Đề tài : Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam - Pdf 13

chơng trình khoa học cấp Nhà nớc kx.01
đề tài kx.01.09
***** quản lý Nhà nớc
trong nền kinh tế thị trờng
định hớng XCHN ở việt nam

gs.tskh. lơng xuân quỳ- chủ nhiệm đề tài 6551
21/9/2007
Hà Nội 12- 2004


46
Kết luận phần thứ nhất 59
Phần thứ hai: Thực trạng quản lý Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
62
I. Thực trạng quản lý Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng XCHN ở
Việt Nam từ năm 1986 đến nay
62
1. Thực trạng về định hớng phát triển kinh tế- xã hội 62
2. Thực trạng về khung khổ pháp luật và chính sách kinh tế 65
3. Thực trạng về bảo đảm cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế- xã hội 84
4. Thực trạng quản lý theo ngành, địa phơng và vùng lãnh thổ 92
5. Thực trạng về một số điều kiện đảm bảo chủ yếu để Nhà n
ớc thực hiện quản lý
kinh tế
104
II. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng
XCHN ở Việt Nam từ 1986 đến nay
110
1. Mặt đợc 110
2. Mặt cha đợc 113
3. Nguyên nhân của những mặt cha đợc 127
Kết luận phần thứ hai 132
Phần thứ ba: Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quản lý Nhà nớc về kinh tế
trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng XCHN thời gian
tới ở Việt Nam
136
I. Những quan điểm chung chỉ đạo quá trình tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quản lý
Nhà nớc về kinh tế thời gian tới ở Việt Nam
136

Kết luận phần thứ ba 205
Kết luận chung 213
Tài liệu tham khảo 215

trờng. Tới Đại hội giữa nhiệm kỳ khoá VIII, Đảng ta lại khẳng định chủ
trơng "Tiếp tục xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế mới, kiên trì quá trình
chuyển sang cơ chế thị trờng đi đôi với tăng cờng hiệu lực quản lý của Nhà
nớc".
Thực hiện chủ trơng mà Đảng đã vạch ra, Nhà nớc Việt Nam đã ban hành
hàng loạt các chính sách, các văn bản pháp luật để dần dần hoàn thiện cơ chế
quản lý nền kinh tế, mà mô hình tổng quát của nền kinh tế ấy trong thời kỳ quá
độ lênCNXH ở nớc ta là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Trên cơ sở
Hiến pháp năm 1992, Nhà nớc đã có những chính sách và thể chế hoá bằng
hàng loạt bộ luật, luật, pháp lệnh và các văn bản dới luật khác nhằm hớng
vào việc đảm bảo quyền tài sản; đảm bảo quyền tự chủ của các chủ thể kinh
doanh; đảm bảo cho giá cả chủ yếu do thị trờng định đoạt; đảm bảo lấy các tín
hiệu thị trờng làm căn cứ quan trọng để phân bố các nguồn lực cho sản xuất
kinh doanh; đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; đảm bảo
khuyến khích các nhà kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận hợp pháp
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trong nền kinh tế do đổi mới và
hoàn thiện quản lý nhà nớc về kinh tế đa lại nh tốc độ tăng trởng kinh tế
của đất nớc trong những năm đổi mới luôn có xu hớng gia tăng; cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hớng hiệu quả hơn, việc làm và đời sống của dân c
ngày
càng đợc cải thiện , thì chính từ quản lý nhà nớc trong nền kinh tế nớc ta
đang nổi lên không ít những vấn đề bức xúc cần phải đợc nghiên cứu một
cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ nh cần xác định một cách có căn cứ khoa
học về nội dung, chức năng, nhiệm vụ, các phơng pháp, công cụ quản lý nhà
nớc về kinh tế trong mối quan hệ tồn tại khách quan giữa Nhà nớc, thị
trờng, doanh nghiệp trong tiến trình phát triển kinh tế đất nớc; làm thế nào
để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nớc; nhằm tháo gỡ kịp thời,
đồng bộ tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trờng phát triển đúng theo những
quy luật vốn có của nó và đáp ứng các mục tiêu đã đề ra.


miền của đất nớc về các nội dung của đề tài sẽ và đã nghiên cứu.
Đề tài đ có một lực lợng cộng tác viên khá đông đảo gồm:
1. GS.TS Bùi Thế Vĩnh Học viện Hành chính quốc gia, Bộ Nội vụ
2. PGS.TS Đỗ Đức Định Viện Kinh tế thế giới, Viện KHXH Việt Nam
3. TS An Nh Hải Học viện Chính trị Quốc gia HCM
4. GS.TS Mai Ngọc Cờng Đại học Kinh tế Quốc dân

6
5. GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh Đại học Kinh tế Quốc dân
6. TS Chu Đức Đăng Viện Kinh tế thế giới, Viện KHXH Việt Nam
7. PGS.TS Phạm Thị Quý Đại học Kinh tế Quốc dân
8. TS Phạm Thái Quốc Viện Kinh tế thế giới, Viện KHXH Việt Nam
9. PGS.TS Lê Văn Sang Viện Kinh tế thế giới, Viện KHXH Việt Nam
10. Th.S Trần Kim Chung Viện Quản lý kinh tế TW
11. GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng Đại học Kinh tế Quốc dân
12. TSKH Trịnh Huy Quách UB Kinh tế và NS của Quốc hội
13. TS Nguyễn Thị Hồng Thuỷ Đại học Kinh tế Quốc dân
14. TS Lê Việt Đức Bộ Kế hoạch và Đầu t
15. PGS.TS Ngô Thắng Lợi Đại học Kinh tế Quốc dân
16. GS.TS Lê Sỹ Thiệp Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ
17. TS Ngô Kim Toàn Ban Tổ chức Chính phủ
18. GS.TS Tô Xuân Dân Viện Nghiên cứu Phát triển KT-XH Hà Nội
19. GS.TS Hồ Xuân Phơng UB Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội
20. Phạm Quang Lực Ban Kinh tế TW Đảng
21. PGS.TS Nguyễn Đình Long Viện Kinh tế Nông nghiệp, Bộ NN&PTNT
22. GS Trần Đình Bút Đại học Kinh tế thành phố HCM
23. PGS Đào Công Tiến Đại học Kinh tế thành phố HCM
24. GS Mai Hữu Khuê Học viện Hành chính Quốc gia, Bộ Nội vụ
25. GS.TSKH Nguyễn Mại Thành viên ban cố vấn về đầu t nớc ngoài của
Chính phủ

đảm bảo phúc lợi kinh tế cao cho ngời dân. Trong khi đó, mô hình kinh tế thị
trờng tỏ ra rất thành công trong các nền kinh tế đa dạng, từ những nớc có
truyền thống thị trờng nh Tây Âu và Bắc Mỹ, đến những nớc đi sau ở châu
á hay Mỹ Latinh.
Thực tế cho thấy bàn tay vô hình của thị trờng tự do thờng tỏ ra có u thế
vợt trội so với bàn tay hữu hình của Nhà nớc trong việc phân bổ các nguồn
lực khan hiếm của xã hội. Song trong một số trờng hợp, bàn tay vô hình
không vận hành tốt. Khi đó, sự can thiệp của Nhà nớc vào thị trờng có thể
nâng cao đợc hiệu quả hoạt động chung của nền kinh tế. Hầu hết các nớc
trên thế giới hiện nay đều vận hành theo mô hình kinh tế hỗn hợp. Trong nền
kinh tế hỗn hợp hiện đại, cả Nhà nớc và thị trờng cùng điều tiết các hoạt
động kinh tế. Nhà nớc đóng vai trò quan trọng chứ không chỉ đơn thuần giống
nh "một cảnh sát giao thông" giám sát và kiểm tra hoạt động của khu vực kinh
tế t nhân.
Quản lý Nhà nớc về kinh tế trong một nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế
thị trờng theo định hớng XCHN ở Việt Nam là một vấn đề vừa có tính lý
luận, vừa có tính thực tiễn. Trong sự nghiệp Đổi mới do Đảng ta khởi xớng
gần 20 năm qua - kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đến nay -
việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nớc trong mọi lĩnh vực nói
chung, và trong lĩnh vực kinh tế nói riêng, mặc dù đã có nhiều điều chỉnh và
tiến bộ lớn, nhng còn nhiều vấn đề cần đợc giải quyết.

8
Trớc thực tế ấy, việc hệ thống hoá các lý thuyết kinh tế và kinh nghiệm
quốc tế về vai trò của quản lý Nhà nớc về kinh tế trong nền kinh tế thị trờng
có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Các nguyên lý chung về quản
lý Nhà nớc về kinh tế và những bài học kinh nghiệm ở các nền kinh tế có
những đặc điểm tơng đồng với nớc ta là một cơ sở quan trọng để xây dựng
khung lý thuyết về quản lý Nhà nớc về kinh tế trong nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Cạnh tranh là nguyên tắc có tính nền tảng của kinh tế thị trờng, nó đòi hỏi
các doanh nghiệp phải thờng xuyên nâng cao hiệu quả mới có thể đứng vững
trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà cung ứng để tối đa hoá lợi nhuận.
Cạnh tranh chính là động lực cho phép các nguồn lực đợc phân bổ một cách
có hiệu quả nhất. Những doanh nghiệp nào yếu kém, thua lỗ sẽ bị phá sản, các
nguồn lực sẽ đợc chuyển sang các doanh nghiệp hoạt động tốt hơn. Cạnh
tranh và phá sản cũng giới hạn những sai lầm trong kinh doanh. Các doanh
nghiệp sẽ rút ra đợc những bài học kinh nghiệm thiết thực từ các vụ phá sản
để kinh doanh tốt hơn. Phá sản là sự sàng lọc cần thiết để đào thải những doanh
nghiệp yếu kém, làm trong sạch và lành mạnh môi trờng kinh doanh. Nếu
chấp nhận cạnh tranh thì doanh nghiệp thuộc bất kỳ hình thức sở hữu nào cũng
sẽ kinh doanh có hiệu quả hơn so với trong điều kiện các doanh nghiệp đó có
sức mạnh thị trờng.
Giống nh một bàn tay vô hình (thuật ngữ nổi tiếng của Adam Smith), hệ
thống giá cả liên kết hành động của các cá nhân ra quyết định riêng rẽ chỉ tìm
kiếm lợi ích riêng cho bản thân họ. Nhng trong khi đi tìm lợi ích riêng một
cách vị kỷ, thì chính bàn tay vô hình của thị trờng sẽ dẫn dắt họ tạo nên một
kết quả nằm ngoài dự kiến là đem lại lợi ích cho xã hội tốt hơn ngay cả khi họ
chủ động định làm nh vậy. Chính vì vậy, hệ thống thị trờng tỏ ra u việt hơn
hẳn hệ thống kế hoạch hoá tập trung: nó phân bổ các nguồn lực một cách hiệu
quả theo nghĩa cho phép tối đa hoá phúc lợi của toàn xã hội.
Những đặc điểm chính làm cho kinh tế thị trờng tỏ ra u việt hơn hệ thống
kế hoạch hoá tập trung trong việc phân bổ các nguồn lực bao gồm:
Sự liên kết tự động và linh hoạt
Những ngời ủng hộ kinh tế thị trờng cho rằng so với mô hình kế hoạch
hoá tập trung, hệ thống thị trờng dựa trên các quyết định phi tập trung, nên
linh hoạt hơn, điều chỉnh nhanh hơn và dễ thích ứng hơn trong một môi trờng
thờng xuyên thay đổi.
Khi điều kiện kinh tế thay đổi, giá cả trong nền kinh tế thị trờng có thể
thay đổi nhanh chóng và những ng

những điều kỳ diệu do tập trung đợc nguồn lực để thực hiện đờng lối đã
chọn, nhng có thể là quá rủi ro khi các nhà lập kế hoạch dự đoán sai và do đó
phân bổ nguồn lực vào các hoạt động có có lợi cho xã hội.
Phi tập trung hoá quyền lực
Một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thị trờng là phi tập trung hoá
quyền lực và con ngời ít bị áp đặt hơn do cơ chế vận hành là hớng đến lợi ích
riêng và tự do ra quyết định. Cạnh tranh chính là động lực phát triển quan trọng
nhất trong một nền kinh tế thị trờng. Do áp lực từ phía các đối thủ cạnh tranh,
các doanh nghiệp luôn phải tìm cách tự hoàn thiện mình để có thể sản xuất
hàng hoá với chất lợng cao nhất, giá thành rẻ nhất và phục vụ khách hàng tốt
nhất thì mới thu đợc lợi nhuận, để duy trì hoạt động và mở rộng thị phần của
mình trên thị trờng.

11
1.2. Cơ sở lý thuyết của quản lý Nhà nớc về kinh tế
Câu hỏi đặt ra là nếu thị trờng tự do cho phép phân bổ các nguồn lực một
cách hiệu quả thì tại sao Nhà nớc lại cần can thiệp vào các hoạt động kinh tế.
Tại sao các nớc không thực hiện một chính sách hoàn toàn tự do (laisser-fair)
để mặc t nhân kinh doanh? Trả lời câu hỏi này, các nhà kinh tế đã khẳng định
mặc dù không thể thay thế thị trờng, nhng Nhà nớc có thể hoàn thiện các
hoạt động thị trờng. Quản lý Nhà nớc về kinh tế chính là sự tác động của hệ
thống quản lý hay chủ thể quản lý (Nhà nớc) lên hệ thống bị quản lý hay
khách thể quản lý (nền kinh tế) nhằm hớng sự vận hành của nền kinh tế theo
các mục tiêu đặt ra.
Ngay trong học thuyết bàn tay vô hình của mình, Adam Smith không hề
phủ nhận sự tồn tại khách quan của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng.
Trong tác phẩm Của cải của các dân tộc, ông đã giới hạn vai trò của Nhà nớc
trong một nền kinh tế thị trờng vào ba chức năng:
- Xây dựng và bảo đảm môi trờng hoà bình, không để xảy ra nội chiến,
ngoại xâm.

những kết quả đáng mong muốn cho toàn xã hội. Khi điều này xảy ra, các nhà
kinh tế nói rằng thị trờng đã thất bại. Các lý thuyết ủng hộ sự can thiệp của
Chính phủ vào nền kinh tế thờng đều tìm cách giải thích các nhân tố gây ra
thất bại thị trờng.
Thuật ngữ thất bại đợc đề cập ở trên có thể dễ gây hiểu nhầm. Thất bại thị
trờng không có nghĩa là không có điều gì tốt đẹp đợc thực hiện, mà nó chỉ
hàm ý rằng những kết quả tốt nhất lẽ ra có thể đạt đợc lại không đợc thực
hiện.
Thuật ngữ "thất bại thị trờng" thờng đợc sử dụng trong hai tình huống.
Thứ nhất, thất bại thị trờng xuất hiện do thị trờng không thể phân bổ các
nguồn lực của xã hội một cách hiệu quả. Thứ hai, thất bại thị trờng đợc thể
hiện ở những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu xã hội
bên cạnh mục
tiêu hiệu quả kinh tế.
Thất bại trong việc phân bổ các nguồn lực có hiệu quả
Có năm nguyên nhân chính làm cho thị trờng vận hành không hiệu quả, đó
là:
(a) Cạnh tranh không hoàn hảo: Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith
về việc phân bổ có hiệu quả các nguồn lực xã hội dựa trên giả thiết về thị
trờng cạnh tranh hoàn hảo, nghĩa là một thị trờng trong đó:
- Không có ngời bán và ngời mua khống chế đợc giá cả;
- Sự tham gia vào hay rút lui khỏi thị trờng là tự do, với chi phí thấp;
- Ngời mua và ngời bán có thể tiếp cận đầy đủ thông tin thích hợp cho
các quyết định kinh doanh và tiêu dùng của mình.

13
Trong môi trờng cạnh tranh hoàn hảo, thị trờng sẽ đạt đợc hiệu quả
Pareto (các nguồn lực sẵn có đợc phân bổ tối u, có lợi nhất cho cả xã hội
theo nghĩa: không còn cách phân bổ nào khác cho phép tăng thêm lợi ích cho ai
đó trong xã hội mà không làm tổn hại đến một ngời nào khác).

thống cơ sở hạ tầng. Do tính không thể phân chia của hàng hóa công cộng mà
các t nhân thấy rằng đầu t vào đây không có lợi, ít nhất trong ngắn hạn. Vì 1
Việc sử dụng của một ngời không làm giảm khả năng sử dụng của những ngời khác.

2
Không thể loại trừ những khách hàng không trả tiền sử dụng hàng hoá.

14
thế ở hầu hết các nớc, Nhà nớc thờng bỏ vốn vào xây dựng và bảo dỡng cơ
sở hạ tầng.
(c) Ngoại ứng: Ngoại ứng phát sinh khi hành động của một cá nhân có ảnh
hởng đến phúc lợi của ngời ngoài cuộc, nhng lại không phải trả hoặc đợc
nhận bất kỳ khoản bồi thờng nào cho ảnh hởng này. Ngoại ứng có thể là tiêu
cực hoặc tích cực. Ngoại ứng tiêu cực điển hình nhất của tăng trởng kinh tế là
tình trạng ô nhiễm môi trờng, tình trạng khai thác thái quá các nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Các ngoại ứng tích cực bao gồm các hoạt động tạo ra lợi
ích cho những ngời đứng ngoài thị trờng nh hoạt động giáo dục, đào tạo,
các hoạt động nghiên cứu và triển khai. Trong các trờng hợp đó, lợi ích và chi
phí đối với cá nhân không trùng với lợi ích và chi phí đối với toàn xã hội. Do
ngời mua và ngời bán bỏ qua ngoại ứng khi quyết định mua và bán, nên
trạng thái cân bằng thị trờng là không hiệu quả khi có ngoại ứng. Điều đó có
nghĩa là trạng thái cân bằng đó không cho phép tối đa hoá tổng lợi ích của toàn
xã hội. Nếu Nhà nớc không có biện pháp điều tiết thích hợp, các hoạt động thị
trờng có ngoại ứng tiêu cực sẽ bùng phát quá mức, còn các hoạt động có
ngoại ứng tích cực sẽ đợc cung ứng quá ít.
(d) Thông tin không cân xứng: Nhiều khi trong cuộc sống, một số ngời có
đợc thông tin nhiều hơn những ngời khác, và sự khác biệt về thông tin có thể

định vĩ mô. Lập luận của Keynes rằng Chính phủ có thể sử dụng các chính sách
ổn định để ngăn cản hoặc chống lại sự suy giảm kinh tế đã đợc chấp nhận
rộng rãi và t tởng của ông đợc coi là một cuộc cách mạng trong kinh tế vĩ
mô.
Các mục tiêu xã hội khác
Ưu điểm nổi bật của hệ thống thị trờng tự do là cho phép phân bổ các
nguồn lực một cách có hiệu quả. Thị trờng có thể làm tốt điều đó vì thông tin
cần thiết để thị trờng vận hành trôi chảy đợc tiếp nhận từ những cá nhân luôn
tìm cách tối đa hoá lợi ích của bản thân. Tuy nhiên, thị trờng không thể hoạt
động trôi chảy khi thực hiện các mục tiêu xã hội bao quát hơn. Một số mục tiêu
phần nào mang tính kinh tế, chẳng hạn nh phân phối thu nhập một cách công
bằng. Một số mục tiêu khác hoàn toàn phi kinh tế, đặc biệt là các giá trị mà
mọi ngời cần chia sẻ, chẳng hạn nh lòng yêu nớc hoặc niềm tin vào tự do.
Trong mỗi trờng hợp nêu trên, thị trờng không phải là cách có hiệu quả vì
mục tiêu đợc đa ra không phải là những thứ có thể trao đổi giữa các cá nhân.
ở những nớc đang phát triển, các luận cứ ủng hộ sự can thiệp rộng khắp
của Nhà nớc còn nhấn mạnh vào các cấu trúc kinh tế đặc thù của các xã hội
lạc hậu, nơi thị trờng cha phát triển và thiếu vắng các nhà quản lý giỏi. Trong
bối cảnh đó, các nớc này không thể bắt đầu quá trình phát triển bền vững nếu
không có sự can thiệp và điều phối của Nhà nớc.
Trên cơ sở nhận thức những thất bại của thị trờng nêu ra ở trên, Nhà nớc
thờng đợc khuyến nghị nên thực hiện các chức năng chủ yếu sau đây:

16
(a) Xác lập những điều kiện cần thiết về thể chế và pháp lý cho việc sản
xuất và trao đổi hàng hoá và dịch vụ, bao gồm cả khuôn khổ pháp luật để bảo
vệ quyền sở hữu và trách nhiệm thực hiện hợp đồng
(b) Hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô nh chính
sách tài khoá, tiền tệ, thu nhập và tỷ giá hối đoái.
(c) Cung cấp cơ sở hạ tầng vật chất, bao gồm đờng bộ, đờng sắt, và cung

17
nghiệp Nhà nớc thờng hoạt động không hiệu quả. Phần lớn Nhà nớc ở các
nớc đang phát triển không có nguồn tài chính cần thiết hoặc đủ năng lực kỹ
thuật và quản lý để thực hiện tốt nhiệm vụ này. Họ khuyến nghị là Nhà nớc
cần khai thông tiềm năng của khu vực t nhân, không phải là một nguồn thay
thế mà là một nguồn bổ sung cho Nhà nớc trong việc cung ứng kết cấu hạ
tầng.
Sự kiểm soát của Chính phủ bằng cách can thiệp trực tiếp vào hoạt động
kinh tế của các doanh nghiệp t nhân, chẳng hạn chính sách u đãi về đầu t,
thờng tỏ ra rất tốn kém và không hiệu quả, và thậm chí trong nhiều trờng hợp
còn phản tác dụng. ảnh hởng dài hạn phổ biến là tạo ra những tác động phụ
không mong muốn. Khi một biện pháp kiểm soát đa lại hiệu quả mong muốn
thì nó luôn đi kèm với những hậu quả không mong muốn dới dạng khác. Ví
dụ, việc bảo hộ các ngành sản xuất trong nớc có thể có ý nghĩa trong ngắn
hạn, nhng trong dài hạn, kết cục trong nhiều trờng hợp là các ảnh hởng phụ
không mong muốn dới hình thái các ngành công nghiệp không có khả năng
cạnh tranh chế tạo ra các sản phẩm với chi phí cao hơn giá cả trên thị trờng
thế giới.
Cuối cùng, liên quan đến sự can thiệp trực tiếp của Nhà nớc trong lĩnh vực
sản xuất, sự phê phán đặc biệt nhấn mạnh đến việc công suất sử dụng thấp và
có quá nhiều lao động trong các doanh nghiệp Nhà nớc. Kết quả là hiệu quả
so với chi phí rất thấp, đa số các doanh nghiệp Nhà nớc có mức lợi nhuận thấp
hoặc thậm chí bị thua lỗ ngay cả khi đã đợc bảo hộ khỏi cạnh tranh quốc tế và
trong nớc, và trong nhiều trờng hợp, các doanh nghiệp này còn đợc hởng
thế độc quyền ở thị tr
ờng trong nớc. Các doanh nghiệp Nhà nớc ở các nớc
đang phát triển thờng tạo ra một gánh nặng đáng kể về tài chính đối với ngân
sách Chính phủ, và điều này là một thực tế khó đợc chấp nhận.
Theo lý thuyết tân cổ điển, những kết quả quan sát ở trên là những bằng
chứng sinh động về ảnh hởng bất lợi khi Nhà nớc can thiệp sâu vào khu vực

đã nói ở trên, các nhà kinh tế tân cổ điển đề nghị nên tối thiểu hoá vai trò kinh
tế của Nhà nớc: Nhà nớc cần can thiệp càng ít càng tốt. Nhà nớc nên để
cho cơ chế giá cả trong các thị trờng cạnh tranh xác định sản xuất cái gì và
sản xuất bao nhiêu. Vấn đề quan trọng hàng đầu là định giá đúng. Thị tr
ờng sẽ
đóng vai trò chỉ dẫn động thái, sự tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu của các
nền kinh tế chậm phát triển. So với kinh tế học phát triển theo dòng Keynes của
các thập kỷ trớc, các nhà kinh tế tân cổ điển chuyển toàn bộ trọng tâm từ đa
ra chính sách đúng sang định giá đúng.
Chiến lợc tân cổ điển vào những năm 1980 đa ra những đề xuất cụ thể
sau:
- Dỡ bỏ tất cả những can thiệp mang tính bóp méo trong việc định giá để
đạt đợc tăng trởng và phát triển tối đa.

19
- Chuyển từ chiến lợc phát triển kinh tế hớng nội trên cơ sở thay thế
nhập khẩu sang phát triển hớng ngoại theo hớng thúc đẩy xuất khẩu.
- Thu hẹp qui mô khu vực Chính phủ thông qua t nhân hoá các doanh
nghiệp Nhà nớc và từ bỏ càng nhiều càng tốt các hoạt động kinh tế và
chuyển giao cho các doanh nghiệp t nhân.
Trong những năm 1980, các nhà kinh tế tân cổ điển đã có ảnh hởng đáng
kể đến cuộc tranh luận quốc tế về phát triển, và các đề nghị của họ nhìn chung
đợc Quĩ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, cùng với nhiều tổ chức viện
trợ song phơng chấp nhận. Ngân hàng Thế giới và Quĩ Tiền tệ Quốc tế đã đa
ra nhiều điều kiện dựa trên lý thuyết tân cổ điển cho các khoản vay đối với các
nớc thuộc thế giới thứ ba. Theo cách này, các tổ chức tài chính quốc tế này đã
tham gia tích cực vào việc gây sức ép một số Chính phủ thực hiện các chính
sách tân cổ điển.
Tuy nhiên, đến cuối những năm 1980, cuộc cách mạng tân cổ điển dần dần
buộc phải xem lại cả trong các cuộc tranh luận lý thuyết và trong việc quản lý

đang phát triển có thể cải thiện đợc thành tựu kinh tế bằng cách thực hiện cải
cách theo định hớng thị trờng. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết dẫn đến
hạ thấp vai trò của Nhà nớc. Nói chung, các cải cách theo định hớng thị
trờng trong thực tế không làm giảm nhu cầu về chính sách và các thể chế công
cộng.
Quan điểm của nhiều nhà kinh tế hiện đại là quy mô tuyệt đối của khu vực
Nhà nớc và mức độ can thiệp của Nhà nớc không quan trọng bằng cách thức
hoạt động của Nhà nớc và các loại quan hệ mà Nhà nớc thiết lập với khu vực
t nhân. Theo quan điểm này, nội dung quan trọng trong các chơng trình cải
cách theo định hớng thị trờng là phải xác định đợc xem hoạt động can thiệp
nào của Chính phủ nên giữ nguyên, thơng mại hoá, t nhân hoá, phân cấp tới
các chính quyền địa phơng, hoặc chấm dứt hoàn toàn.
Để đánh giá các hoạt động can thiệp của Nhà n
ớc theo quan điểm này, sự
khác biệt giữa những cân nhắc kinh tế thuần tuý và những cân nhắc liên quan
đến chính trị cần phải đợc làm rõ. Nói cách khác, câu hỏi đặt ra ở đây là liệu
có tính khả thi về mặt kinh tế và chính trị hay không. Những nghiên cứu gần
đây nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Nhà nớc cần phải điều chỉnh liên tục
phù hợp với môi trờng thờng xuyên thay đổi, để khai thác tối đa những cơ
hội và giảm thiểu rủi ro từ hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo quan điểm về tính khả thi kinh tế, nhiệm vụ quan trọng là thiết lập
một mối quan hệ hoạt động giữa khu vực Nhà nớc và khu vực t nhân. Theo
quan điểm chính thống hiện đại, nh đợc đề xuất bởi các nhà kinh tế của
Ngân hàng Thế giới, Nhà nớc nên ít tham gia vào những lĩnh vực mà thị
trờng vận hành tốt; và nên tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực không thể dựa
vào thị trờng. Khi các hành động can thiệp là cần thiết, chúng nên đi cùng
hoặc thông qua các lực lợng thị trờng chứ không phải chống lại thị trờng.

21
Theo quan điểm về tính khả thi chính trị, điều quan trọng là phải xem liệu

nh khu vực t nhân đóng vai trò gì trong việc sản xuất và thanh toán cho các
dịch vụ công cộng. Họ có thể là ngời mua hoặc ngời sản xuất các dịch vụ 3
Martinussen, J., 1997, Society, State and Market A Guide to Competing Theories of Development, Zed
Books Ltd, London & New Jersey, pp. 267

Khu vực t nhân với
vai trò là ngời mua
Khu vực t nhân với
vai trò là nhà sản xuất
Chính phủ với vai
trò là ngời mua
Chính phủ với vai
trò là nhà sản xuất
Hàn
g
hoá tiêu dùn
g
Giáo dục
Điện
Cung cấp nớc

y
dựn
g
đờn
g


để đạt đợc các mục tiêu khác, bao gồm việc cung cấp cơ sở hạ tầng hoặc dịch
vụ công cộng một cách hiệu quả đối với ngời dân. Rõ ràng là quá trình t
nhân hoá phụ thuộc vào các nguồn lực và trình độ quản lý của khu vực t nhân
trong việc vận hành các doanh nghiệp liên quan. Tính không hiệu quả của khu
vực công cộng không thể đơn thuần thay thế bằng tính không hiệu quả của khu
vực t nhân. Quá trình này cũng phụ thuộc vào việc liệu khuôn khổ pháp lý cần
thiết và các điều kiện khác, bao gồm một môi trờng cạnh tranh và năng lực
quản lý của khu vực t nhân, có tồn tại hay không.
Liên quan đến việc phân cấp và thúc đẩy sự phát triển khu vực t nhân,
trớc tiên cần phải chú ý rằng các Chính phủ có thể lựa chọn giữa hai thái cực
chính sách và hàng loạt các cách kết hợp giữa hai thái cực đó. Hai thái cực đó

23
là: (a) các chính sách hoạt động chủ yếu thông qua các lực lợng thị trờng; và
(b) các chính sách kiểm soát và mệnh lệnh hoạt động dới sự quản lý của
Chính phủ nhờ đó hàng hoá và dịch vụ đợc sản xuất theo các u tiên và qui
trình đợc xác định trớc về mặt chính trị, do vậy phần nào thay thế các cơ chế
thị trờng.
Gần đây, trớc sự phát triển mạnh mẽ của xu hớng toàn cầu hoá (TCH) và
của công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin, nhiều vấn đề lý thuyết mới đã
đợc đặt ra, trong đó có vấn đề về vai trò của Nhà nớc.
Trong cuốn "Toàn cầu hoá", Roland Blum đã đề cập tới "sự bất lực của Nhà
nớc theo khái niệm quốc gia" và cho rằng "Nhà nớc ngày càng bị những
nhân tố mới của toàn cầu hoá cạnh tranh. Đó là các hãng toàn cầu, các tổ chức
quốc tế chính phủ hay phi chính phủ cũng nh các tổ chức khu vực" (Roland
Blum: Toàn cầu hoá, 2000, tr. 33-34).
Đối với nhiều nớc đang phát triển, một trong những mối quan tâm lớn nhất
cũng là nền độc lập của mỗi quốc gia trong bối cảnh TCH và liên kết khu vực,
là vai trò của Nhà nớc có chủ quyền trong việc điều hành nền kinh tế và xã
hội của nớc họ, và vị trí của họ trong mối quan hệ với các nớc khác và với

đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghệ thông tin. Tuy nhiên, cái
mới trong bối cảnh TCH, TDH và trong sự bùng nổ của công nghệ thông tin là
ở chỗ dù Nhà nớc vẫn đóng một vai trò to lớn, nhng Nhà nớc đồng thời
cũng có rất nhiều hạn chế. Nhà nớc không thể độc quyền quyết định mọi thứ,
nhất là những thứ nằm trong tay ngời khác nh thông tin, vốn, công nghệ, thị
trờng. Để có đợc những thứ đó, Nhà nớc không thể không tự mình hiện đại
hoá, không thể không mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, tham gia hội
nhập quốc tế và khu vực, và mặc dù đóng vai trò quan trọng, Nhà nớc cũng
không thể không giành một mức độ tự do hoá cao cho các lực lợng thị trờng
ở ngay bên trong đất nớc mình và không thể không tăng cờng tính dân chủ,
minh bạch để đáp ứng những nhu cầu đa dạng của các nhóm lợi ích đa dạng
trong xã hội. Đi ngợc lại những xu thế đó của thời đại thì cả Nhà nớc, nền
kinh tế quốc gia và xã hội với t cách là tổng thể sẽ bị suy yếu, trì trệ, không
phát triển đợc, lúc đó không những không giữ đợc độc lập dân tộc nh
trớc,
mà ngợc lại, còn dễ bị tổn thơng và bị phụ thuộc hơn trớc. Bài học đó đã
đợc chứng minh là đúng đối với rất nhiều nớc. Hầu hết những nớc đẩy
mạnh phát triển giáo dục, công nghệ, cải cách, mở cửa, tăng cờng hội nhập
quốc tế và khu vực, mở rộng dân chủ, đều là những nớc giành đợc nhiều cơ
hội và thắng lợi trong TDH và TCH, hạn chế đợc những thách thức và tác
động tiêu cực của nó. Trái lại, hầu hết các nớc không phát triển mạnh giáo
dục, không tiếp thu công nghệ mới, không thực hiện cải cách, mở cửa, hội
nhập, hạn chế dân chủ, đều đã bị cô lập, trở nên trì trệ, rơi vào khủng hoảng
kinh tế-xã hội. Cùng với phát triển giáo dục, công nghệ, cải cách, mở cửa, hội
nhập, mở rộng dân chủ, nền độc lập của các nớc càng đợc bảo vệ tốt hơn, sự
phát triển của nền kinh tế quốc gia ngày càng cao hơn, dân giàu hơn, nớc
mạnh hơn, vai trò của Nhà nớc cũng đợc củng cố và nâng cao, mặc dù Nhà
nớc phải thay đổi cách thức quản lý của mình, chuyển dần từ quan liêu, mệnh
lệnh, trực tiếp can thiệp vào các hoạt động kinh tế, sang điều tiết có định hớng
dựa trên cơ sở của khuôn khổ pháp lý ngày càng đợc hoàn thiện hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status