VAI TRÒ KINH tế CỦA đa DẠNG SINH HỌC - Pdf 13

I.MỞ ĐẦU:
Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam
là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn
của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã
góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh
học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến
Điện, Nam Trung Quốc và Inđo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây
trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế
giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của
thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các
khu bảo tồn và Phát triển kinh tế).
Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự
nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài
người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ước tính giá trị của tài
nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi
năm (Constan Za et al-1997). Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học
trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất
nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam-
1995).
II. CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN:
Các hệ sinh thái của trái đất là cơ sở sinh tồn của sự sống cho cả trái đất và cả con
người. Các hệ sinh thái đảm bảo cho sự chu chuyển oxy và các nguyên tố dinh
dưỡng khác trên toàn hành tinh. Chúng duy trì tính ổn định và sự màu mỡ của đất
nói riêng hay của hành tinh nói chung. Các hệ sinh thái bị suy thoái thì tính ổn định
và sự mềm dẽo; linh động của sinh quyển cũng bị thương tổn
Các hệ sinh thái tự nhiên có giá trị thực tiễn rất cao: Rừng hạn chế sự xói mòn
của mặt đất và bờ biển, điều tiết dòng chảy, loại trừ các cặn bã làm cho dòng chảy
trở nên trong và sạch; các bãi cỏ biển, các rạn san hô ở thềm lục địa làm giảm
cường độ phá hoại của sóng, dòng biển, là nơi nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn và
duy trì cuộc sống cho hàng vạn loài sinh vật biển

loài và hệ sinh thái đó trong tương lai.
III. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN, HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ
VAI TRˆ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH H‰C:
1. Phương pháp tiếp cận:
Vai trò kinh tế là những giá trị trực tiếp của các sản phẩm từ ĐDSH được con
người khai thác và sử dụng. Do vậy, vai trò kinh tế của ĐDSH bao gồm 2 phạm vi
tiêu thụ mang tính thương nghiệp trên phạm vi Quốc tế và tiêu thụ trên phạm vi địa
phương, chúng thể hiện trên các mặt liên quan tới kinh tế dân sinh.
Theo một số tài liệu, ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con người một giá
trị tương đương 33.000 tỷ USD/năm. Trong Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt
Nam (1995) cũng ước tính, hàng năm việc khai thác tài nguyên nông, lâm nghiệp
và thủy sản của Việt Nam có giá trị tương đương 2 tỷ USD.
Lấy số liệu thực của năm 2004, riêng hàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam
đã có giá trị 2 tỷ USD. Ngành nông - lâm nghiệp hiện đang quản lý nguồn tài
nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn. Với giá khoảng 250 USD/m3 gỗ, thì hàng
năm chỉ riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệu giấy, ĐDSH đă cho giá trị khoảng 1,5 -
3,5 tỷ USD. Đó là chưa kể hàng năm rừng đă cung cấp các mặt hàng lâm sản ngoài
gỗ đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ USD cho xuất khẩu và cũng khoảng đó cho tiêu dùng
trong nước.
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ đáng
kể trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): gần 21%, ngành lâm nghiệp chiếm tỷ lệ
gần 1,1% và, ngành thủy sản chiếm tỷ lệ hơn 4% GDP.
Theo số liệu thống kê năm 1995, nhu cầu cây thuốc cho công nghiệp dược, mỹ
phẩm hương liệu khoảng 20.000 tấn/năm. Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu
thuốc khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20 triệu USD.
2. Hiện trạng và giải pháp:
Giá trị kinh tế của ĐDSH có thể nêu khái quát về các mặt sau đây
2.1.Cung cp lương thc v thc phm cho nhân loi:
ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước,
đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.

hơn 50 loài động vật hoang dã dùng làm thực phẩm, cung cấp bình quân
90kg thực phẩm cho mỗi người dân/năm, chiếm 40% trong khẩu phần bữa
ăn. Tại Zaire có khoảng 75% nhu cầu protein động vật được khai thác từ tự
nhiên ( động vật hoang dã).
Bên cạnh giái trị khai thác trực tiếp , ĐDSH đã cung cấp cho con người nhiều
loài vât nuôi và cây trồng. Ngày nay khi dân số không ngừng tăng lên, nạn đói
protein đang xảy ra trên diện rộng,nguồn lợi động vật hoang dã trên cạn và từ chăn
nuôi ngày càng không đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng thì hướng khai thác đạm từ
nguồn lợi thủy sản đang trở thành quan trọng.Do vậy, nguồn lợi này được xác định
khổng chỉ bằng trữ lượng hiện có ( khoảng 550 tỷ tấn) mà còn bằng sự tăng trưởng
thông qua năng suất sinh học của chúng theo thời gian. Nghề khai thác thủy
sản,dùng các công cụ khác nhau để thu hồi phần sản lượng gia tăng của nguồn lợi,
về thực chất đó cũng chỉ là một phương thức săn bắt tự nhiên. Trong thực tế nhiều
năm qua, việc khai thác trên nhiều vùng ven biển còn vượt quá lượng gia tăng của
nguồn lợi,gây ra sự suy giảm nghiêm trọng về năng suất khai thác kéo theo giảm
sút sản lượng của các đối tượng kinh tế, dẫn đến suy thoái và diệt vong nhiều loài,
đồng thời làm mất cân bằng sinh thái giữa các thành viên trong quần xã. Trong vài
chục năm trở lại đây, sản lượng khai thác thủy sản biển không tăng. Trung bình
mỗi năm chỉ đạt 94 triệu tấn, tương đương với 120 triệu con bò. Trong đó, 83% là
cá,sau là giáp xác 4,6%, thân mềm 7,1%, rong tảo 4,1% , số còn lại là giun biển,
cầu gai và thú biển. Những nghiên cứu của P.A.Moixev (1969) và chuyên viên của
FAO ( 1987) cho thấy đại dương cũng chỉ có khả năng cung cấp cho con người
mỗi năm 100 triệu tấn hải sản, còn vượt quá nguồn lợi biển sẽ rơi vào tình trạng
suy giảm. Để phát triển bền vững, nghề cá phải khai thác hợp lý, duy trì và phát
triển nguồn lợi, bảo vệ nơi sống và tính ĐDSH ; khai thác hợp lý nguồn lợi thủy
sản la lấy đi một phần nguồn lợi, tương ứng với sự gia tăng hàng năm của nguồn
lợi đó. Đối với khai thác tự nhiên, trong thành phần cá thể đánh bắt, nếu tỷ lệ
những cá thể già quá cao, tức là khai thác chưa đến mức mà tiềm năng, có thể gây
nên sự giảm sút về số lượng và suy giảm trữ lượng của chủng loại. Những cá thể
có tuổi cao trong quần thề thường có chất lượng cao, giá trị thương phẩm lớn,

năm 1950 lên 68,5 triệu tấn năm 2005, tương đương với giá trị 80,3 tỷ USD.
Ở Việt Nam, bộ Thủy sản đã quy hoạch đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu
thủy sản phải đạt 4,5 tỷ USD. Trong thủy sản nuôi, cá là nhóm đứng đầu về
sản lượng (49,5%) và giá trị (53,9%), tiếp đến là thực vật thủy sinh đứng thứ
hai về khối lượng (23,4%) và đứng thứ tư về giá trị (9,7%) , giáp xác ( tôm,
cua) đứng thứ hai về giá trị ( 20,4%) sau cá, nhưng đứng thứ tư về sản
lượng; tiếp theo sau là nhuyễn thể và các động vật nuôi khác. Hai khu vực
nuôi trồng thủy sản lớn nhất Thế giới là ở Đông bán cầu bao gồm Thái Lan,
Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam,… và ở Tây bán cầu chủ yếu gồm các
nước Mỹ La Tinh như Ecuador , Mexico, Colombia, Panama,…
Vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm cho loài người là vấn đề nan giải
nhất. Hiện nay còn hơn 640 triệu nhân khẩu , chiếm hơn 10% số dân Thế
giới đang còn bị đói nghèo, thiếu lương thực và khoang hơn 100 triệu, chiếm
hơn 16% dân số đang lâm vào nạn đói protein. Để khắc phục sự thiếu hụt về
lương thực, thực phẩm này người ta chỉ có thể nghĩ ngay đến nuôi trồng và
khai thác biển. Trong tương lai, nếu áp dụng khoa học kỹ thuật để thực hiện
công việc nuôi trồng các loài thủy sản theo quy mô công nghệ sinh học khép
kín, từ việc thiế kế ao đầm, trang trại sản xuất giống, chủ động thức ăn, đến
việc vệ sinh phòng dịch, quản lý khai thác chế biến,… nhằm biến vực nước
tự nhiên thành các cơ sở sản xuất mang tính công nghệ tiên tiến cho năng
suất cao, thì chúng không nhưng bổ sung lượng sản phẩm biển mà còn khai
thác tự nhiên không bù đắp nổi mà còn có vai trò quan trọng hơn nhiều là
duy trì và phát triển nguồn lợi, nhất là các loài thủy đặc sản, những loài đang
suy giảm sản lượng, có nguy cơ tuyệt chủng, đồng thời cung cấp nguồn
giống trả lại cho biển, khi nghề nuổi thả biển thực hiện và phát triển.
Đồng cỏ và các loài thực vật hoang dã đã giúp ích cho chăn nuôi. Các nguồn
gen của sinh vật hoang dã đã tạo ra nhiểu giống cây trồng, vật nuôi cho năng
suất cao, tính chống chịu tốt với bất lợi của môi trường .Các tài nguyên di
truyền được sử dụng để cải thiện những loài đã được thuần hóa có giá trị
hàng tỷ USD mỗi năm. ChŒng hạn theo Mayer (1983) quần thể một “ giống

nếu được quản lý tốt sẽ cho một khối lượng sản
phẩm sinh vật hoang dã có giạ trị tối thiểu 10 triệu USD/ năm hay trung bình hơn
200 USD/ năm/ha/ .Thu nhập này lớn hơn so với thu nhập từ khai thác gỗ thương
mại trên cùng một diện tích ( 150USD/ha). Đó là chưa kể khi quản lý tốt, rừng
nhiệt đới sé tái tạo rất nhanh, nguồn lợi mỗi năm tăng gấp 15-20 lần sinh khối vốn
có ban đầu của chúng. Những sinh vật hoang dã họ hàng vơi những loài động vật,
thực vật nuôi và tài nguyên di truyền của chúng cũng có giá trị thương mại.
2.3.ĐDSH l nguồn cung cp dược liệu:
Nhiều loại đông thực vật hoặc các sản phẩm của chúng dùng để bào chế
ra nhiều loại thuốc chữa bệnh khác nhau. Đặc biệt một số thuôc chữa bệnh
hiểm nghèo không một công nghệ hiện đại nào có thể bào chế được mà phải
thu nhận từ ĐDSH.
Trên Thế giới, hiện nay người ta đã thông báo có trên 21.000 loài cây
dược liệu. Schutes (1999) thông báo có hơn 300 loài cây được người bản xứ
vùng Amazôn trồng là nguồn thuốc chữa bệnh rất hiệu quả. Tương tự, ở
Đông Nam Á có đến 6.500 loài, ở Ấn Độ 2.500 loài Trung Quốc 5.000 loài
và ở Việt Nam 4000-5000 loài. Theo Farnwarth ( 1988) có tới 80% dân số
Thế giới sử dụng nguồn dược liệu truyền thống. Ở Hồng Kông, năm 1951
nhập 190 triệu USD thuốc dân tộc, 70% trong số đó được tiêu thụ ở phạm vi
địa phương, trong khi ngân sách để nhập thuốc Tây y là 80 triệu USD
( Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005). Khoảng 1.119 chất hóa học tinh khiết được
chiết ra từ 90 loài thực vật bậc cao khác nhau để dung làm thuốc trên Thế
giới.Viêc chiết rút ra thành công Aspirin để chữa một số bệnh thông dụng là
một ví dụ điển hình. Ở rừng Việt Nam ta cũng có nhiều cây, con cho dược
liệu quý. ChŒng hạn, cây Trầm hương ( Aquilaria crasma ) cho tinh dầu xuất
khẩu và là vị thuốc quý hiếm, đắt tiền, để chữa bệnh đau bụng, thuốc bổ dạ
dày, đau ngực, hen suyển, bí tiểu tiện,giảm đau,…Cây Sâm ngọc linh
( Panax vietnamensis) là loài vừa cho những giá trị dược liệu quý, vừa mang
tính đặc hữu hẹp, phân bố ở vung Tây Quảng Nam và vung núi Ngọc Linh,
tỉnh Kom Tum. Theo kết quả bước đầu sắc ký trên giấy, loài Sâm này có tới

sữa, thiếu sữa,… Đáng kể nhất là nguồn dược liệu được cung cấp từ các loài
bò sát. Đa số các loài rắn, nhất là rắn độc đều cho nọc để chiết rút dược liệu
chữa bệnh hiểm nghèo, chế tạo huyết thanh chống nọc; Các loài trăn cho
mỡ, mật chữa bệnh nấm da, sát trùng và kích thích phân bào da làm liền vết
bỏng; Rượu của các loài rắn là thuốc bổ toàn thân, chống đau lưng, suy
thoái cột sống và phong thấp, đau khớp.Mật,gan các loài Kỳ đà (Varanus
spp.) chữa bệnh hen, suyễn,tật nực,… Đuôi loài Tắc kè (Gekko gecko) chữa
bệnh liệt dương và tăng cường sinh tinh cho nam giới. Mai và yếm của tất cả
các loài rùa, kể cả rùa cạn và rùa nước đều dùng nấu cao quy bản, là thuốc
bổ quan trọng chon am giới và phụ nữ. Đa số các loài sinh vật là kho chưa
tiềm tàng các loại vitamin, chất khoáng,hormol, các axit amin đặc hiệu khác,
… Nhiều loài động, thực vật hoặc một số bộ phận của chung là nhưng món
ăn “ hạnh phúc “, có thể dùng thay thế cho các viên thuốc dược liệu hiện đại
được bào chế từ công nghệ tiên tiến như “Viagra “ của Mỹ hay “Viagro” của
Nhật nhằm giúp cho quý ông và quý bà cải thiện được khả năng “ yêu kém”
của mình. Những món ăn “ hạnh phúc” được lấy từ động vật như các loài
thú ăn thực vật ( Rodentia, Actiodactyla), chim Bìm bịp (Centropus spp.)
Rùa cạn (Turtudinata), Kỳ đà (Varanidae), các loài Cá ngựa (Hypocampus
spp.),… sẽ kích thích sự hưng phấn của nam giới và ức chế tính lãnh cảm
của nữ giới bằng con đường thể dịch ( thông qua hormol sinh lý ). Gần đây,
viện Công nghệ Sinh học thuộc Trung tâm Khoa hoch và Công nghệ Quốc
gia ( Hà Nội) đã công bố chế tạo thành công viên nang chứa testosterone
được chiết rút từ Hải sâm và các loài rắn biển để tăng lực và tráng dương
cho nam giới, kích thích sự hoạt động cơ bắp cho các vận động viên thể
thao.
Cho đến nay, với trình độ phát triển khoa học công nghệ khá hiện đại,
song cũng mới khám phá được một phần rất nhỏ những giá trị dược liệu vốn
có của ĐDSH.
sâm ngọc linh
2.4.Du lịch sinh thái l một loi hình thu ngoi tệ phong phú:

Du lịch sinh thái hiện đang phát triển ở vùng biển ven bờ, nơi có nhiều
bãi tắm đẹp, nhiều núi đá ăn sâu ra biển , nhiều thảm cỏ biển, nhiều vùng
nước biển trong xanh, nhiều rạn san hô dài rộng, nhiều loài cá, bò sát, chim
biển đẹp. Ở những vùng núi này đang phát triển một loại hình du lịch mạo
hiểm, du lịch leo núi, du lịch lặn biển, du lochj quan sát HST san hô, du lịch
thể theo,… Tất cả các hoạt động này đều phải dựa vào các thành phần vốn
có của ĐDSH, HST, cảnh quan tự nhiên và môi trường.
Những giá trị lợi nhuân từ du lịch sinh thái ngày càng tăng cao. Du lịch sinh
thái có thể là một trong những biện pháp hiệu quả đối với việc bảo vệ đa
dạng sinh thái, nhất là khi hoạt động này được tổ chức một cách khoa học và
phối hợp chặc chẽ với việc quản lý và bảo tồn tổng hợp. Tuy nhiên, cũng cần
tránh việc xây dựng cơ sở hạ tầng quá sang trọng, hiện đại và ít quan tâm
đến việc tổ chức cho du khách quan sát những vấn đề về cảnh quan, môi
trường và ĐDSH. Du lịch sinh thái cũng có thể làm tổn hại đến ĐDSH ở
những môi trường nhạy cảm. Ví dụ, như du khách có thể vô tình hái hoa
những hoa dại, làm hư hại những giải san hô, gây tiếng ồn ào náo động ở
một số khu vực có nhiều loài động vật ( thú, chim,…).
Phát huy thế mạnh du lịch sinh thái là điều tất yếu đối với các quốc gia, các
vùng có điều kiện tốt về ĐDSH, nhằm đưa du lịch thành thế mạnh trong phát
triển kinh tế, song phải được phát triển trong xu thế hội nhập, hài hòa, thân
thiện và mang tính bền vững.
Du lịch sinh thái
2.5.Đa dng sinh học l nguồn cung cp các loi sinh vật cảnh:
ĐDSH còn là nguồn cung cấp nhiều loài sinh vật cảnh để phục vụ giải trí,
thương mại hay nuôi bán tự nhiên. Động vật cảnh và cây cảnh là những mặt
hàng có giá trị trên thị trường Quốc tế. Việc phát hiện, thuần hóa và nuôi
trồng sinh vật cảnh đã có một lịch sử lâu dài so với sinh vật làm thực phẩm.
ChŒng hạn, hoa Lili đã được trồng ở Trung Hoa với mục đích làm cảnh và
làm thuốc cách đây 2.000 năm. Bồ câu làm cảnh, đưa thư, cá cảnh, chim
cảnh cũng đã được thuần chủng từ hơn 2.500 năm. Tổng giá trị xuất khẩu

nghiên cứu và góp phần nâng cao kiến thức, tăng cường tính giáo dục và vốn
sống cho con người.
ĐDSH đóng góp vào trì thức con người thông qua những sinh vật chỉ thị
môi trường. Những loài nhạy cảm đặc biệt đối với chất độc có thể trở thành
hệ thống báo động sớm cho việc quan trắc hiện trạng môi trường ( Phạm
Bình Quyền, 1999). Một số loài đã và sẽ được dùng như những công cụ thay
thế cho máy móc quan trắc đắt tiền. Chằng hặn, địa y sống trên đá báo hiệu
cho việc ô nhiễm môi trường khí và độ ẩm giảm thấp; hải âu, nhạn biển và
một số loài sứa sẽ có mối liên quan hữu cơ với động vật, thay đổi khí áp
hoặc bão từ,… các loài động vật thân mềm như trai, sò,… sốn trong các thủy
vực là những sinh vật chi thị hữu hiệu cho việc quan trắc môi trường, biến
động chế độ triều ở các vùng ven bờ.
Những vai trò đó, nếu con người biết nhận thức đúng thông qua giáo dục
tri thức sẽ tiết kiệm được nguồn kinh phí không nhỏ cho việc lắp đặt các
công nghệ đắt tiền không phù hợp với các quốc gia có nền kinh tế chưa phát
triển và có tính ĐDSH cao.
IV. NHỮNG GIÁ TRỊ TIỀM ẨN CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC:
Cho đến nay, nhiều giá trị ĐDSH chưa được con người nhiên cứu khám
phá. Người ta ước tính mới chỉ có khoảng 5% giá trị dược liệu của ĐDSH đã
khai thác, sử dụng. Nhiều giá trị khác của ĐDSH có khả năng sử dụng vào
mục đích kinh tế trong phát triển sản xuất chưa được nghiên cứu. ChŒng
hạn, những chuyên gia côn trùng cần phải tìm kiếm them nhiều loài thiên
địch, môi quan hệ giữa các loài trong đấu tranh sinh học để phòng trừ sâu
bệnh. Các nhà vi sinh vật cần tìm kiếm các nhóm vi khuẩn, xạ khuẩn và
nhiều nhóm khác có thể trợ giúp cho các quá trình nâng cao năng suất sản
xuất. Những nhà động vật có thể lựa chọn một số loài có khả năng sản xuất
nhiều protein mà không gây ảnh hưởng đến môi trường. Các nhà y học,
dược học phải phát hiện nhiều loài, bộ phận của động thực vật có khả năng
bào chế thuốc chữa bệnh, nhất là chữa các bệnh hiểm nghèo. Việc phát hiện
ra hóa chất chữa bệnh ung thư hoặc nghiện trong cây thùy tùng vùng Thái

giá trị dược phẩm để phòng chống các bệnh nan y. Về thực phẩm gen hiện
đang có bạn rộng rãi ở châu Âu và châu Mỹ thì chưa thể chứng minh được
chung an toàn tuyệt đối và cũng chưa có bằng chứng khoa học vững chắc
nào là chúng không an toàn.
Trong Y học, hàng loạt các kỹ thuật di truyền phân tử đã dần được hoàn
thiện để sử dụng trong việc chuẩn đoán những bệnh nhiêm trùng, bệnh di
truyền, chuẩn đoán sớm giới tính và nhiều bệnh di truyền hiểm nghèo khác.
Nhiều kỹ thuật đã được hoàn thiện để giúp xác đinh quan hệ huyết thống, trợ
giúp đắc lực khoa học hình sự. Nhiều lĩnh vực ứng dụng mới lạ được mở ra
như tạo vật liệu mới bằng kỹ thuật di truyền, tạo ra các “ con chip “ sinh học
như dùng cho máy tính,…
Theo đó, cuộc cách mạng công nghệ sinh học là một thực tế của hieenjt ại
và tương lai. Nó đã bắt đầu sơm hơn cả những dự đoán của các nhà viễn
tưởn lạc quan nhất. Tuy nhiên cũng như các khoa học khác, một khi đạt
được đến đỉnh cao của sự phát triển thì ngoài những lợi ích hiển nhiên đem
lại cho loài người cũng tiềm ẩn những rủi ro và bất ổn có thể có về cả hai
phương diện: ngẫu nhiên và cố ý.
Về ngẫu nhiên, có thể do kỹ thuật, phần lớn các sinh vật chuyển gen đều
mang theo cac gen kháng thuốc kháng sinh thông thường. Các sinh vật này
khi đem sản xuất đại trà thể AND của chúng cũng nhân lên, trong đó có cả
các gen kháng sinh. Các gen này có thể chuyển vào vi khuẩn rồi xâm nhập
gây bệnh cho con người và cây trồng vật nuôi.
Còn trường hợp không loại trừ là con người cố ý tạo ra các sinh vật có hại
như vi trùng, vũ khí sinh học va theo đó hiểm họa cho ĐDSH vô cùng to
lớn.
V. KẾT LUẬN:
Đa dạng sinh học đem lại những vai trò thực sự to lớn cho con người từ khi
có sự sống trên trái đất đến nay. Đa dang sinh học đang bi đe dọa nghiêm
trọng vì vậy chúng ta phải có các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học hợp lý
trong việc khai thác sử dụng chúng. Bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học gắn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status