MỤC LỤC
Bài tập lớn môn Luật quốc tế Page 1
I. Những vấn đề lý luận chung
1. Khái niệm môi trường
Có nhiều quan điểm khác nhau về môi trường. Tuy nhiên, môi trường sử
dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu như là mối liên
hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu
tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người.
Theo điều 1, Luật bảo vệ môi trường của việt nam định nghĩa môi trường: “
bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và thiên nhiên.”
2. Các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với con người cũng như sự phát
triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng này,
Việt Nam đã tích cực tham gia gần 20 công ước đa phương về bảo vệ môi trường
hoặc liên quan đến môi trường. Việt nam đã tiến hành chuyển hóa nội dung này
vào pháp luật việt nam trong các văn bản quy phạm pháp luật: Luật bảo vệ môi
trường, Bộ luật hàng hải, luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng; pháp lệnh về
tài nguyên khoáng sản, Pháp lệnh về kiểm dịch thực vật…
Một số điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia :
- Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế, 1944;
- Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe
dọa, 1973 (20/1/1994);
- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991).
- Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980);
- Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994);
- Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn, 1985 (26/4/1994);
Bài tập lớn môn Luật quốc tế Page 2
- Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, 1987
(26/1/1984);
nhập khẩu các thiết bị làm lạnh sử dụng CFC.
Với sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ, các bộ, ngành, các doanhnghiệp nước
ta hoạt động trong các lĩnh vực làm lạnh, hóa mỹ phẩm, dệt, khử trùng, sản xuất xốp,
phòng cháy chữa cháy… đã tích cực chuyển đổi sang công nghệ không dùng CFC.
Nên chỉ sau 10 năm tham gia Nghị định thư, chúng ta loại trừ được 50% lượng tiêu
thụ CFC và Halon và đến 01/01/2010 đã loại trừ hoàn toàn việc nhập khẩu và sử dụng
các chất nói trên. Với thành tích này, Việt Nam được Chương trình Môi trường của
Liên hợp quốc ghi nhận nằm trong nhóm nước có những đóng góp tích cực trong thực
hiện Nghị định thư Montreal.
Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) được thông qua tại Hội nghị Thượng
đỉnh về Môi trường và Phát triển do Liên hợp quốc tổ chức năm 1992 tại Rio de
Janeiro (Braxin) và chính thức có hiệu lực từ tháng 12/1994. Đến tháng 11/2011, đã
có 193 thành viên tham gia Công ước CBD. Công ước CBD được coi là công ước
quốc tế đầu tiên và duy nhất giải quyết một cách toàn diện các vấn đề về bảo tồn và sử
dụng bền vững đa dạng sinh học. Việc điều tra và tư liệu hóa nguồn gen là một trong
những nội dung quan trọng của Công ước. Công ước cũng đã đưa ra vấn đề quản lý
tiếp cận nguồn gen, tri thức truyền thống và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen,
tri thức đó. Bên cạnh đó, vấn đề an toàn sinh học đã được đặt ra và cụ thể hóa bằng
Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học. Các nội dung trong Công ước là cơ sở
cho các bên tham gia xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế phù hợp
nhằm bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền của mỗi quốc gia.
Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên của Công ước này từ ngày
16/11/1994. Kể từ đó đến nay, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm và đầu tư nguồn lực
Bài tập lớn môn Luật quốc tế Page 4
để thực thi các cam kết và nghĩa vụ đối với Công ước và quan trọng hơn nhằm bảo
tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và quý giá của
quốc gia. Sau gần 20 năm thực hiện Công ước CBD, hệ thống văn bản pháp luật về
quản lý, bảo tồn và sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) đã được xây dựng
và ban hành tương đối đầy đủ; điều tiết nhiều mảng khác nhau của lĩnh vực bảo tồn,
tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Công ước CBD và các Công ước khác mà Việt
đảm việc quản lý chất thải một cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe con người và môi
trường. các văn bản quan trọng nhất bao gồm: Thông tư số 1509/1997/TTLT-
BKHCNMT-BXD ngày 3/4/1997 về các biện pháp cấp bách trong quản lý chất thải
rắn ở các đô thị và khu công nghiệp; quyết định 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999
của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô
thị và khu công nghiệp; quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 02/4/2004 về việc
ban hành quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu
sản xuất.
Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước, tổ
chức và cá nhân thực hiện quản lý chất thải. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản
sinh ra chất thải, lưu giữu, vận chuyển, xử lý chất thải và trách nhiệm của cơ quan nhà
nước trong việc giám sát các hoạt động này được quy định tương đối rõ ràng trong
văn bản pháp luật, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại.
Để đảm bảo thực thi công ước đạt hiệu quả cao hơn, Luật bảo vệ môi trường
được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực ngày 1/7/2006 đã pháp điển
hóa một số quy định nằm rải rác trong các văn bản được ban hành trước đây. Luật bảo
vệ môi trường năm 2005 đã thiết kế một chương ( Chương VIII) về quản lý chất thải;
trong đó đã quy định rõ loại, tái chế, tái sử dụng cho tới xử lý từng loại chất thải gồm
chất thải rắn thông thường, nước thải, khí thải và chất thải nguy hại.
Bài tập lớn môn Luật quốc tế Page 6
Vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng được quy
định tại Điều 43 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.
Và các điều ước quốc tế khác về bảo vệ môi trường mà Việt Nam tham gia
cũng đã có những tác động rất lớn tới việc hoàn thiện các văn bản pháp luật về môi
trường ở Việt Nam.
Ngoài ra, việc tham gia các về bảo vệ môi trường còn có tác động về việc xây
dựng các cơ quan thực thi các điề ước quốc tế về môi trường. Cụ thể, sau khi tham gia
các điều ước quốc tế về môi trường Việt Nam đều đã xác định cơ quan nhà nước Việt
Nam là cơ quan Việt Nam của công ước cụ thể, ví dụ, Việt Nam đã xác định Cục kiểm
lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan của công ước đa dạng
đa dạng sinh học và ngăn ngừa kiểm soát ô nhiễm. Đồng thời xây dựng lộ trình
tham gia và thực hiện của Việt Nam đối với một số điều ước quốc tế về môi trường
khu vực và toàn cầu.
Thứ hai, củng cố, nâng cao năng lực thực hiện điều ước quốc tế của cơ quan
đầu mối, tăng cường trao đổi và hình thành cơ chế trao đổi thông tin, phổ biến kiến
thức về các điều ước quốc tế.
Thứ ba, nâng cao nhận thức về môi trường và việc thực hiện các quy định
pháp luật có liên quan đến các điều ước quốc tế về môi trường trong cộng đồng
quản lý và công chúng. Và tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi, học tập kinh
nghiệm nghiên cứu với các nước, đặc biệt trong khuôn khổ ASEAN và chuyên gia
nước ngoài về thực hiện điều ước.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật quốc tế,
Bài tập lớn môn Luật quốc tế Page 8
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2007.
3. Lê Mai Anh - Trần Văn Thắng, Luật quốc tế - Lí luận và thực tiễn,
Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001.
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật môi trường,
Nxb.CAND, 2013;
5. Công ước Luật Biển 1982;
6. Công ước viên về bảo vệ tầng ozon 1985
7. Nghị định thư Montreal;
8. Công ước về bảo tồn đa dạng sinh học
9. Diễn đàn khoa học, Việt Nam đóng góp tích cực vào bảo vệ tầng
ozon;
Bài tập lớn môn Luật quốc tế Page 9