Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh
báo cáo tổng hợp
kết quả nghiên cứu khoa học Đề tài khoa học cấp bộ năm 2008
Đề tài :
đổi mới cơ chế, chính sách KT-XH
ở các tỉnh thuộc vùng tây bắc nớc ta Cơ quan chủ trì : Học viện Chính trị Hành chính khu vực I
Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Cúc
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC
TỈNH THUỘC VÙNG TÂY BẮC NƯỚC TA THỜI GIAN QUA 45
2.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC THỜI
GIAN QUA 45
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 45
2.1.2. Tăng trưởng của các ngành 47
2.1.3. Hạ tầng cơ sở nông thôn và việc tiếp cận thị trường 49
2.1.4. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 50
2.1.5. Đầu tư FDI 51
2.1.6. Các hoạt động kinh tế vùng biên giới, xuất nhập khẩu, phát triển và hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế 51
2.1.7.
Nguồn nhân lực và lao động 52
2.1.8. Vấn đề xoá đói, giảm nghèo 53
2.2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC 55
2.2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính sách kinh tế - xã hội phát
triển các tỉnh vùng Tây bắc 55
2.2.2. Đánh giá tác động của cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội đến sự phát triển
các tỉnh vùng Tây Bắc 63
2.2.3. Các địa phương triển khai thực hiện chính sách 99
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VÙNG TÂY BẮC 102
2.3.1. Kết quả thực hiện chính sách hiện hành 102
2
2.3.2. Những hạn chế của hệ thống chính sách đang hiện hành 103
2.3.3. Nguyên nhân 103
3.3.7. Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện chính sách cho cán bộ và sử dụng
cán bộ hợp lý ở địa phương 160
3.3.8. Chính sách phát triển khoa học công nghệ 161
3.3.9. Giải pháp bảo vệ môi trường vùng Tây Bắc 164
3.3.10. Chính sách và giải pháp về tài chính và đầu tư 168
3.3.11. Đẩy mạnh mối quan hệ kinh tế liên vùng và hợp tác phát triển 171
KẾT LUẬN 175
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 176
PHỤ LỤC 178 3
DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 PGS.TS Nguyễn Cúc Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
2 GS.TS Lê Du Phong Đại học Kinh tế Quốc dân
4 GS.TS Đàm Văn Nhuệ Đại học Kinh tế Quốc dân
5 PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc Tổng Cục Thống kế
6 PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
7 PGS.TS Kiều Thế Việt Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
8 TS Nguyễn Đăng Thảo Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
9 TS Cẩm Đoàn Sơn La
10 TS Nguyễn Từ Học viện CT- HC QG HCM
11 TS Nguyễn Thị Hường Học viện CT- HC QG HCM
12 TS Đào Viết Hiền Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
13 TS Nguyễn Văn Sử Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
14 TS Nguyễn Chí Thành Văn phòng Chủ tịch nước
15 TS Đỗ Đức Quân Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
16 TS Nguyễn Thế Thuấn Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực I
bào các dân tộc sinh sống, đoàn kết gắn bó lâu đời và có truyền thống yêu nước, đấu
tranh cách mạng kiên cường chống giặc ngoại xâm.
Trong những năm qua, nhất là trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước
đã thường xuyên quan tâm đến vùng miền núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, thông qua
những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể nhằm ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Quyết định số
72 của HĐBT (nay là Chính phủ), Quyết định 186/TTg, Quyết định 138/TTg, Quyết
định 120/TTg, Ch
ương trình 135, thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc ). Nhờ đó, vùng
Tây Bắc có nhiều chuyển biến, đạt được những kết quả khả quan về phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng Đảng và phong trào
quần chúng. Trong lĩnh vực kinh tế, nổi bật nhất trong những năm qua là, tốc độ
tăng trường kinh tế đạt trung bình 11,2%, trong đó có tỉnh đạt hơn 12%; tỷ trọng
nông - lâm nghiệp gi
ảm còn 40,3%; công nghiệp - xây dựng 25,3%, dịch vụ 34,4%
trong GDP, Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, đạt 16% (năm 2005)
(Sơn La tăng 29,7%, Hoà Bình 18%, Lai Châu 16,7%). Đặc biệt, đã khởi công xây
dựng Nhà máy Thuỷ Điện Sơn La đúng kế hoạch, cùng với nhiều dự án thuỷ điện
khác cũng được khởi công xây dựng, đánh dấu bước phát triển mới trong khai thác
thế mạnh về nguồn thuỷ
năng của vùng Tây Bắc (chiếm 60% cả nước). Kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, năng lực sản xuất mới được tăng thêm. Tổng
nguồn vốn đầu tư phát triển trên toàn vùng năm 2005 tăng 25% so với năm 2004,
Thương mại, dịch vụ phát triển khá, đóng góp tích cực cho chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, cải thiện đời sống nhân dân, t
ỷ lệ đói nghèo giảm. Có những tỉnh trong vùng đã
bắt đầu sản xuất hàng hoá bằng phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và
chăn nuôi. Nạn phá rừng làm nương đã giảm, rừng đang được khôi phục, độ che
phủ đã tăng lên. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá - thông tin, phát
trọ
ng và kế thừa các tri thức bản địa trong các chương trình . Các chính sách còn
dừng ở mức vĩ mô, được áp dụng cho nhiều vùng, trong khi cần có những chính
sách đặc thù phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng. Các chương
trình, dự án chú trọng nhiều đến đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng mà chưa chú ý đúng
mức đến đầu tư cho nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, phát triể
n sản xuất để
nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân trong vùng phát triển bền vững.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn vấn đề “Đổi mới cơ chế,
chính sách kinh tế - xã hội ở các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta” làm chủ đề
nghiên cứu hy vọng có một số đóng góp vào chủ đề quan trọng này.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay ở nước ta, vấn đề đổi mớ
i chính sách kinh tế - xã hội cho các
tỉnh vùng Tây Bắc nước ta chưa được đề cập và nghiên cứu một cách đầy đủ; mặc
dù lý thuyết về phát triển vùng địa phương, xây dựng hệ thống chính sách trong phát
6
triển kinh tế vùng địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi đã được nhiều nhà kinh tế
học, các chuyên gia trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
- Vấn đề phát triển kinh tế vùng địa phương: xung quanh vấn đề phát triển
kinh tế vùng phát triển vùng đã được nhiều học giả đề cập đến, như:
+ Lý thuyết phát triển vành đai nông nghiệp của I.G.Thunen (Đức, 1833).
Lý thuyết này cho rằng: Do ảnh hưởng của thành phố (trung tâm th
ị trường), dẫn
đến phân chia lãnh thổ của một quốc gia thành các vùng sử dụng đất khác nhau. Cơ
sở của mô hình này dựa trên nguyên tắc của cực tiểu hoá chi phí và cực đại hoá lợi
nhuận. Lý thuyết này coi thành phố là những nút trọng điểm của lãnh thổ có sức ảnh
hưởng lan toả lớn.
+ Lý thuyết về điểm trung tâm của Christaller (Mỹ, 1933). Lý thuyết này cho
đến phát triển các doanh nghiệp thông qua các luật, đầu tư cơ sở hạ tầng, cung cấp
dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Quá trình phát triển nhằm tạo ra trung tâm tăng trưởng
vùng, đồng thời sẽ có tác động đến các vùng khác và các vùng khác có nguy cơ là
không được hưởng sự quan tâm và sẽ rơi vào tình trạng kém phát triển. Sau những
năm 1980, vai trò doanh nghiệp trong vùng có sự thay đổi, phát triển vùng lãnh thổ
có tính ưu tiên cao hơn và vai trò của vùng lãnh thổ theo đúng tên gọi của thự
c địa,
của môi trường. Mục tiêu bây giờ không còn tác động trực tiếp đến hoạt động của
doanh nghiệp mà tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp vào lãnh
thổ mong muốn. Từ đó vai trò hỗ trợ của chính quyền, các địa phương ngày càng
trở nên quan trọng. Chính quyền cũng phải sáng tạo để hỗ trợ, cổ vũ sự sáng tạo của
doanh nghiệp. Đồng thời, các doanh nghiệp l
ại đặt các vùng vào tình thế cạnh tranh
với nhau theo các tiêu chí như nhân công tại chỗ, dịch vụ cho các doanh nghiệp, cơ
sở hạ tầng.
Trong thực tế ở một số quốc gia cũng đã thành công với việc phát triển kinh
tế vùng, như Vùng Baden - Wurttemberd, Đức; Thành phố công nghiệp Worcester,
Masachusett, (Mỹ); Mô hình đặc khu kinh tế Thẩm Quyến và Hải Nam, (Trung
Quốc).
+ Kỳ họp thứ 53 của Đại Hội đồng LHQ tháng 11/1998, Liên Hợp Quố
c
tuyên bố lấy năm 2002 là Năm Quốc tế về Miền núi, kêu gọi Chính phủ các nước,
các tổ chức Phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế tự nguyện đóng góp và tập trung
quan tâm đến phát triển bền vững miền núi. Từ đó có nhiều dự án, đề tài nghiên cứu
về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi trên thế giới.
- Ở nước ta vấn đề xây dựng hệ thống chính sách kinh tế
- xã hội trong phát
triển các tỉnh thuộc vùng miền núi: xung quanh vấn đề này đã có nhiều hội thảo, đề
án, công trình và các học giả đề cập đến, như:
+ Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 -2010
Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - Thực trạng
và giải pháp (2002), do Hà Quế Phẩm (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà N
ội.
10. Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2005), do TS Lê Phương Thảo, PGS.TS
Nguyễn Cúc (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Ngoài ra, còn có hàng loạt các đề tài, bài viết, các cuộc Hội thảo, hội nghị
liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế - xã hội miền núi nói chung, vùng tây bắc nói
riêng, như: “Hội nghị công tác khoa giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc”;
“Hội ngh
ị đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc” của Ban chỉ
đạo Tây Bắc; Đề án “Phát triển công nghiệp vùng Tây Bắc”, và hàng loạt bài viết
khác của các tác giả trong nước có liên quan đến vùng Tây Bắc nước ta. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và tổng kết thực tiễn thực trạng cơ chế
chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta, từ đó đề xuất giải
pháp nhằm đổi mớ
i chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta
thời gian tới, thì chưa có công trình nào nghiên cứu thấu đáo. Đây chính là hướng
nghiên cứu của đề tài.
9
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận về vùng địa phương và chính sách phát triển
vùng địa phương, đặc biệt là vùng đặc thù; đề tài đã phân tích thực trạng thực trạng
cơ chế chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển các tỉnh thuộc vùng
Tây Bắc nước ta thời gian qua; từ đó, đề xuất quan điểm, giải pháp đổi m
ới cơ chế
chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc nước ta thời gian tới.
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ sau:
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ
CHÍNH SÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI PHÁT TRIỂN VÙNG
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH
1.1.1. Khái niệm chính sách
Cho đến nay chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về chính sách, ở mỗi quốc gia,
mỗi lĩnh vực, mỗi giai đoạn lịch sử có những quan niệm khác nhau về chính sách.
Theo France Ellis "chính sách được xác định như là đường lối hoạt động của
Chính phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả mục tiêu mà Chính
phủ tìm kiếm và lựa chọn phươ
ng pháp để theo đuổi mục tiêu đó".
Thmas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: “chính sách công là cái
mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm”.
Có rất nhiều khái niệm về chính sách, có thể liệt kê như sau: Chính sách là một
quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách
kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson 2003); Chính sách công là một
tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính tr
ị hay một nhóm các
nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục
tiêu đó (William Jenkin 1978); Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa
chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan
Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (William N. Dunn, 1992); Chính sách
công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin 1971);
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà n
ước có ảnh hưởng một cách trực
tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B. Guy Peter 1990);
Theo Charles O. Jones (1984), chính sách công là một tập hợp các yếu tố gồm:
chung, mang tính tối cao của đất nước.
- Chính sách không chỉ thể hiện kế hoạch của các nhà hoạch định chính sách
mà còn bao gồm những hành vi thực hiện những kế hoạch trên.
- Chính sách của nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của nhiều người
hoặc của xã hội.
- Chính sách là một quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia.
- Chính sách có phạm vi tác động rộng lớn. Chính sách có thể tác động đến
mọi l
ĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thể hiện sự cần thiết can thiệp của nhà
nước trong các lĩnh vực đó.
Khái quát các đặc trưng trên đây, có thể quan niệm: Chính sách là tổng thể
các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng tác động
lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định theo
hướng mụ
c tiêu tổng thể của đất nước. So với luật pháp, chính sách có độ co giãn
và mềm dẻo, khi đó chính sách là sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhân tố chủ quan với
các điều kiện khách quan.
Nội hàm của chính sách là các quan điểm định hướng đến mục tiêu, hệ thống
giải pháp, biện pháp và các công cụ tác động của Nhà nước. Hệ thống giải pháp,
12
biện pháp và các công cụ đó nhằm điều chỉnh các hoạt động của các chủ thể trong
nền kinh tế - xã hội, tương thích với từng thời gian và đối tượng quản lý nhất định.
Những yếu tố cơ bản của chính sách bao gồm:
- Chủ thể của chính sách: cơ quan nào chịu trách nhiệm.
- Mục tiêu của chính sách: mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể.
- Đối tượng tác động của chính sách: ai là ngườ
i thụ hưởng.
- Công cụ và phương tiện để thực hiện chính sách: sử dụng cách thức tác
động gì, thông qua hình thức nào.
13
mở cửa và hội nhập, nếu một quốc gia không có những quyết sách đối ngoại đúng
đắn thì sẽ bị cô lập và tụt hậu.
+ Chính sách an ninh, quốc phòng, bao gồm các chính sách an ninh và các
chính sách quốc phòng. Đó là những chính sách hướng vào việc tăng cường tiềm
lực quốc phòng, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho công
cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Theo phạm vi ảnh hưởng và quy mô tác độ
ng, có thể chia chính sách thành:
+ Chính sách vĩ mô, là những chính sách được xây dựng nhằm vận hành nền
kinh tế quốc dân, có tác động đến những cân đối tổng thể (vĩ mô) của nền kinh tế -
xã hội, chi phối nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng đến lợi ích của đông đảo nhân dân.
Các chính sách vĩ mô thường có hiệu lực thực thi trên phạm vi cả nước. Ví dụ,
chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, tín dụng, chính sách phân phối, chính sách
kinh tế đối ngo
ại được coi là những chính sách vĩ mô quan trọng nhất.
+ Chính sách trung mô, là những chính sách có quy mô tác dụng lên những
bộ phận hay phân hệ của xã hội. Ví dụ như chính sách điều tiết cơ cấu của một ngành
kinh tế, chính sách phát triển cơ cấu thành phần kinh tế, chính sách phát triển vùng,
chính sách cấp tỉnh.
+ Chính sách vi mô là những chính sách tác động lên những chủ thể kinh tế -
xã hội cụ thể như các đơn vị cơ sở hay nhóm người riêng biệ
t trong xã hội. Các
chính sách vi mô bao gồm chính sách nhân sự tài chính doanh nghiệp, chính sách
thi tuyển công chức Ngay cả những chính sách như chính sách công nghiệp, chính
sách nông nghiệp cũng có thể được coi là chính sách vi mô vì điều tiết hoạt động
của các doanh nghiệp, các hộ, các cá nhân.
Tuy nhiên, mọi sự phân loại chỉ là tương đối. Chẳng hạn có quan điểm cho
rằng các chính sách ngành vừa là chính sách trung mô vừa là chính sách vi mô.
Trong thực tế, người ta thường nhắc đến chính sách vĩ mô và chính sách vi mô
song đều có ảnh hưởng đến lĩnh vực khác, do vậy để đem lại hiệu quả cao cần đảm
bảo tính hệ thống, tính đồng bộ và tính thực tiễn trong hoạch định chính sách kinh
tế
nhằm "cộng hưởng" các tác động đồng hướng, hạn chế các tác động ngược chiều
giữa các chính sách.
1.1.3. Quy trình ban hành và tổ chức thực hiện chính sách
Có thể nói, chính sách công gắn chặt với bản chất Nhà nước, nền tảng của
chính sách công là các chức năng của Nhà nước, cụ thể là tính chính trị với vai trò
cân bằng của các nhóm lợi ích, sự can thiệp của Nhà nước vào các thất bại thị
trường và sự th
ể hiện trong các quy định. Trên nền tảng đó, thiết kế chính sách công
thực chất là việc giải quyết vấn đề, dưới một loạt các ảnh hưởng, điều kiện đã nêu trên.
Chính sách thành công hay thất bại phụ thuộc vào việc có giải quyết được vấn đề hay
không.
Các mô hình thể hiện quá trình hoạch định và thực hiện chính sách công như
mô hình M.Guns (1966) và mô hình K.John (1970). Trong đó K.John đã đưa ra mô
hình cụ thể về m
ột quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, bao gồm các hoạt
động: hoạch định, thể chế hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện [ 43, tr. 30].
15
Nghiên cứu và chuẩn bị
Bao gồm các bước hình thành ý tưởng,
nghiên cứu, điều tra thu thập, xử lý
thông tin, tham khảo kinh nghiệm
Ban hành chính sách
Dự thảo, soạn thảo lấy ý kiến, thẩm tra,
đánh giá, lựa chọn, thông qua và ra
chính sách
Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám
ực hiện quản lý hành chính; xã hội học coi “vùng” là khu tụ cư có đặc trưng xã
16
hội tương đồng của một loại người nào đó (ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc, văn hoá).
Trong một số trường hợp, chưa phân biệt rõ ràng các thuật ngữ “vùng” “địa bàn”,
“khu vực”, “miền”, “đới”, “dải”, Mặc dù vậy, đa số ý kiến cho rằng vùng là một
bộ phận của lãnh thổ quốc gia, có đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù có thể
phân biệt vùng này với các vùng khác. Vùng nói chung có những dấu hi
ệu đặc trưng
sau đây:
Thứ nhất, vùng là một thực thế khách quan, chứ không phải do con người
“thiết kế”, “sáng tạo” ra để phục vụ cho mục đích riêng của mình.
Thứ hai, vùng là một không gian địa lý - một lãnh thổ xác định, thuộc quyền
sở hữu của một quốc gia. Các lãnh thổ này có vị trí, hình dàng, kích thước và quy
mô xác định. Vị trí của từng vùng được xác định qua hệ trục toạ độ
, qua sự tiếp giáp
với các địa danh hành chính hay tự nhiên. Mỗi vùng cũng có hình dáng, kích thước
chiều dài, chièu rộng xác định. Vùng có nhiều cấp theo quy mô (quy mô về diện
tích, dân số, quy mô về các hoạt động kinh tế - xã hội, ). Quy mô và số lượng vùng
có sự thay đổi theo các giai đoạn phát triển khác nhau.
Thứ ba, vùng là một thực thể khách quan, trong đó tồn tại những yếu tố tự
nhiên (đất đai, khí hậu, động thực vật, tài nguyên, khoáng sản, nguồ
n nước, địa
hình, sống hồ, thảm động thực vật, ); các yếu tố xã hội (dân cư, nguồn lao động,
dân tộc, văn hoá, lịch sử, ) các yếu kinh tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp,
giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ, và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
các hoạt động kinh tế đó). Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đó là các yếu t
ố cấu
thành nên vùng.
Thứ tư, các yếu tố cấu thành nên vùng có sự tương đối đồng nhất bên trong
kiện công nghệ và kỹ thuật, thậm chí phù hợp với cả tâm lý dân tộc và khiếu thẩm
mỹ vốn có của các cộng đồng người.
Xét một cách tổng thể, mục tiêu tác động của con người vào hệ thống vùng
nói chung, từng vùng nói riêng là bố trí nhằm khai thác, sử dụ
ng các nguồn lực của
các vùng lãnh thổ một cách hợp lý nhằm đạt được sự phát triển nhanh, mạnh và bền
vững (cả về kinh tế - xã hội và môi trường) của mỗi vùng trên cơ sở bảo đảm sự cân
đối và hài hoà giữa các vùng trong toàn bộ hệ thống lãnh thổ của quốc gia.
Xét từ quan điểm kinh tế, tác động của con người vào hệ thống vùng trong quá
trình phát triển phải nhằm đạt được hi
ệu quả tối ưu cho xã hội, tức là phải sử dụng
hiệu quả các nguồn lực khan hiếm đối với toàn bộ hệ thống các vùng của quốc gia.
Như vậy, vùng là một bộ phận lãnh thổ của nền kinh tế quốc dân, có cơ cấu
khá phức tạp và tổng hợp, có thể hoạt động một cách độc lập (tuy rằng, tất nhiên,
trong hầu hết các trường hợ
p thực tế, các vùng luôn có mối quan hệ chặt chẽ và hữu
cơ với các vùng còn lại của nền kinh tế). Vùng là đối tượng của tổ chức lãnh thổ
kinh tế - xã hội, là công cụ không thể thiếu trong việc hoạch định các chiến lược, kế
hoạch và chính sách phát triển của nền kinh tế quốc gia và là đơn vị để chúng ta
quản lý các quá trình phát triển của quốc gia trên lãnh thổ bảo đảm sự thống nh
ất
trong đa dạng
18
1.2.1.2. Phát triển vùng
Phát triển vùng, địa phương là tìm cách pháp huy các mặt mạnh, tìm kiếm và
tạo ra những thế mạnh mới, tạo ra các giá trị gia tăng trên phương diện kinh tế xã
hội, văn hoá, cơ sở hạ tầng, tài chính, môi trường, con người
Phát triển vùng còn được hiểu đó là việc đề ra cho lãnh thổ một chiến lược
phát triển; chiến lược này sẽ thường xuyên được đánh giá và định nghĩa lại theo sự
vấn đề rộng lớn hơn so với phát triển kinh tế vùng, bởi còn bao gồm cả phát triển cộng
đồng, phát triển xã hội và các chương trình sáng kiến khác.
19
Phát triển kinh tế vùng cần hướng tới mối quan hệ giữa chính quyền với khu
vực tư nhân và các tổ chức phi lợi nhuận cùng với cộng đồng dân cư ở địa phương.
Phát triển kinh tế vùng tập trung vào khả năng nâng cao cạnh tranh và sự tăng
trưởng bền vững. Phát triển kinh tế vùng bao gồm nhiều hoạt động như xây dựng kế
hoạch tổng thể, chính sách marketing, các chương trình phát triển kinh t
ế. Nó cũng
bao gồm nhiều chức năng khác nhau của chính quyền địa phương và khu vực tư nhân
như lập kế hoạch, cung cấp cơ sở hạ tầng, phát triển bất động sản và tài chính. Phát
triển kinh tế vùng tập trung vào việc nâng cấp môi trường đầu tư tại địa phương đó
nhằm tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao thu nhập ngân sách của địa phương.
Thứ tư, phát tri
ển kinh tế vùng không chỉ liên quan tới việc thu hút doanh
nghiệp mà còn liên quan tới việc phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh nhằm nâng cao
tính cạnh tranh của doanh nghiệp và khuyến khích sự hình thành các doanh nghiệp
mới. Một trong những chiến lược chính là tập trung vào năng lực chính và chuyển
giao ra ngoài những công việc không mang lại lợi thế cạnh tranh cho họ. Điều này
làm tăng cầu tại địa phương cho các nhà cung cấp, các tổ chức cung cấp dịch vụ và
các tổ chức hỗ trợ. Sự cạnh tranh giữa các vùng xuất hiện, do muốn giữ chân hoặc
thu hút những doanh nghiệp nhằm tăng nguồn thu thuế và tạo việc làm.
Do đó phát triển kinh tế vùng không chỉ liên quan đến việc hội nhập với thị
trường bên ngoài mà còn liên quan tới sự xoá bỏ những lỗ hổng bên trong tại vùng
đó, nghĩa là khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm những nhà cung cấp khách
hàng ngay tại địa phương c
ủa mình, tạo ra sự hợp tác nhằm gia tăng cơ hội kinh
doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.
Phát triển kinh tế vùng khác với phát triển kinh tế quốc gia ở một số khía
lực đã làm nảy sinh hai vấn đề: một mặt tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế tại
vùng phát triển thông qua chuyển địch nguồn lực từ các vùng khác làm tiềm năng
sản xuất của vùng này được tăng lên và qua đó thu hút đầu tư, mặt khác làm giảm
tiềm lực và sự hấp dẫn thu hút đầu tư của các vùng còn lại dẫn đến chênh lệch về
phát triể
n kinh tế xã hội giữa các vùng. Sự hình thành hai thái cực phát triển đó nếu
không được can thiệp bằng các biện pháp kinh tế hữu hiệu sẽ gây lãng phí nguồn
lực cho phát triển do không tận dụng được các nguồn lực này một cách tối đa gây
nên những áp lực lớn về kinh tế xã hội. Để giải quyết vấn đề này các quốc gia đã
thực hiện các biện pháp chính sách khác nhau tuỳ theo điều kiện phát triể
n của mỗi
nước, nhưng với mục đích chung là tạo cho các vùng có cơ hội phát triển kinh tế một
cách toàn diện chứ không chỉ giới hạn ở một ngành hay một lĩnh vực kinh tế nào.
Chính sách phát triển vùng là tổng thể các biện pháp được thực hiện nhằm
hỗ trợ phát triển và kích thích các hoạt động kinh tế - xã hội trong một vùng nhất
định có khó khăn về phát triển kinh tế - xã hội do nhiề
u nguyên nhân gây ra trong
đó có hậu quả của chuyển đổi cơ cấu. Qua đó tạo ra điều kiện thuận lợi hơn cho
phát triển kinh tế - xã hội, giảm bớt những bất lợi về địa lý, phát huy tiềm năng của
vùng để đạt được các mục tiêu của nó.
Chính sách phát triển vùng là một bộ phận của chính sách của quốc gia nên
mục tiêu của nó phải nằm trong mục tiêu phát triển kinh t
ế xã hội của một nước tuỳ
thuộc vào những yêu cầu và mục tiêu phát triển của nước đó. Tuy nhiên, do tình
21
hình phát triển, điều kiện tự nhiên và xã hội, của mỗi nước khác nhau nên mục tiêu
chính sách phát triển vùng cũng không đồng nhất giữa các nước. Chính sách phát
triển vùng có đặc điểm là hướng tới huy động tối đa các nguồn lực của tất cả các yếu
tố cho phát triển, trước hết ưu tiên khai thác và khuyến khích phát triển các tiềm năng
phát triển vùng hỗ trợ các hoạt động tạo ra vi
ệc làm mới, ổn định việc làm đã có
trong các vùng, hỗ trợ các hoạt động đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao
động. Đối với mục tiêu ổn định của chính sách phát triển vùng thì con người là đối
tượng và tư bản là công cụ để đạt được mục tiêu. Có thể nói nguyên nhân chính dẫn
22
đến di chuyển lao động giữa các vùng chính là do khác nhau về mức tiền lương thực
tế, do thiếu việc làm, vì vậy mục tiêu ổn định góp phần ổn định xã hội trong vùng.
Ba là, mục tiêu phân phối thu nhập và cân đối sự phát triển: Mục tiêu này
nhằm nâng cao mức sống của người dân và giảm chênh lệch về thu nhập giữa các
vùng. Chính sách phát triển vùng giúp tạo ra sự cung cấp đồng đều hơn kết cấu hạ
tầ
ng cho các vùng và tạo sự phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng.
Do tác động ngoại lai nên ba mục tiêu trên của chính sách phát triển vùng
thường không đạt được trong cơ chế thị trường. Xét dưới góc độ không gian các tác
động ngoại lai thường nảy sinh do sự tập trung các nguồn lực dẫn đến hình thành
các trung tâm công nghiệp và đô thị lớn. Bên cạnh những ưu điểm như có kết cấu hạ
tầng tốt, thị trườ
ng tiêu thụ rộng lớn các trung tâm này còn có những nhược điểm
như tình trạng ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, sức ép về mật độ dân số,
v.v Hơn nữa, sự tập trung nguồn lực quá mức dẫn đến không khai thác một cách
hiệu quả các yếu tố sản xuất, đồng thời còn là nguyên nhân gây ra sự khác nhau về
thu nhập với các vùng còn lại, qua đó gây mất cân đối về cơ cấu kinh tế vùng và nả
y
sinh nhiều vấn đề xã hội. Do vậy để giải quyết mặt trái này của cơ chế thị trường tự
do, chính phủ các nước đã can thiệp bằng cách thực hiện chính sách kinh tế vùng
nhằm bảo đảm đạt được ba mục tiêu trên.
Các biện pháp của chính sách kinh tế vùng đóng vai trò là phía cung tạo ra
động lực hỗ trợ cho toàn bộ hoạt động kinh tế trong vùng thông qua các công cụ hỗ
ứng cho quá trình phát triển trong khi dư thừa sức lao động.
- Là m
ột trong các nguyên nhân tác động tiêu cực đến quá trình chuyển địch
cơ cấu trong nền kinh tế nói chung, cơ cấu ngành và vùng nói riêng.
Trước những vấn đề nảy sinh trên các nước ASEAN đã sửa sai bằng cách
thực hiện nhiều biện pháp chính sách khác nhau với mục tiêu chung đó là thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế tại vùng nghèo, giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng
và ngăn chặn tình trạng di dân quá nhiều từ nông thôn ra thành thị, từ các vùng
nghèo tới các đ
ô thị giàu hơn, phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Cái giá mà các
nước này phải trả để sửa sai là không nhỏ nhưng không phải nước nào cũng thành
công với chính sách của mình. Sau đây là kinh nghiệm về phát triển vùng của một
số nước điển hình trong khối ASEAN, các biện pháp chính sách mà các nước đó đã
và đang thực hiện nhằm tiếp cận các mục tiêu của chính sách kinh tế vùng.
1.2.2.2.1. Thái Lan
Trong hơn 3 thập kỷ, Thái Lan đã trải qua thời k
ỳ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tập trung thực hiện chính sách công nghiệp hóa nhanh theo mô hình “tăng trưởng
theo cực” với những hoạt động và thành tựu kinh tế tập trung phần lớn ở thủ đô
Băng Cốc và các tỉnh xung quanh. Vùng thủ đô Băng Cốc chỉ chiếm 16,1% tổng
dân số, nhưng chiếm tới 51,8 GDP của cả nước vào năm 1991. Bình quân GDP trên
đầu người của vùng này cao gấp 5,6 lần so vớ
i vùng Đông Bắc là vùng nghèo nhất
Thái Lan. Nhằm điều chỉnh sự mất cân đối đó, từ những năm 90, Chính phủ Thái
Lan đã có nhiều biện pháp như: Thực hiện chính sách phát triển vùng để khuyến
khích thiết lập các cơ sở công nghiệp tại các vùng nghèo, nhằm giảm bớt sự chênh
24
lệch về phát triển giữa các vùng, mặt khác, vẫn duy trì sự quản lý tập trung, đặc biệt
tập trung đầu tư dịch vụ công cộng cho thủ đô Băng Cốc, thực hiện chính sách nông
kinh tế kết hợp thực hiện chính sách xã hội nh
ư chương trình xóa đói, giảm nghèo,
áp dụng chính sách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo
thêm việc làm, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công nghệ sản xuất cần
nhiều lao động, đẩy mạnh phát triển công-nông nghiệp ở nông thôn
Năm 1981, Luật đầu tư của Philipin đã khuyến khích thành lập doanh nghiệp
tại các vùng kém phát triển dưới hai dạng: Cung cấp tín dụng có giá trị bằng 100%