất khẩu được 1,5 tỷ USD
19
. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là phụ tùng
linh kiện điện tử và máy tính.

1.2.3. Nhận diện lại một số chính sách thương mại và đầu tư của Nhà nước đối với
ngành điện tử

Những đặc điểm phát triển chủ yếu của ngành điện tử Việt Nam đã phản ánh
những khía cạnh khác nhau trong sự xáo động của chính sách thương mại, đầu tư
với ngành công nghiệp này. Nhìn một cách khái quát, có thể thấy trong một thời
gian dài chính sách phát triển ngành điện tử Việt Nam đã chưa có các bước đi thích
hợp, định hướng chung cho ngành điện tử theo mô thức hướng tới xuất khẩu còn
chưa được xác định một cách rõ ràng. Do đó, các chính sách cụ thể về thương mại,
đầu tư cho ngành điện tử thiếu sự nhất quán. Ví dụ, các chính sách thuế đối với sản
phẩm điện tử có lúc khuyến khích sản xuất trong nước, có lúc lại khuyến khích
nhập khẩu, kể cả nhập khẩu nguyên chiếc. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với quan
điểm chung về công nghiệp hoá của Việt Nam là phát triển ngành công nghiệp theo
mô thức hướng ngoại dựa vào xuất khẩu để theo đó không những không làm mất
thị phần ở ngay trên thị trường Việt Nam mà còn xác lập được những thị phần nhất
định trong các nền kinh tế khu vực và thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn
cầu.



Theo đa số ý kiến của các doanh nghiệp thì sự yếu kém hiện nay của ngành điện
tử Việt Nam còn do thiếu hẳn một chiến lược đầu tư đúng đắn. Trong khi vừa cho
phép các doanh nghiệp trong nước đầu tư mua dây chuyền công nghệ để tiến hành
lắp ráp IKD nhằm tạo dựng môi trường thương mại cho các sản phẩm mang
thương hiệu Việt Nam thì xuất phát từ sự bùng nổ của nhu cầu hàng điện tử vào
cuối những năm 80, đầu những năm 90, Nhà nước lại ồ ạt cấp giấy phép cho các
doanh nghiệp nước ngoài liên doanh đầu tư vào lĩnh vực này. Những hãng nước
ngoài liên doanh với Việt Nam lại chính là những hãng trước đây đã cung cấp các
bộ linh kiện và chi tiết cho các doanh nghiệp trong nước. Cùng với xu thế này, có
quá nhiều doanh nghiệp từ những ngành sản xuất khác của Việt Nam cũng chuyển
vốn đầu tư vào ngành điện tử. Hơn nữa, về bản chất, hoạt động của các xí nghiệp
liên doanh là không khác gì so với hoạt động trước đây của các doanh nghiệp Việt
Nam, vẫn là lắp ráp và sản phẩm tiêu thụ trong nước là chủ yếu. Kết quả là đầu tư
ồ ạt đã làm cho cung vượt cầu và theo đó, thay vì khuyến khích sản xuất trong
nước, các xí nghiệp liên doanh có tiềm lực sản xuất lớn hơn trên thực tế, để chiếm
lĩnh thị trường đã từng bước ngăn trở bằng cách ngừng hoặc hạn chế cung cấp phụ
tùng, linh kiện để thu hẹp hoạt động của các doanh nghiệp có 100% vốn trong
nước. Các doanh nghiệp trong nước do ế đọng sản phẩm, để thu hồi vốn, họ phải
bán phá giá các sản phẩm của mình. Do đầu tư không đồng bộ, manh mún, dàn trải
và thiếu thông tin nên nhìn chung trình độ công nghệ lắp ráp hiện nay của các
doanh nghiệp điện tử Việt Nam chỉ mới tương đương trình độ 20 năm về trước của
những nền công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, khả năng để tiến
hành lắp ráp, sản xuất các sản phẩm điện tử cao cấp phục vụ tiêu dùng trong nước
và sản xuất là rất hạn chế. Vậy là, với chính sách đầu tư không rõ ràng, các doanh
nghiệp điện tử trong nước đang bàn giao dần thị trường cho các nhà đầu tư nước
ngoài và chiến lược tạo dựng thương hiệu Việt Nam cũng như hướng tới xuất khẩu
của ngành điện tử không dễ trở thành hiện thực.

2. Chính sách thuế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status