Bộ công thơng
vụ kế hoạch
Báo cáo tổng kết đề tài
xây dựng danh mục các sản phẩm công
nghiệp chủ lực giai đoạn 2008-2015, tầm nhìn
2020 và các chính sách khuyến khích
phát triển trong môi trờng hội nhập Chủ nhiệm đề tài: ks. huỳnh đắc thắng 6887
III. Hiện trạng phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 -
2006 và ước thực hiện năm 2007
22
III.1. Những kết quả
đạt được 22
III.2. Những hạn chế của phát triển công nghiệp, nguyên nhân của
những hạn chế
35
Chương II: Xây dựng danh mục các ngành/sản phẩm công
nghiệp chủ lực giai đoạn 2008 - 2015, tầm nhìn 2025 và định
hướng phát triển
39
I. Phạm vi lựa chọn, nguyên tắc, các tiêu chí đánh giá và phương
pháp sử dụng
39
I.1. Xác định nhóm ngành/sản phẩm công nghiệp để lựa chọn các 391
ngành/sản phẩm công nghiệp chủ lực
I.2. Về nguyên tắc lựa chọn 39
I.3. Hệ thống tiêu chí đánh giá sản phẩm công nghiệp chủ lực 40
I.4. Lựa chọn phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực 42
II. Xây dựng danh mục các ngành/sản phẩm công nghiệp chủ
lực
42
II.1. Danh mục ngành công nghiệp chủ lực giai đoạn 2008 - 2015 43
II.2. Danh mục ngành công nghiệp chủ lực giai đoạn 2016 - 2020 50
II.3.
Định hướng ngành công nghiệp chủ lực cho giai đoạn 2021 -
2
III.3. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương
95
Chương IV: Kết luận và kiến nghị
95
1. Kết luận 95
2. Kiến nghị 95
Tài liệu tham khảo 96
Phụ lục 983
LỜI MỞ ĐẦU
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X của Đảng đã xác
định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế cho đất nước là: tạo nền tảng để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại, trong đó phát triển công nghiệp được coi là nhiệm vụ trọng tâm hàng
đầu; cụ thể, đến năm 2010 tỷ trọng trong GDP của công nghiệp đạt 40 - 41%,
tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) bình quân
trong 10 năm 2001 - 2010 đạt 10 - 10,5%.
Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, kế hoạch 5 năm 2001 - 2005
và năm đầu của kế hoạch 2006 - 2010, tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn,
thách thức rất gay gắt, nhưng với s
ự chỉ đạo sâu sát và kịp thời của Đảng,
Chính phủ, cùng với nỗ lực phấn đấu của các ngành các cấp, các cơ sở sản
xuất kinh doanh, nền kinh tế nước ta đã và đang tăng trưởng với nhịp độ khá
4
- Công nghiệp khai thác khoáng sản tuy đã giảm về tỷ trọng trong công
nghiệp nhưng vẫn còn lớn. Xuất khẩu khoáng sản còn chủ yếu ở dạng chưa
qua chế biến sâu nên giá trị gia tăng còn hạn chế. Ô nhiễm môi trường trong
ngành khai thác khoáng sản là nghiêm trọng.
- Sức cạnh tranh của nhiều sản phẩm còn thấp hơn sản phẩm cùng loại
của các nước trong khu vực.
- Tiến độ thự
c hiện của một số dự án đầu tư lớn quan trọng, nhất là thuộc
các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, không được đảm bảo. Tốc độ đổi mới
công nghệ, thiết bị nhìn chung chưa đạt yêu cầu phát triển.
- Ngành cơ khí tuy đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng vẫn còn
có một số chuyên ngành chưa phát huy hết tiềm năng để
đáp ứng thị trường
trong nước như sản xuất thiết bị đồng bộ, phụ tùng để tự trang bị cho ngành
và các ngành kinh tế khác nhằm tiết kiệm ngoại tệ và chủ động trong đầu tư
phát triển, sản xuất máy công cụ kỹ thuật số, ngành công nghiệp hỗ trợ
- Việc thực hiện đầu tư theo quy hoạch chưa được thực hiện nghiêm túc.
- Khoảng cách v
ề phát triển công nghiệp giữa các vùng đồng bằng so với
miền núi, nông thôn và thành thị còn chênh lệch lớn.
- Nhiều doanh nghiệp vẫn còn lúng túng, trông chờ vào sự bảo hộ của
Nhà nước, chưa chuẩn bị tốt cho hội nhập.
Nhằm phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại
yếu kém trong thời gian qua, trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất n
ước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; duy trì tốc độ phát
triển công nghiệp cao và bền vững trong 5 năm 2006 - 2010 và đạt mục tiêu
lược ngành công nghiệp đến năm 2020 đã trình Thủ tướng Chính phủ, các
quy hoạch ngành đã được phê duyệt ; đồng thời có tính đến tình hình thực tế
về nguồn lực và tiềm năng của đất nước, những dự báo về xu thế phát triển
kinh tế - xã hội của khu vự
c và thế giới. Cụ thể, Đề tài được xây dựng cho các
sản phẩm công nghiệp của Việt Nam trên cơ sở 3 nhóm ngành công nghiệp
(theo Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến 2020) là: Các ngành
đang có lợi thế cạnh tranh, nhóm ngành công nghiệp nền tảng và nhóm ngành
công nghiệp tiềm năng (xem Phụ lục 1).
Đề tài được xây dựng trên cơ sở kết hợp các phương pháp sau đây:
- Phương pháp tổng hợp (tham khảo, phân tích, tổ
ng hợp, kế thừa những
kết quả đã có).
- Phương pháp điều tra (để xác định các tiêu chí ngành/sản phẩm công
nghiệp chủ lực).
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp xử lý thống kê, dự báo Chủ nhiệm đề tài
Huỳnh Đắc Thắng6
CHƯƠNG I
định nhằm đáp ứng một nhu cầu bức thiết nào đó của toàn bộ nền kinh tế.
Ngành công nghiệp trọng điểm và ngành công nghiệp mũi nhọn có ý nghĩa
t
ương tự như công nghiệp chủ lực, đều là những ngành có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, có khả năng cạnh tranh cao, có tiềm
năng về thị trường, và khả năng “lôi kéo” các ngành khác cùng phát triển.
Việc xác định ngành công nghiệp chủ lực có ý nghĩa quan trọng đối với
việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng như phát triển công
nghiệp cho từ
ng thời kỳ, góp phần hình thành và chuyển dịch cơ cấu công
nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. 7
I.2. Đặc điểm của ngành công nghiệp chủ lực
Với nội dung khái niệm được đưa ra ở trên, có thể hiểu ngành/sản phẩm
công nghiệp chủ lực là các ngành/sản phẩm công nghiệp (hoặc nhóm sản
phẩm hẹp) đóng vai trò quan trọng, quyết định đối với việc thực hiện các mục
tiêu, nhiệm vụ đặt ra đối với từng thời kỳ nhất đị
nh.
Trên cơ sở khái niệm, chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp chủ lực
có một số đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, đây là những ngành có hiệu quả cao so với các ngành khác.
Hiệu quả ở đây được hiểu là hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội. Theo quan
điểm phát triển bền vững, những ngành này không chỉ đạt được hiệu quả về
mặ
t kinh tế mà còn phải đảm bảo được sự phát triển bền vững cho nền kinh
tế, tức là phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của cả ba vấn đề: kinh tế, con
người và xã hội. Đây là những ngành/sản phẩm hiện đang phát triển, có giá trị
sản lượng cao và chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu các ngành công nghiệp.
8
công nghệ đã và đang được đưa ra áp dụng, đồng thời còn góp phần thúc đẩy,
tìm kiếm các phát minh.
I.3. Vai trò của công nghiệp chủ lực đối với phát triển công nghiệp ở Việt
Nam
I.3.1. Góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Lựa chọn những ngành công nghiệp chủ lực là một trong những nội
dung quan trọng của Chiến lược và là cơ sở để Chính ph
ủ và các cơ quan
quản lý đưa ra những chính sách phát triển phù hợp, nhằm đạt được mục tiêu
cao nhất đã đề ra, là mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và mạnh. Nếu xác định
các ngành công nghiệp chủ lực không chính xác sẽ dẫn đến định hướng phát
triển công nghiệp bị sai lệch, các cơ chế chính sách phát triển được xây dựng
không hợp lý, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
1.3.2. Giúp phát huy lợ
i thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc
gia
Một trong những đặc điểm của ngành công nghiệp chủ lực là có khả
năng phát huy cao độ những lợi thế so sánh của đất nước, mà cụ thể ở đây là
cả lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so sánh động.
Trong điều kiện nguồn lực hạn chế, đặc biệt là nguồn lực về vốn, về
công nghệ, về tài nguyên thì bài toán lựa chọn ngành kinh tế để tập trung đầu
tư có hiệu quả, tạo cơ sở nền tảng cho sự phát triển của đất nước được đặt ra
bức thiết hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, những ngành, lĩnh vực cần tập trung
phát triển cần phải là những ngành có thể khai thác tốt những lợi thế cạnh
tranh của đất nước và có khả
năng "đón đầu" rất mạnh, thể hiện ở khả năng
đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và chất lượng phát triển (trình độ khoa
hoá và hiện đại hoá, đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào
năm 2020.
I.4. Phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực
1.4.1. Nhóm phương pháp xác định ngành kinh tế chủ lực trong điều kiện có
đủ thông tin
a. Phươ
ng pháp so sánh hiệu quả
Đây là phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực trong điều
kiện các số liệu về chi phí sản xuất và kết quả sản xuất các sản phẩm, các
ngành kinh tế đã xác định được trong điều kiện hệ thống giá cả ổn định và
công nghệ tính toán thống nhất. Phương pháp này có thể thực hiện dễ dàng
dựa trên các bảng hướng dẫn tính toán chỉ tiêu hiệ
u quả kinh tế do Nhà nước
ban hành chính thức.
Ví dụ: Ở tỉnh A, qua theo dõi nghiên cứu có thể đưa vào sản xuất sản
phẩm và các ngành kinh tế sau:
STT Sản phẩm/ngành kinh tế Chi phí bỏ ra Kết quả thu được
1. Sản xuất động cơ diesel C
1
K
1
2 Sản xuất điện C
2
K
2
i Sản xuất phân bón C
i
K
hiệu quả cao là những ngành có chi phí sản xu
ất thấp hơn so với các ngành
khác, hoặc có cùng chi phí sản xuất thì sẽ đạt kết quả cao hơn. Với phân tích
như trên, bản thân phương pháp này đã phù hợp với nội dung của một số lý
thuyết phân tích lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình H - O về phát
triển ngành sản xuất mà huy động được nguồn lực sẵn có của đất nước. Đây là
cơ sở để giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả c
ủa các ngành kinh tế.
Một lưu ý quan trọng là để thực hiện được phương pháp này phải thoả
mãn điều kiện là phải có đầy đủ số liệu theo yêu cầu. Đây là khó khăn rất lớn
nếu chúng ta áp dụng phương pháp này (vì hiện nay các số liệu thống kê của
chúng ta thường không đầy đủ).
b. Phương pháp cân đối ma trận
Đây là phương pháp xác định ngành công nghiệp chủ lực trong điều
kiện cũng có đủ số liệu ban đầu chính xác nhưng hệ thống biểu thu thập số
liệu được cho dưới dạng các ma trận như dạng bảng cân đối liên ngành.
Ví dụ ta có bảng cân đối ma trận của tỉnh B năm t như sau:
STT
Tên ngành và sản
phẩm
Giá trị tổng
sản lượng
Tiêu dùng nội bộ
sản xuất trong
năm của tỉnh
Sản phẩm
hàng hoá
1 Sản xuất phân bón X
1
Lãi (lợi nhuận) cuối năm
Cộng cột = giá trị tổng sản lượng
x
01 (t)
x
0n (t)
L
1 (t)
L
n (t)
X
1 (t)
X
n
(t)
- Sau đó, ta tính ma trận hệ số kỹ thuật với các phần tử là a
ijXij
x
a
ij
i
=
(1)
Khi đó, ta được ma trận hệ số kỹ thuật của tỉnh B vào năm t là:
và phân tích của các chuyên gia kinh tế, tính toán cân đối về mọi mặt: lao
động, vốn, công nghệ, thị trường để đưa ra các phương án khác nhau nhằm
phân bổ số vốn I (t+1).
+ Mỗi một phương án đầu tư (trong số m phương án) của năm t+1 sẽ
cho một kết quả t
ương ứng. Ví dụ: với phương án 1, sản phẩm/ngành 1 được
đầu tư thêm
1)t(I
1
1
+ đồng và thu được mức tăng thêm về giá trị sản lượng là
1)t(
1
1
+∆Χ đồng. Khi ấy giá trị tổng sản lượng của sản phẩm/ ngành thứ nhất
theo phương án 1 năm (t+1) sẽ là:
1)(t∆Χ(t)Χ)1t(
1
1
1
1
1
1
++=+Χ
(5)
Tính tương tự cho các phương án từ 1÷n ta có:
1)(t∆Χ(t)Χ)1t(
1
n
1)(tx
1
n1
+ 1)(tx
1
nn
+
Lao động
1)(tx
1
01
+ 1)(tx
1
0n
+
Từ bảng trên, đi theo cột có:
{
}
1)(tx1)(tx 1)(tx1)(tΧ1)(tL
1
01
1
n1
1
11
1
1
1
(4) 12
[
]
1)(tx 1)(tx1)(tΧ1)(tx
1
1n
1
11
1
1
1
1
++++−+=+
[
]
1)(tx 1)(tx1)(tΧ1)(tx
1
nn
1
n1
1
n
1
n
i1 (t+1)
x
in (t+1)
x
i (t+1)n Sản xuất giấy X
n
X
n1 (t+1)
x
nn (t+1)
x
n (t+1)
Chi phí về lao động
Lãi (lợi nhuận) cuối năm
Cộng cột = giá trị tổng sản lượng
x
01 (t+1)
x
0n (t+1)
L
1 (t+1)
L
n (t+1)
X
1 (t+1)
X
lớn hơn là ngành có hiệu quả hơn (ngành chủ
lực). Hiệu quả chung của toàn bộ phương án 1 năm (t+1) sẽ là:
[]
[
]
1)I(t
(t)L(t)x1)(tL1)(tx
1)(te
n
1i
n
1i
1
i
1
0i
1
i
1
0i
1
+
+−+++
=+
∑∑
==
Tiếp tục lặp lại các phép tính trên cho các phương án khác (phương án
2 đến phương án thứ m) ta sẽ thu được các hiệu quả chung tương ứng e1(t+1)
gắn với các lý thuyết về giai đoạn tăng trưởng, lý thuyết đàn nhạn bay (phát
triển theo 4 giai đoạn) của Akamatsu.
Phương pháp này khá đơn giản, tận dụng được chất xám của các
chuyên gia và loại trừ được m
ột phần tính chủ quan khi có hệ thống các tiêu
chí xác định hệ số quan trọng và tầm ảnh hưởng của các ngành.
Nội dung của phương pháp này như sau:
Trước hết ta liệt kê các sản phẩm, các ngành kinh tế mà địa phương có
thể đưa vào sản xuất - được gọi là các đối tượng phát triển: D
1
, D
2
, , D
n
.
Từ các đối tượng được đưa ra ở trên, căn cứ vào các nguồn lực về vốn,
đất đai, kỹ thuật, lao động, thị trường, công nghệ chỉnh lý lại một bảng cuối
cùng chuẩn xác, ví dụ được 10 đối tượng. Để làm được điều nay cần khai thác
chất xám của các chuyên gia, các nhà công nghệ, các nhà kinh tế, quân sự,
chuyên gia trong và ngoài nước. Sau đó, ta xếp lại thành 4 nhóm theo thứ tự
quan trọng từ
I, II, III đến IV, theo bảng sau:
Nhóm
I II III IV
Tên các đối tượng D
1
, D
2
, D
14
Khi đó hệ số quan trọng của từng đối tượng ở mỗi nhóm lần lượt là:
Nhóm I: 8/n
1
= 8/4 = 2 (= p
1
)
Nhóm II: 4/n
2
= 4/3 = 1,33 (= p
2
)
Nhóm III: 2/n
3
= 2/2 = 1 (= p
3
)
Nhóm IV: 1/n
4
= 1/1 = 1 (= p
4
)
Xác định mối quan hệ giữa các đối tượng phát triển. Xét D
i
ảnh
hưởng
tới D
j
. Ký hiệu tầm quan trọng của mức độ ảnh hưởng là R
1
ij
A)(E)(bB
−
−==
Xác định mức độ quan trọng R
i
của các D
i∑
=
=
n
1ij
iji
bR
Đối tượng nào có R
i
lớn nhất thì đấy là sản phẩm/ngành chủ lực phải
tìm.
II. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH
VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ LỰC
Để xác định ngành công nghiệp chủ lực cần phải xuất phát từ đặc điểm
cụ thể của nền kinh tế mỗi quốc gia, vì bản thân các ngành chủ lực ở mỗi
nước lại có tính đặc thù riêng, tuỳ thu
ộc vào lịch sử và điều kiện kinh tế của
Lai, ngoài ra còn có người Ấn Độ, Pakistan, Bangladet ), bao gồm 54 đảo,
nằm ở Nam bán đảo Malắcca, giữa Malaixia và Indonesia, có tổng diện tích
693km
2
, mật độ trên 6.000 người/km
2
. Cho tới năm 1965, sau khi tách khỏi
liên bang Malaysia tình hình kinh tế Singapore vẫn chưa được cải thiện, dân
số đông do tỷ lệ sinh đẻ cao và làn sóng nhập cư vẫn chưa chấm dứt. Trước
bối cảnh đó, Singapore tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình “hướng ra
xuất khẩu” như Hồng Kông đã và đang tiến hành khi đó, nhằm vươn tới thị
trường rộng lớn bên ngoài. Đến nay, Singapore đã trở thành một nước công
nghi
ệp phát triển, là trung tâm của các ngành công nghiệp kỹ thuật và công
nghệ cao như điện tử, đóng tàu, lọc dầu, sửa chữa tàu thuỷ, chế tạo máy chính
xác và là trung tâm tài chính, buôn bán lớn nhất Đông Nam Á.
- Thời kỳ trước những năm 1970, là một nước có lao động dồi dào, đất
đai không nhiều, tài nguyên ít nên đi lên bằng nông nghiệp là điều khó khăn.
Singapore đã khai thác lợi thế vị trí thuận lợi của mình để phát tri
ển kinh tế
theo hướng gia công xuất khẩu. Những ngành được khuyến khích trong chiến
lược công nghiệp hướng ra xuất khẩu là những ngành sử dụng nhiều lao động
nhằm giải toả tình trạng thất nghiệp như kéo sợi, may mặc chế biến gỗ và chế
biến thực phẩm.
Hướng đầu tư của Singapore là tập trung vào các ngành công nghiệp
chế biến cần nhiều lao động như
sản xuất đồ điện và điện tử. Ngoài ra,
Singapore còn đầu tư vào một số ngành công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn
như hoá chất, cao su, lọc dầu.
- Vào những năm 1970 -1980, Singapore đã thay đổi cơ cấu công
Singapore còn là nước năng động trong việc phát triển dịch vụ du lịch.
Từ nhiều năm nay, Singapore đã tạo ra những tiền đề cho hoạt động này trở
thành nguồn thu ngoại tệ lớn. Singapore có 4 sân bay, có hệ thống thông tin
bưu điện cùng một lúc có thể liên lạc với hang chục quốc gia, có các khách
sạn lộng lẫy và hàng hoá thuộ
c vào loại rẻ. Chính vì vậy nhiều du khách tận
dụng cơ hội đến Singapore, dù chỉ trong chốc lát. Mỗi năm Singapore đón
tiếp khoảng 3 đến 4 triệu khách du lịch.
Những kết quả đạt được
- Hướng chính cho phát triển nền kinh tế là phát triển công nghiệp. Cho
đến nay công nghiệp đã mang lại lơi ích rất to lớn, đặc biệt là công nghiệp
nặng, công nghiệp công nghệ cao.
Trong những năm xây dựng và phát triển công nghi
ệp hoá hướng ra
xuất khẩu, sản xuất công nghiệp Singapore đã đạt mức tăng trưởng cao hơn
mức tăng GNP và GDP. Những năm đầu công nghiệp hoá, tốc độ tăng của
ngành công nghiệp khoảng gấp rưỡi tốc độ tăng GNP và GDP, nhưng sau đó
chậm dần.
Sự phát triển công nghiệp không những đã tạo đủ việc làm cho người
lao động mà còn là động lực đẩ
y mạnh xuất khẩu. Nói chung cứ 3 đến 4 năm
kim ngạch xuất khẩu của Singapore lại tăng lên gấp đôi. Riêng giai đoạn sau,
thời gian để tăng gấp đôi dài hơn vì mức tăng đã lớn nhưng cũng chỉ mất bảy
đến tám năm.
II.2. Malaysia
Malaysia là một nước thuộc khối ASEAN có điều kiện khí hậu thuận
lợi cho sự phát triển hệ thống thự
c vật, có diện tích tự nhiên khoảng 330.000
km
2
thành nước sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới.
- Giai đoạn 2: từ 1970 đến những năm 1980 (chiến lược hướng về xuất
khẩu): Sau giai đoạn phát triển có tính chất thay thể nhập khẩu, thu nhập bình
quan đầu người đã tăng lên rõ rệt. Quan hệ với bên ngoài là một đòi hỏi cấp
bách. Lúc này Malaysia bắ
t đầu quá trình công nghiệp hoá theo mô hình
hướng vào xuất khẩu, dẫn đến những thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế và
ngoại thương. Chính sách đa dạng hoá cơ cấu sản xuất được tiếp tục đẩy
mạnh. Đặc điểm nổi bật của sự biến động cơ cấu trong giai đoạn này là ở chỗ
công nghiệp tăng trưởng nhanh và phát triển nhiều ngành sản xu
ất mới. Nhu
cầu của thị trường trong nước về một số mặt hàng như xi măng, ô tô, sản
phẩm điện tử, hàng dệt, một số loại thực phẩm được thoả mãn. Điện tử được
coi là ngành chủ lực, có mức phát triển nhanh nhất vào giai đoạn này.
- Giai đoạn 3: Từ những năm 1980 đến nay (Tiếp tục công nghiệp hoá)
Sau 2 - 3 thập k
ỷ phát triển nhưng nền kinh tế vẫn mang tính rời rạc.
Các ngành sản xuất trong nước ít gắn bó chặt chẽ với nhau mà lại liên kết với
chu trình sản xuất của các công ty độc quyền xuyên quốc gia nước ngoài.
Malaysia hầu như chưa làm được gì lớn trong việc mở rộng chủng loại các
ngành công nghiệp dựa vào nguyên liệu trong nước. Bước sang những năm
1980, nền kinh tế Malaysia đứng trước đòi hỏi ph
ải có những chuyển biến
mới trong chiến lược phát triển. Kết hợp cả hai giai đoạn trước, Malaixia nhấn
mạnh trở lại xu hướng “thay thế nhập khẩu”, nhưng là thay thế nhập khẩu tư
liệu sản xuất chứ không phải hàng hoá tiêu dùng như trước đây. Trong giai
đoạn này Malaysia hướng tới xây dựng nền kinh tế hiện đại dựa trên công
nghiệp nặng sử d
ụng nhiều vốn và kĩ thuật cao. Chủ trương nhấn mạnh hơn
công nghiệp nặng của Malaixia trong những năm 1980 từ chiến lược hướng
.
Nhật Bản có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Trải qua nhiều bước thăng trầm trên công nghiệp đường phát triển giống như
toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa công nghiệp phát triển nhất của
châu Âu để giành lấy vị trí thứ hai sau Mỹ. Thu nhập bình quân đầu người của
Nhật Bản đứng thứ hai thế giớ
i, đạt 37.180 USD vào năm 2004.
Các giai đoạn phát triển
- Giai đoạn 1 (Từ cuộc cách mạng Minh Trị 1868 đến Chiến tranh thế
giới thứ nhất): Nổi bật của giai đoạn này là cải cách nền kinh tế từ phong kiến
sang tư bản chủ nghĩa. Có thể nói rằng thời đại Minh Trị đã thực sự mở đầu
cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Nhật Bả
n trên quy mô lớn. Đây được coi
là thời kỳ tạo lập nền móng cơ bản cho cuộc công nghiệp hoá. Coi trọng nhất
trong giai đoạn này là chuẩn bị cơ sở vật chất chất để đón nhận kỹ thuật mới,
trong đó, lĩnh vực tập trung phát triển là xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển
vận tải.
- Giai đoạn 2 (Từ Chiến tranh th
ế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới
thứ hai): Giai đoạn này khẳng định hoàn toàn chủ nghĩa tư bản và nền móng
công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân của Nhật Bản. Trong hai thập kỷ,
Nhật Bản đã phát huy các tiềm lực công nghiệp mà thời Minh Trị đã đặt nền
móng và được mở mang thêm. Các ngành công nghiệp nặng phát triển rất
nhanh chóng, trước hết là công nghiệ
p khai khoáng. Ngành khai thác than,
ngành điện lực cũng có bước tiến nhảy vọt.
- Giai đoạn 3 (từ chiến tranh thế giới thứ 2 đến cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới giữa những năm 1970): Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định
trong việc đưa Nhật Bản tiến lên thành một cường quốc công nghiệp thứ hai
trên thế giới sau Mỹ.
. Đất
để phát triển nông nghiệp khá hạn chế nhưng tài nguyên khá đa dạng, có than,
chì, kẽm, vonfram… với trữ lượng không lớn. Từ một vùng lãnh thổ Châu Á,
điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi, Hàn Quốc đã tập trung hướng vào
phát triển công nghiệp làm cho nền kinh tế phát triển khá nhanh. Đến nay,
Hàn Quốc là lãnh thổ phát triển có thu nhập cao.
Sau năm 1953, Hàn Quốc tách ra từ bán đảo Triều Tiên do cuộc chiến
tranh Nam - Bắc Triều Tiên và trở
thành 1 lãnh thổ dưới sự bảo trợ của Mỹ.
Điều kiện tự nhiên của Hàn Quốc không mấy thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp. Điều kiện về vị trí trung chuyển bằng đường biển là yếu tố thuận lợi
cho Hàn Quốc phát triển công nghiệp sau này. Cộng vào đó nền kinh tế dược
nguồn tài trợ lúc đầu khá lớn từ phía Mỹ. Từ đầu những nă
m 1980 đến nay,
Hàn Quốc đã bước vào hàng ngũ của những nước và vùng lãnh thổ công
nghiệp mới với tiềm năng kinh tế công nghệ khá phát triển. Là lãnh thổ công
nghiệp mới phát triển, có thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt 13.980
USD.
Các giai đoạn phát triển
- Giai đoạn những năm 1950 - 1960: Trở thành một lãnh thổ độc lập,
giai đoạn này Hàn Quốc hướng vào tái thiết kinh tế và cung cấp hàng chiế
n
tranh do Mỹ phát động. Chính quyền đưa ra kế hoạch xây dựng lãnh thổ với
mục tiêu tự cung tự cấp đầy đủ thông qua việc sử dụng các nguồn lao động và 20
tài nguyên trong nước kết hợp với viện trợ nước ngoài. Tập trung vốn cho kết
cấu hạ tầng và các ngành cần nhiều lao động. Phát triển các ngành gia công,
sản xuất hàng phục vụ chiến tranh, Hàn Quốc đã lợi dụng được lượng vốn từ
, mật độ khoảng
133 - 135 người/km
2
. Trung Quốc là một thị trường khổng lồ với nhiều tiềm
năng chưa được khai thác, rất thuận lợi cho việc đầu tư từ bên ngoài. Trung
Quốc có nền văn hóa lâu đời. Đến nay Trung Quốc còn có cả Hồng Kông và
Đài Loan làm cho năng lực kinh tế rất hùng hậu. Thu nhập bình quân đầu
người năm 2004 của Trung Quốc đạt 1.280 USD, khoảng 10.625 nhân dân tệ.
Trung Quốc phát triển từ nền kinh tế kế ho
ạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường xã hội chủ nghĩa. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế,
chuyển đổi cơ chế chính sách, từ năm 1982 Trung Quốc đã chuyển dần sang
cơ chế thị trường mang màu sắc Trung Quốc. Thành tựu về kinh tế phát triển
rất nhanh. Năm 1999, Trung Quốc đã trở thành nhà sản xuất lớn nhất trên thế
giới về các sản ph
ẩm ngũ cốc, thịt, bông, thép, than, xi măng, phân bón hoá
học và máy thu hình, là nhà phân phối đứng vị trí thứ 7 và 8 lên vị trí thứ 5 và
thứ 2 về các lĩnh vực dầu thô và điện tử vào năm 1987. Trong khi đó, vị trí
thứ hạng của Trung Quốc về sản xuất các sản phẩm trên toàn cầu ngày càng
nhích lên. 21
Các giai đoạn phát triển
- Giai đoạn trước năm 1970: Sản xuất nông nghiệp, cải cách nông thôn
Là nước nông nghiệp, Trung Quốc trải qua giai đoạn phát triển phong
kiến đặc biệt, chia cắt qua nhiều thập kỷ. Sau khi thống nhất đất nước, Trung
Quốc phát triển theo chủ nghĩa xã hội, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung như
các nước thuộc hệ thống xã hội chủ
nghĩa khác.
thổ có bước phát triển nhảy vọt, cũng đều trải qua những mô hình, giai đoạn
phát triển kinh tế chung, người ta đã nghiên cứu và tìm ra những ngành/sản
phẩm chủ lực trong những thời kỳ nhất định và đã thu được nhiều kết quả
đáng khích lệ.
Tại Malaysia, trong nhiều năm người ta đ
ã xác định phát triển nông
nghiệp là chủ lực, đặc biệt là đi lên từ cây cọ dầu và các sản phẩm được chế
biến từ nông sản, sau đó mới tập trung vào ngành công nghiệp điện tử và hiện
đang hướng vào phát triển công nghiệp nặng với trình độ kỹ thuật cao. 22
Singapore lại lấy việc phát triển cảng biển và tổ chức đào tạo nhân lực
chất lượng cao làm chủ lực phát triển cho mình, để từ đó phát triển các ngành
công nghiệp kỹ thuật cao như luyện kim, chế tạo máy, chế tạo thiết bị chính
xác cho các ngành hoá chất hoá dầu, hàng không vũ trụ, quang học, y học,
thiết bị tự động hoá, đồ chơi điện tử.
Còn Hàn Qu
ốc thì đã tiến hành chuyển từ sản xuất công nghiệp nhẹ ở giai
đoạn đầu vào những năm 1950, sang giai đoạn sau bằng công nghiệp nặng với
sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, sau đó tập trung sang nhóm ngành công nghiệp kỹ thuật
cao như điện và điện tử, công nghiệp chế tạo kim loại và chế tạo máy.
Trung Quốc là nước thành công trong việc khai thác lợi thế từ khu mậ
u dịch
tự do, khu chế xuất, khu công nghiệp duyên hải ra biển, từ đó chuyển dịch dần từ
nông nghiệp sang công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ, hiện nay đang
tập trung vào công nghiệp với công nghệ tiên tiến như công nghiệp chế tạo, điện
điện tử,… góp phần cung cấp các thiết bị hiện đại để đưa kinh tế đất nước phát triển
Nhìn chung, tu
ỳ từng điều kiện cụ thể, với những quan điểm thống nhất,
Ước
tăng
trưởng
BQ 01-
07 (%)
Tổng số 198,326.1 490,080.2 574,046.8 16.3 17.1 16.4
Phân theo loại hình kinh tế
1 Khu vực nhà nước 82,897.0 125,020.0 137,889.8 7.1 10.3 7.5
- Nhà nước trung ương 54,962.1 88,390.0 100,160.4 8.2 13.3 9.0
- Nhà nước địa phương 27,934.9 36,630.0 37,729.4 4.6 3.0 4.4
2 Khu vực ngoài nhà nước 44,144.1 175,308.6 211,870.8 25.8 20.9 25.1
3 Khu vực có vốn ĐTNN 71,285.0 189,751.6 224,286.2 17.7 18.2 17.8
Phân theo cấp quản lý
1 Công nghiệp trung ương 54,962.1 88,390.0 100,160.4 8.2 13.3 9.0
2 Công nghiệp địa phương 72,079.0 211,938.6 249,600.2 19.7 17.8 19.4 23
+ Quốc doanh địa phương 27,934.9 36,630.0 37,729.4 4.6 3.0 4.4
+ Ngoài quốc doanh 44,144.1 175,308.6 211,870.8 25.8 20.9 25.1
3 Kinh tế có vốn ĐTNN 71,285.0 189,751.6 224,286.2 17.7 18.2 17.8
(Nguồn: TC Thống kê, Ước 2007 của Bộ Công Thương)
Năm 2007 tuy gặp nhiều khó khăn nhưng dự kiến giá trị sản xuất công
nghiệp tăng khoảng 17,1% so với năm 2006. Như vậy, tốc độ tăng trưởng
Sản xuất sản phẩm khoáng phi kim
loại
9.654 11.364 14.908 19.825 23.244 27.466
13 Sản xuất kim loại 2.032 2.291 3.450 4.658 5.823 6.910
14 Sản xuất sản phẩm bằng kim loại 2.948 3.634 5.870 7.611 9.615 10.891
15 Sản xuất máy móc thiết bị 1.143 1.505 2.149 2.903 3.667 4.280
16
Sản xuất thiết bị văn phòng, máy
tính 174 212 509 543 744 1.010
17 Sản xuất thiết bị điện, điện tử 2.234 3.130 4.119 5.689 7.012 8.460
18
Sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền
thông
2.065 2.200 3.075 4.093 4.957 6.240
19 Sản xuất dụng cụ y tế, chính xác 320 351 523 683 861 1.180
20 Sản xuất sửa chữa xe có động cơ 1.984 2.988 5.991 6.801 8.964 11.380
21
Sản xuất sửa chữa phương tiện vận
tải khác
3.201 5.003 4.969 7.432 8.900 10.200
22 Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 2.462 2.917 5.577 6.935 9.248 12.260
23 Sản xuất sản phẩm tái chế 15 22 43 52 62 72
C Điện, khí đốt, nước 13.993 16.028 22.224 28.929 33.386 39.769
1 Sản xuất và phân phối điện, ga 12.690 14.666 20.404 26.595 30.856 36.649
2 Sản xuất và phân phối nước 1.303 1.362 1.820 2.334 2.530 3.120