Bộ khoa học và công nghệ
Trung tâm nghiên cứu và phát triển vùng Báo cáo tổng hợp Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế và Một số
mô hình ứng dụng khoa học công nghệ
Tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
6390
29/5/2007
1
Phần thứ nhất: cơ sở lý luận của việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở quy mô cấp huyện
I. khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
4
II. vận dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện ở nớc ta.
5
Phần thứ hai: điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên phục
vụ phát triển kinh tế xã hội huyện phú bìnhI. vị trí địa lý.
16
II. tài nguyên thiên nhiên.
16
III. dân số và nguồn nhân lực.
21
Phần thứ ba: đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế huyện phú bình giai đoạn 2001 - 2005I. tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
23
II. đánh giá thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
24
1. Ngành nông lâm ng nghiệp.
24
2. Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng. 31
48
III. phơng án chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phú bình giai đoạn
2006 - 2010.
48
IV. định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
55
1. Định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ. 55
2. Định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các ngành kinh tế. 56
Phần thứ năm: đề xuất những giải pháp thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở huyện phú bình I. Giải pháp về khoa học, công nghệ.
65
II. Giải pháp về cơ chế, chính sách.
67
IIII. Giải pháp về vốn đầu t.
71
IV. Giải pháp về thị trờng và tiêu thụ sản phẩm.
73
V. giải pháp về tăng cờng xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật.
74
VI. giải pháp về nguồn nhân lực.
76
VII. đề xuất một số mô hình, dự án góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở huyện phú bình
giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ thơng mại để thúc
đẩy sự tăng nhanh GDP. Đồng thời việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không
chỉ tăng về lợng và chiều rộng mà phải tăng cả về chất và chiều sâu.
ở nớc ta, trong những năm gần đây, nền kinh tế đã có bớc phát triển, tốc
độ tăng bình quân GDP xếp thứ hai ở châu
á
, sau Trung Quốc. Việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tuy còn chậm nhng đã có bớc phát triển theo hớng tích cực.
Về chiến lợc phát triển kinh tế ở nớc ta trong thế kỷ 21, một số nhà
nghiên cứu cho rằng khi kinh tế ở vùng đồng bằng, đặc biệt các vùng kinh tế
trọng điểm đã đạt mức phát triển ổn định thì sẽ phải khai thác tối đa hai hớng
tăng trởng đó là kinh tế miền núi và kinh tế vùng biển. Trong các cuộc chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nớc ta đã coi miền núi là hòn ngọc của đất
nớc thì hiện nay, mai sau sự đánh giá đó mãi mãi đúng vì ý nghĩa kinh tế, quốc
phòng và môi trờng của miền núi đối với cả nớc.
Tỉnh Thái Nguyên là một trong các tỉnh khó khăn, huyện Phú Bình lại là
một trong những huyện khó khăn của tỉnh. Thực hiện đề tài này góp phần xác lập
cơ sở khoa học cho việc phát triển nhanh về kinh tế, ổn định về xã hội tạo tiền đề
bền vững về môi trờng huyện Phú Bình. Đồng thời cũng là thực hiện ý kiến chỉ
đạo trực tiếp của các đồng chí Lãnh đạo Bộ về việc triển khai ứng dụng tiến bộ
khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế hội các tỉnh khó khăn.
Với những đặc điểm nêu trên, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đề xuất một số mô hình ứng dụng khoa học - công
nghệ phát triển nông nghiệp, nông thôn cho huyện Phú Bình là hết sức cần thiết
để góp phần phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của ngời dân, góp phần thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn. Đó cũng là chủ trơng lớn và cơ hội mới để Thái Nguyên có điều kiện đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế, bắt nhịp phát triển chung của đất nớc. Nhng để
thực hiện quyết định này cần có sự nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mô hình cấp huyện nhằm rút ra cơ sở khoa học và
cha đợc đẩy lùi; ngành nghề nông thôn phát triển chậm, giải quyết việc làm
cho nông thôn còn nhiều hạn chế, cơ cấu lao động phân công cha hợp lý; chất
lợng tay nghề kỹ thuật của ngời lao động và tỷ lệ lao động qua đào tạo rất
thấp. Đời sống của một bộ phận nông dân gặp nhiều khó khăn. Đầu t của Nhà
nớc vào các lĩnh vực để phát triển kinh tế xã hội còn nhỏ so với yêu cầu (nhu
cầu đầu t của huyện năm 2005 là 200 tỷ đồng nhng tổng thu ngân sách trên
địa bàn là 7 tỷ đồng).
Với những đặc điểm nêu trên thì việc nghiên cứu giải pháp để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế có hiệu quả ở huyện Phú Bình là hết sức cần thiết góp phần phát
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -3-
triển sản xuất, nâng cao đời sống của ngời dân, thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Mục tiêu của đề tài:
1 - Bổ sung cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế huyện Phú
Bình - Thái Nguyên.
2 - Xây dựng đợc các phơng án và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế
có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn của huyện Phú Bình - Thái Nguyên và
có tính khả thi cao.
3 - Đề xuất một số mô hình, dự án ứng dụng khoa học công nghệ góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện từng bớc
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn huyện Phú Bình - tỉnh
Thái Nguyên.
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Nội dung 1: Cơ cở lý luận chung của đề tài.
- Nội dung 2: Phân tích và đánh giá hiện trạng kinh tế - x hội huyện
Phú Bình.
- Nội dung 3: Định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình
giai đoạn 2006 2010 và tầm nhìn 2020.
ngành, cơ cấu kinh tế theo vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. Các bộ phận hợp
thành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò
quyết định. Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu thành phần kinh tế
đều phải chỉ rõ làm cái gì và sản xuất bao nhiêu là có hiệu quả kinh tế nhất.
Việc lựa chọn cơ cấu kinh tế, không hợp lý sẽ dẫn đến hậu quả là hiệu quả
kinh tế thấp, sức cạnh canh của nền kinh tế yếu, thậm chí gây tổn thất cho nền
kinh tế và nghiêm trọng hơn sẽ làm cho nền kinh tế bị khủng hoảng. Chính vì
vậy, việc lựa chọn một cơ cấu kinh tế, hợp lý là một việc làm rất cần thiết và
quan trọng.
Trong lịch sử kinh tế và kinh tế phát triển ngời ta chú ý đến sự quan trọng
tơng đối của các ngành và các khu vực kinh tế về mặt sản lợng và sử dụng các
nhân tố sản xuất (nguồn lợi tự nhiên, vốn và lao động). Sự thay đổi của cơ cấu
kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trờng phát
triển đợc gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cũng có ý kiến cho rằng nên
dùng cụm từ chuyển đổi thay cho cụm từ chuyển dịch, bởi vì chuyển dịch thể
hiện sự tịnh tiến mà không thể hiện sự cách mạng trong cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nghĩa là biến một nền kinh tế phát triển một
cách tự phát, với cơ cấu tuỳ tiện thành một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý,tính hiệu
quả cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và có sản lợng hàng hoá lớn,
có tính cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Nh thế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
chính là giải pháp để biến nền kinh tế hiệu quả thấp thành nền kinh tế có hiệu
quả cao mà trọng tâm của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế phải thực hiện
công nghiệp hoá. Nếu hiểu theo nghĩa cơ cấu kinh tế là thành phần của một tổng
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -5-
hợp, nó tác động đến các thành phần khác thì thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá
là để thoả mãn nhu cầu nông lâm nghiệp và dịch vụ thơng mại.
Theo H. Chenery (1998) chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ
cấu kinh tế và cơ chế cần thiết cho sự tăng trởng liên tục của sản phẩm quốc
sử dụng ngày một tốt tài nguyên của đất nớc. Phải chuyển ngành dịch vụ -
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -6-
thơng mại từ nhỏ bé, lạc hậu, manh mún và tự phát sang một nền dịch vụ -
thơng mại phát triển có hệ thống, theo hớng văn minh, hiện đại.
Trong 5 năm qua 2000 - 2005 nền kinh tế nớc ta đã có nhiều chuyển biến:
tổng sản phẩm nội địa tăng 1,89 lần. Tích luỹ nội bộ nền kinh tế từ mức không
đáng kể, đến năm 2005 đạt khoảng trên 30% GDP. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã
hội phát triển nhanh. Cơ cấu kinh tế có bớc chuyển dịch tích cực, tỷ trọng nông
nghiệp từ 38,7% giảm xuống còn 20,89%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7%
tăng lên 41,03%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 5 năm là 16,2%.
Riêng trong nông lâm nghiệp ở nớc ta trong 5 năm gần đây (2000-2005)
đã có những chuyển biến sâu sắc thể hiện ở các mặt:
- Diện tích sản xuất lơng thực giảm, nhng năng suất, sản lợng tăng đảm
bảo an ninh lơng thực, tăng khối lợng và giá trị xuất khẩu. Diện tích gieo trồng
lúa giảm nhng năng suất sản lợng tăng đảm bảo an ninh lơng thực, tăng khối
lợng và giá trị xuất khẩu. Diện tích gieo trồng lúa năm 2005 giảm 340 ngàn ha
so với năm 2000, năng suất tăng từ 42,4 tạ/ha lên 48,9 tạ/ha. Sản lợng tăng từ
32,5 triệu tấn lên 35,7 triệu tấn.
- Cây công nghiệp xuất khẩu tăng cả diện tích và sản lợng: cao su 480,2
ngàn ha tăng 68,2 ngàn ha. Sản lợng mủ khô 468,6 ngàn tấn, tăng 177,8 ngàn
tấn. Điều đạt 328 ngàn ha, tăng 128,8 ngàn ha, sản lợng 232 ngàn tấn tăng
164,4 ngàn tấn. Hồ tiêu 50 ngàn ha, tăng 21,2 ngàn ha, sản lợng 77 ngàn tấn,
tăng 37,8 ngàn tấn. Chè 118,4 ngàn ha, tăng 30,7 ngàn ha, sản lợng 534,2 ngàn
tấn, tăng 219,5 ngàn tấn.
- Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 21,1% năm 2002 lên 33,4%
năm 2005. Trong đó đàn bò tăng 6,6%, lợn tăng 23%, gia cầm tăng 30%, sản
lợng thịt hơi tăng 28%.
- Tỷ lệ che phủ của rừng tăng từ 33,2% năm 2000 lên khoảng 37,4% năm
hình kinh tế thị trờng có điều tiết theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH - HĐH phải chủ động
sản xuất hàng hoá, dịch vụ thay thế nhập khẩu hớng tới xuất khẩu.
- Cần tập trung đầu t để chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển ở những vùng
kinh tế thuận lợi, có hiệu quả kinh tế cao để xây dựng thành các vùng trung
tâm thu hút, lôi cuốn thúc đẩy các vùng khác phát triển. Đồng thời chú ý
đúng mức đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng khó khăn, nghèo đói để
từng bớc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho sự ổn định
chính trị, xã hội. Trên cơ sở đó, dùng sức mạnh của các vùng khá, giàu, ngân
sách Nhà nớc, khuyến khích đầu t trong và ngoài nớc để chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở các vùng khó khăn
- Bớc đi đầu tiên là u tiên phát triển các ngành vốn đầu t ít nhng tạo
nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh. Sau đó phát triển các ngành yêu cầu
hàm lợng chất xám cao hơn. Theo cách này, cần tiến hành chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành theo hớng phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, công
nghiệp chế biến nông lâm sản, phát triển nông nghiệp để thúc đẩy mạnh
xuất khẩu, bảo đảm an toàn lơng thực, có đủ nguyên liệu cho công
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -8-
nghiệp. Phát triển mạnh các ngành kinh tế dịch vụ, coi trọng các ngành
công nghiệp nặng phục vụ công nghiệp chế biến và nông nghiệp.
II.2 - Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc xây dựng mô hình cơ cấu kinh tế hợp lý theo hớng CNH - HĐH dựa
trên những quan điểm, phơng hớng chủ yếu sau:
- Quan điểm phát triển toàn diện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Phải coi trọng quan điểm phát triển toàn diện về kinh tế, xác định hợp lý
tỷ lệ phát triển của các ngành một cách đồng bộ, cân đối. Khắc phục tình trạng
phân tán, trong phân bổ vốn đầu t. Vấn đề quan trọng là khai thác nội lực để tập
Cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, kết hợp chặt
chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, các bộ
phận hợp thành có quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt
lợng và liên quan chặt chẽ về mặt chất, phù hợp với những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn.
Kinh tế nông thôn đợc phân biệt với kinh tế thành thị không đơn thuần ở
đặc trng ngành kinh tế mà ở đặc trng vùng lãnh thổ. Kinh tế nông thôn bao gồm
các hoạt động sản xuất và dịch vụ đợc thực hiện trên địa bàn nông thôn bất kể đó
là nông nghiệp hay phi nông nghiệp. Nh vậy quan điểm đồng nhất kinh tế nông
nghiệp với kinh tế nông thôn là không hợp lý. Tất nhiên khi nói kinh tế nông thôn
thì nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản là những bộ phận chủ yếu, song điều đó
không có nghĩa là kinh tế nông thôn không bao gồm công nghiệp, xây dựng và
dịch vụ. Nếu nh trớc đây, nông nghiệp là đặc trng cơ bản của kinh tế nông
thôn thì ngày nay với sự phát triển của khoa học - công nghệ và phân công lao
động xã hội, tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn đang có xu
hớng giảm dần, một cơ cấu kinh tế mới đang hình thành chi phối quá trình vận
động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông thôn. Do vậy khi xem xét cơ cấu kinh tế
nông thôn phải thấy đợc tính chất tổng hợp trong các yếu tố cấu thành hệ thống
trên các mặt chủ yếu sau:
+ Cơ cấu ngành sản xuất và dịch vụ
+ Cơ cấu các thành phần kinh tế
+ Cơ cấu vùng lãnh thổ.
Quá trình xác lập cơ cấu kinh tế nông thôn là quá trình giải quyết các mối
quan hệ tơng tác giữa các bộ phận cấu thành dới sự tác động của các lực lợng
sản xuất và quan hệ sản xuất giữa tự nhiên và con ngời trong những điều kiện
cụ thể về thời gian và không gian. Do vậy cơ cấu kinh tế nông thôn là thớc đo
trình độ phát triển của nền kinh tế ở mỗi địa phơng và trong một chừng mực
nhất định còn phản ánh tính chất văn minh của xã hội. Cho nên chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn phải đợc đặt trong tổng thể kinh tế xã hội chung của tỉnh
và đất nớc.
thuật và công nghệ hiện có, hiện đại hoá kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đi tắt
đón đầu kỹ thuật và công nghệ hiện đại.
- Chú trọng áp dụng công nghệ có hiệu quả về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và
môi trờng. Đó là những công nghệ đầu t vốn không cao nhng lại tạo đợc
nhiều việc làm, không làm ảnh hởng đến môi trờng.
- Trong quản lý quá trình phát triển kinh tế - xã hội thực hiện cải tiến
phơng pháp tổ chức sản xuất và lao động.
II.3.4 - Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:
Yêu cầu cho bớc chuyển đổi cơ cấu kinh tế huyện nh sau:
Tỷ trọng ngành trong cơ cấu kinh tế
- Nông nghiệp giảm dần
- Công nghiệp - xây dựng tăng nhanh.
- Thơng mại - dịch vụ tăng.
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -11-
Lao động: Tạo việc làm
- Lao động nông nghiệp giảm
- Lao động phi nông nghiệp tăng
- Lao động nông thôn chủ yếu có việc làm tại
chỗ. Một bộ phận rời ra đô thị, thị trấn, thị tứ.
Đô thị hoá
- Vừa xây dựng tập trung vừa phân tán.
- Phát triển các thị tứ ở cụm xã.
Vốn
- Huy động từ nội lực
- Thu hút đợc vốn trong và ngoài nớc
- Tích luỹ từng bớc tăng lên.
Là cấp hành chính, huyện quản lý Nhà nớc trên phần lãnh thổ đã đợc
hoạch định về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng. Riêng về kinh tế, trên địa
bàn của huyện có những đặc điểm chung và riêng chi phối hoạt động của huyện
trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Những đặc điểm đó là:
- Nền kinh tế ở các huyện miền núi, nhất là các huyện miền núi đặc biệt
khó khăn nông lâm nghiệp còn có tỷ trọng lớn, khoảng 90-92% số dân sống ở
nông thôn. Vì vậy huyện có vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trong đó:
+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự chuyển đổi từ lợng đến
chất trong từng lĩnh vực của nông nghiệp. Quy tụ lại là chuyển từ sản lợng sang
giá trị sản lợng trong trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp.
+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự chuyển đổi về tỷ trọng
giữa các ngành trồng trọt chăn nuôi lâm nghiệp và dịch vụ. Trong quá trình
chuyển dịch này, xu hớng phải giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng
chăn nuôi, đặc biệt phải tăng nhanh dịch vụ nông nghiệp, hiện nay tỷ trọng này
còn quá thấp khoảng 2-4%. Kinh tế nông thôn phải phát triển mạnh công nghiệp
gia công, chế biến các ngành nghề thủ công truyền thống và không truyền thống
để từng bớc có sự chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trong quá
trình chuyển dịch này, nhiều nông thôn từng bớc thành thị hoá, cơ cấu nông
lâm nghiệp cũng không còn là vai trò chủ đạo.
Nh vậy, trên địa bàn huyện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và
nông thôn tác động và hỗ trợ lẫn nhau tạo ra sự chuyển dịch tổng thể kinh tế trên
địa bàn huyện.
-
ở
các huyện miền núi có những điểm giống nhau song cũng có những điểm
khác nhau về sinh thái, mức độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, dân tộc, dân trí
Nên trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phải dựa theo các quy luật
phát triển chung của một nền kinh tế thị trờng, theo định hớng xã hội chủ nghĩa
vừa phải căn cứ vào thực tiễn của huyện để lựa chọn và định ra bớc đi thích hợp,
Nh vậy, ở các huyện miền núi khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể gặp
không ít khó khăn song cũng có những nhân tố mới hết sức thuận lợi, cần khai
thác triệt để những nhân tố này tạo ra những nét khởi sắc kinh tế ở cấp huyện.
II.4.4 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong và ngoài nớc
* Một số kinh nghiệm trong nớc
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo an ninh lơng thực và phát triển
giao thông ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
Quản Bạ là một trong những huyện vùng cao của tỉnh vùng cao Hà Giang,
có địa danh Cổng Trời ở độ cao 1.500 m so với mặt biển. Là một huyện thuộc
vùng núi đá, đất nông nghiệp chỉ chiếm 10% diện tích tự nhiên. Những năm
trớc đây, nhân dân trong huyện luôn luôn trong tình trạng thiếu lơng thực
nghiêm trọng. Việc vận chuyển lơng thực từ đồng bằng lên gặp nhiều trở ngại
do đờng đến thôn, xã ở vùng cao còn nhiều khó khăn.
Do nhận thức về tầm quan trọng số một của vấn đề lơng thực và giao thông
đối với đời sống kinh tế xã hội trong huyện nên Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -14-
uỷ ban nhân dân huyện Quản Bạ đã đặt mục tiêu phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện theo hớng đảm bảo an ninh lơng thực
cho 38 nghìn dân và tất cả các xã đều có đờng ô tô vào tới trung tâm xã.
Bằng những biện pháp tận dụng đất đai, đẩy mạnh thâm canh, thực hiện xen
canh, tăng vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nên mục tiêu đảm bảo an ninh
lơng thực trong huyện đã đợc thực hiện với nhiều kết quả trong vài năm gần đây.
Năm 2003 sản lợng lơng thực bình quân của huyện đạt hơn 300 kg/ngời; tỷ lệ
hộ nghèo đói giảm từ 40% năm 1996 xuống còn 19% năm 2003.
Mục tiêu về giao thông xã cũng đã đạt đợc bởi từ năm 2002, trong 13 xã
và thị trấn của huyện đều đã có đờng ô tô, một thành tựu mà nhiều thập kỷ qua
không làm nổi.
Trớc đây 10 năm, cơ sở hạ tầng của thị trấn chỉ phục vụ đợc khoảng 10
nghìn lợt ngời đến du lịch và ngủ qua đêm tại thị trấn hàng quí; nay thị trấn đã
đủ sức nâng số đó lên gấp 3 lần. Trong tổng thu ngân sách của thị trấn thì thu từ
nông nghiệp chiếm 2 - 3%, thu từ công nghiệp 60 - 65%, thu từ thơng mại dịch
vụ 32 - 38%.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn các xã và thị trấn trong huyện
Ginsen cũng có những diễn biến tơng tự thị trấn Lich nhng với qui mô và nhịp
độ khác nhau. Điểm chung nhất của sự chuyển dịch này là: ngành công nghiệp
và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn xã, thị
trấn trong huyện. Sự chuyển dịch này phần quan trọng là do ngời dân đợc tự
do lựa chọn việc đầu t vào các ngành nghề có lợi từ các quan hệ thị trờng tạo
ra, mặt khác có những tác động nhiều mặt của chính quyền xã, thị trấn. Phơng
thức tự quản của cấp xã, thị trấn đã đem lại sự uyển chuyển trong lựa chọn cơ
cấu kinh tế của từng địa bàn xã, thị trấn trong huyện
Một ví dụ khác tại Trung Quốc: cơ cấu kinh tế nông thôn ở Trung Quốc đã
có những chuyển dịch mạnh mẽ trong quá trình cải cách và mở cửa từ năm 1978.
Trong khi cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phát triển ổn định thì cơ cấu của các
ngành sản xuất phi nông nghiệp đã có những bớc phát triển đột phá làm thay
đổi hẳn cơ cấu kinh tế nông thôn Trung Quốc. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trung Quốc đã diễn ra với qui mô lớn và dới nhiều hình thức. Một trong những
điểm thành công lớn trong lĩnh vực này chính là việc Trung Quốc đã coi trọng sự
chuyển dịch này ở cấp cơ sở (xã, thôn) và đã sáng tạo ra một loại hình kinh tế
thích hợp trong bớc đi ban đầu (xí nghiệp hơng trấn). Mặc dù ngay từ năm
1996, Trung Quốc đã thấy rõ nhiều nhợc điểm của mô hình xí nghiệp hơng
trấn (đặc biệt là các xí nghiệp thuộc ngành công nghiệp với kỹ thuật công nghệ
lạc hậu và khả năng làm ô nhiễm môi trờng rất lớn), nh
ng để chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc thì cha có loại hình kinh tế nào
tỏ ra hữu hiệu hơn loại hình xí nghiệp hơng trấn.
Tóm lại, kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nớc cho thấy
0
02
'
kinh độ Đông.
Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn
trong đó có 7 xã thuộc diện xã miền núi. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là:
24.937 ha, dân số năm 2005 là 142.218 ngời.
Huyện Phú Bình có điều kiện giao lu gần gũi với trung tâm hai tỉnh Thái
Nguyên, Bắc Giang, với Thủ đô Hà Nội và gần các khu công nghiệp lớn của Hà
Nội nên có điều kiện giao lu hàng hoá dễ dàng và có khả năng phát triển nền
kinh tế của huyện theo xu hớng công nghiệp hoá và đô thị hoá. Cùng với hệ
thống giao thông phát triển cả về đờng bộ và đờng sông, nên có thế mạnh để
mở rộng thị trờng, phát triển giao lu thơng mại và dịch vụ, xây dựng một nền
kinh tế hàng hoá đa dạng hội nhập dễ đàng với thị trờng trong và ngoài nớc.
II - tài nguyên thiên nhiên
II.1 Tài nguyên đất
Tổng quỹ đất huyện Phú Bình có 24.936,91 ha, trong đó diện tích đất
dùng cho nông nghiệp có 12.035,37 (chiếm 48,26% tổng tích tự nhiên). Địa hình
của huyện có chiều hớng dốc từ đông bắc xuống đông nam với độ dốc 0,04%,
độ chênh cao trung bình là 1,1m/km dài. Độ cao so với mặt nớc biển trung bình
là 14m (xã Dơng Thành), đỉnh cao nhất 250 m (Đèo Bóp thuộc xã Tân Thành).
Nhìn chung địa hình của huyện tơng đối bằng phẳng, vùng đồi núi chủ yếu
là đồi núi bát úp thoải và thấp có độ cao dới 100m. Diện tích đất có độ dốc < 8
o
chiếm đa số (16.848 ha, chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên), đây là điều kiện
thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lơng thực. Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -18-
Bảng 1 đặc điểm thổ nhỡng huyện Phú Bình
Đặc điểm chính
Loại đất phát sinh
Diện tích
(ha)
Độ dày
tầng đất
(cm)
Tỷ lệ đá
lẫn (%)
Nguồn
nớc
1. Đất phiến thạch sét (Fs) 9.930,5
Trong đó: Loại đất FsX 202,5 > 120 < 10 Tự chảy
Loại đất FsY 553,0 50 120 < 10 Tự chảy
Loại đất FsZ 9.175,0 < 50 10 30 Tự chảy
2. Đất vàng đỏ trên nền đá cát (Fq)
4.165.5
Trong đó: Loại đất FqX 254,5 > 120 10 30 Tự chảy
Loại đất FqY 545,0 50 120 10 30 Tự chảy
Loại đất FqZ 3.366,0 < 50 > 30 Tự chảy
3. Đất vàng đỏ trên nền phù
sa (Fp)
696,0
Trong đó: Loại đất FpX 52,0 > 120 < 10 Tự chảy
Diện tích Cơ cấu Diện tích Cơ cấu
Tổng diện tích tự nhiên
24.936,91 100,0 24.963,91 100,0
1. Đất nông nghiệp
13.845,93 55,53 12.035,37 48,26
- Đất cây hàng năm
10.088,14 40,46 10.154,18 40,72
Trong đó: Đất lúa
7.705,25 30,9 7.655,35 30,7
- Đất cây lâu năm
1.066,43 4,28 1.881,19 7,54
- Đất vờn
2.296,55 9,21 2.498,83 10,02
- Diện tích nuôi trồng TS
400,8 1,61 403,04 1,62
2. Đất lâm nghiệp
6.332,68 25,4 6.105,35 24,48
- Rừng trồng
6.332,68 25,4 6.099,87 24,46
Rừng sản xuất
- - 5.043,13 20,22
Rừng đặc dụng
- - 1.056,74 4,24
3. Đất ở
908,36 3,64 951,08 3,81
4. Đất chuyên dùng
2.463,27 9,88 2.448,06 9,82
5. Đất cha sử dụng
1.385,87 5,56 505,84 2,03
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Bình 2005
- Gió: mùa hè có gió Đông nam thịnh hành, mùa đông có gió Đông bắc
nên thời tiết lạnh và khô nên sản xuất gặp khó khăn.
- Sơng mù bình quân xuất hiện 5 ngày trong một năm, sơng muối ít.
Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng
khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng Bộ Khoa học và Công nghệ -20-
Về thuỷ văn: Nguồn nớc của huyện Phú Bình khá phong phú do sông
Cầu cung cấp là chủ yếu.
- Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lu vực 3.480 km
2
, bắt
nguồn từ Chợ Đồn chảy theo hớng Bắc - Đông nam. Lu lợng nớc mùa ma
là 3500 m
3
/s, về mùa khô 6,3 6,5 m
3
/s.
- Đoạn sông Cầu chảy qua địa phận huyện Phú Bình có chiều dài 29 km,
lòng sông rộng 120 m, độ chênh cao 0,4 m/km, có lu lợng trung bình về mùa
ma 580 610 m
3
/s, về mùa khô 6,3 6,5 m
3
/s.
- Với chiều dài của đoạn sông Cầu chảy qua huyện Phú Bình là điều kiện
thuận lợi cho giao thông đờng sông và cung ứng nguồn nớc tới tiêu cho sản
xuất nông nghiệp.
- Sông Đào với chiều dài 33 km chảy qua xã Đồng Liên, Bảo Lý, Hơng
Sơn, Tân Đức và đổ vào sông Thơng ở Bắc Giang.
- Phú Bình còn có 3 dòng suối chính bắt nguồn từ phía Đông bắc huyện