Các Rào cản đối với Thương mại Tự do
Các hàng rào phi thuế quan tại Liên minh Châu Âu, Nhật
Bản và Hoa Kỳ
David Hanson
Phó Giáo sư ngành Kinh doanh Quốc tế, Đại học Duquesne,
Pittsburgh, Hoa Kỳ
Edward Elgar
Cheltenham, Vương quốc Anh – Northampton, MA, Hoa Kỳ
Danh mục chữ viết tắt vii
1. Tình thế lưỡng nan của thương mại tự do 1
2. Các Hiệp định Quốc tế 22
3. Khái quát chính sách thương mại của Hòa Kỳ 46
4. Các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại Hoa Kỳ 59
5. Khái quát chính sách thương mại của EU 101
6. Các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại EU 112
7. Khái quát chính sách thương mại của Nhật Bản 136
8. Các vấn đề tranh chấp trong thực tiễn thương mại tại Nhật Bản 147
9. Quan điểm so sánh 173
10. Triển vọng cải tổ 195
Phụ lục 207
Danh mục Bảng biểu
1.1 Tầm quan trọng ngày càng lớn của thương mại trong nền kinh tế quốc gia 9
1.2 Tầm quan trọng của EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ đối với thương mại toàn cầu: 2004 11
2.1 Số liệu các vụ tranh chấp thương mại liên quan đến 3 nước (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) 28
3.1 Thương mại Quốc tế và nền kinh tế Hoa Kỳ 49
3.2 Sự phát triển tương đối và giảm sút sản xuất 49
3.3 Dân số thành thị Hoa Kỳ giai đoạn 1990 – 2006 50
4.1 Các vấn đề trong chính sách thương mại Mỹ trong năm 2002 và 2007 60
4.2 Các vấn đề mới nổi năm 2007, không được nêu trong năm 2002 83
4.3 Các vấn đề trong chính sách thương mại Hoa Kỳ đưa ra vào năm 2002 và
đã được giải quyết trước năm 2007 89
5.1 Hỗ trợ thay đổi đối với EU 108
5.2 Tỉ lệ thất nghiệp tại EU 109
6.1 Các vấn đề trong thực tiễn thương mại EU trong năm 2002 và 2007 113
6.2 Các vấn đề mới nổi năm 2006/2007 121
HLS An ninh Nội địa (Hoa Kỳ)
IPPC Hội đồng Bảo vệ Thực vật Quốc tế
IPPC Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật
IPR Quyền Sở hữu Trí tuệ
METI Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (Nhật Bản)
MFN Nguyên tắc Đãi ngộ Tối huệ Quốc
NCSCI Trung tâm Tiêu chuẩn và Chứng nhận Quốc gia
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Quốc tế
OIE Tổ chức Dịch tễ Động vật Quốc tế
OSHA Cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (Hoa Kỳ)
SCM Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng
SPS Các tiêu chuẩn Vệ sinh và Kiểm dịch Động Thực vật
TBT Các Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại
USTR Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
1
1. Tình thế lưỡng nan của thương mại tự do
Nhận thấy rằng những mối quan hệ trong lĩnh vực thương mại và các nỗ lực kinh tế cần được tiến
hành trên cơ sở nhằm nâng cao mức sống, đảm bảo trạng thái toàn dụng lao động và sự gia tăng
ổn định của thu nhập thực tế cùng với nhu cầu thực tế, khai thác triệt để các nguồn lực của xã hội,
mở rộng sản xuất và tăng cường trao đổi hàng hóa,
Mong muốn đóng góp cho những mục tiêu trên bằng cách tham gia vào những thỏa thuận đôi bên
cùng có lợi, nhằm giảm đáng kể thuế quan và những rào cản thương mại khác, đồng thời loại bỏ
sự phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế,
Thông qua Đại diện Thương mại của mình, các bên đã nhất trí những điều khoản sau đây:
(Lời tựa, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (1947),
www.wto.org/english/docs_e/legal_e/gatt47_01_e.htm
2.1 Luận đề: Thương mại là quan trọng
Hầu hết các nhà kinh tế đều đồng tình với luận đề trên. Các chính sách kinh tế nên được thực hiện
nhằm tối đa hóa phúc lợi quốc gia. Thước đo phúc lợi lại là giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất
và tiêu dùng tại quốc gia đó. Mở rộng thương mại nên hướng đến gia tăng các phúc lợi kinh tế. Sự
phát triển kinh tế này tuân thủ theo quy luật tối ưu Pareto. Tất nhiên sẽ có kẻ thắng người thua, tuy
nhiên phần được của người thắng sẽ lớn hơn phần mất của người thua. Nếu tính trung bình, tất cả sẽ
“được” nhiều hơn.
Trường phái chính sách liên quan tới phân tích này có thể được gọi là “thương mại tự do cổ điển”.
Đối với các quốc gia áp dụng trường phái thương mại tự do cổ điển này, mục tiêu quan trọng nhất là
tự do hóa thương mại. Thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa không phải là vấn đề quá
quan trọng. Tỷ giá hối đoái thả nổi sẽ dần dẫn tới sự cân bằng giữa các nguồn lực đầu ra và đầu vào
tại một quốc gia. Đồng thời, người thắng kẻ thua sẽ được đánh giá thông qua thanh toán chuyển giao
nội bộ (Krugman, 1997).
Nếu phân tích này là đúng đắn thì các quốc gia nên ủng hộ thương mại tự do. Rất ít chính sách công
có thể mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Trên thực tế, một nhà kinh tế học có thể kết luận rằng
mở rộng thương mại đã đóng góp cho 1/3 tăng trưởng kinh tế toàn cầu kể từ Chiến tranh Thế giới II.
Mở rộng thương mại cũng khuyến khích những yếu tố khác như cải tiến sản xuất hay cắt giảm chi phí
sản xuất (Baier và Bergstrand, 2001).
Rất dễ dàng để nhận ra những nguyên nhân dẫn đến mối tương quan giữa thương mại và phát triển
kinh tế. Nếu không có thương mại, tất cả chúng ta đều phải tự cung tự cấp mọi mặt hàng chúng ta
cần. Không có trường học, không có xe hơi, không có McDonalds; cuộc sống sẽ trở nên không thể
chịu đựng nổi. Thương mại cho phép chúng ta chuyên môn hóa vào những lĩnh vực mà chúng ta có
thể sản xuất hiệu quả nhất. Khi chúng ta sử dụng các hàng hóa và dịch vụ mà người khác cung cấp,
họ cũng có thể sử dụng các hàng hóa và dịch vụ của chúng ta.
Mọi người đều có những lĩnh vực mà mình có thể sản xuất tương đối hiệu quả hơn so với người khác.
Thông qua các thị trường, chúng ta có cơ hội để tập trung vào lợi thế cạnh tranh của mình. Nếu Trung
Quốc có thể sản xuất những dụng cụ nhà bếp tốt hơn chúng ta, hãy để cho họ sản xuất và làm chủ thị
trường mặt hàng đó. Ngược lại, họ sẽ tiêu thụ ngũ cốc của chúng ta, mặt hàng mà chúng ta có lợi thế
cạnh tranh hơn. Như vậy, tất cả mọi người đều sẽ được hưởng lợi từ việc chuyên môn hóa thông qua
các thị trường.
một phân khúc thị trường tiềm năng nhỏ hơn. Tuy nhiên, bù lại, các doanh nghiệp thường cố gắng
mở rộng thị trường sang nước ngoài. Có thể đưa ra một kết luận chung khác: nếu phạm vi thương mại
không được mở rộng, sẽ rất khó khăn để tìm kiếm những thị trường ngách cho các sản phẩm chuyên
dụng, đặc thù.
Sự kết hợp của những công nghệ mới đắt tiền, chi phí phát triển gia tăng cùng với các yêu cầu khắt
khe của thị trường đã thúc đẩy những đòi hỏi về vốn cho phát triển sản phẩm mới trên rất nhiều lĩnh
vực sản xuất. Chi phí cận biên của việc sản xuất một chiếc xe hơi mới là khá nhỏ; mất khoảng 10h
lao động để sản xuất thêm một chiếc xe mới (Womack, Jones và Roos, 1997). Tuy nhiên, chi phí bình
quân lại cao hơn rất nhiều. Chi phí này còn bao gồm cả chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí hoạt
động của doanh nghiệp. Các loại chi phí này thường khá cao. Các kỹ sư thiết kế những mẫu xe hơi
mới cần phải cân bằng giữa yêu cầu bắt buộc của chính phủ về sự an toàn, yêu cầu của thị trường
nhiên liệu với những yêu cầu của thị trường về các loại phương tiện với kiểu dáng cuốn hút, tiện
nghi, đáng tin cậy và tiết kiệm. Quá trình phát triển những chiếc xe hơi thỏa mãn tất cả những yêu
cầu trên tốn kém khoản chi phí rất lớn.
Do chi phí để phát triển sản phẩm mới là rất cao, các nhà sản xuất xe hơi đã hình thành nên những
liên minh quốc tế để chia sẻ các thiết kế và công nghệ. Các nhà máy sản xuất xe hơi mới sẽ tốn kém
4Tình th
hàng tỷ đô la. Do vậy, những khoản đầu tư này sẽ chỉ được cân nhắc khi các nhà sản xuất có thể bán
sản phẩm của mình trên thị trường toàn cầu.
Sức ép tìm kiếm thị trường ngách và chi phí vốn tăng cao cho thiết kế, phát triển và sản lượng có khả
năng còn lớn hơn trong tương lai. Do đó, đầu tư vốn cần thiết để cạnh tranh trong sản xuất sẽ tiếp tục
tăng. Và kết quả là sức ép mở rộng thị trường và củng cố sự vững mạnh của doanh nghiệp chắc chắn
sẽ còn tiếp tục tăng trong tương lai.
Cuối cùng, thương mại có thể sẽ làm giảm lợi ích quốc gia trong chiến tranh và khai thác vùng đất
mới trên thế giới (Barbieri và Levy, 1999; Hegre, 2000; Anderton và Carter, 2001a, 2001b; Barbieri
và Levy, 2001; Dorussen, 2002). Friedman (1999) đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã đặt ra
Tình thcủa chính phủ. Chi phí thu thuế có thể được cắt giảm nếu chính phủ tạo ra các ưu đãi cho nhóm
doanh nghiệp tư nhân.
Các chươn trình của chính phủ thường có khuynh hướng hạn chế thương mại. Về mặt chính trị, lợi
thế sẽ nghiêng về bên nào mạnh hơn và được tổ chức tốt hơn. Dước sức ép kinh tế, các bên thường sử
dụng những mối quan hệ chính trị để bù đắp cho những thiếu hụt về sức mạnh thị trường. Công nhân
muốn có luật điều chỉnh mức lương tối thiểu, người tiêu dùng muốn có những tiêu chuẩn an toàn cho
sản phẩm, các nhà sản xuất nội địa muốn được bảo hộ bằng thuế quan còn người nông dân lại thường
mong muốn được trợ cấp. Tất cả những chính sách trên đều tạo ra những hạn chế cho thương mại tự
do. Chính phủ cũng làm thu hẹp lợi ích của thương mại. Thuế quan hạn chế thương mại thông qua
chuyển dịch nguồn lực từ nền kinh tế trao đổi sang nền kinh tế chỉ huy. Nếu thị trường không tự vận
động, các bên tham gia thị trường sẽ cảm thấy không thỏa đáng và hài lòng với những kết quả của thị
trường.
Cách thức tổ chức chính phủ thường khuyến khích sự quan tâm vào một số ít những người tâm huyết
hơn là một số đông những người bình thường, ngay cả khi sự phát triển của nền kinh tế thường gắn
liền với lợi ích của số đông những người bình thường. Có thể tồn tại một nghịch lý ở đây. Phá bỏ một
cam kết nhỏ trong thương mại tự do có thể là một sự giải tỏa đáng kể cho một bộ phận nhỏ tâm
huyết, với thiệt hại nhỏ với số đông những người bình thường. Tuy nhiên, một chính phủ can thiệp
quá nhiều để bảo vệ nền kinh tế của họ trước những thiệt hại mà thương mại tự do có thể gây ra, cũng
đồng nghĩa với việc sẽ làm mất đi chính những lợi ích vốn có của thương mại.
Trong lịch sử, ủng hộ thương mại tự do là một điều dị thường. Ngay từ khi văn minh nhân loại mới
hình thành và phát triển, các quốc gia lớn mạnh đã sử dụng vũ lực quân sự để chiếm giữ đất đai nhằm
giành lấy những đặc quyền về thương mại. Động lực chính để Alexander Đệ Nhất chinh phục một
phần lớn của thế giới có lẽ là để tăng nguồn thu thuế và tăng nhân lực cần thiết phục vụ cho quân đội
của mình, đồng thời cũng mở rộng thị trường giúp các thương gia người Macedonian và người Hi
Lạp có thể buôn bán dễ dàng hơn. Có lẽ cũng chính nguyên do ấy đã khiến nước Anh xâm chiếm Ấn
Độ và biến đất nước này thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ mạt cho mẫu quốc, đồng
thời cũng chính là một thị trường tiêu thụ được đảm bảo cho các nhà sản xuất nước Anh.
thay đổi các trường hợp có thể làm thay đổi sự cân bằng giữa thương mại và chế độ bảo hộ.
Trước Chiến tranh Thế giới II, các cuộc đàm phán thuế quan thường dựa trên cơ sở đàm phán song
phương. Chính phủ Hoa Kỳ có thể chấp nhận cắt giảm thuế quan đối với sản phẩm da giày nếu
Canada hạ mức thuế đối với sản phẩm bít tất. Điều này dẫn đến một sự khác biệt lớn trong việc phân
loại và mức thuế suất áp dụng cho cùng một mặt hàng tại những quốc gia khác nhau. “Thiết lập thuế
quan” đang dần trở thành một nghề nghiệp hấp dẫn.
Cấu trúc của những cuộc đàm phán thuế quan quốc tế thường ủng hộ mức thuế quan cao một cách
tinh vi. Nếu cả Hoa Kỳ và Canada cùng đàm phán về mức thuế quan áp dụng với một sản phẩm thì
các nhà sản xuất sản phẩm đó tại cả hai quốc gia đều sẽ vận động hành lang để có thêm nhiều sự bảo
hộ hơn. Vận động hành lang để sản phẩm có giá thấp hơn thông qua cạnh tranh thương mại quốc tế sẽ
là quá nhỏ và quá yếu để đạt được hiệu quả.
Giai đoạn từ năm 1914 đến 1948 là cơ hội cho sự phát triển của những hàng rào thương mại chính.
Mặc dù Hòa Kỳ không tham gia vào Chiến tranh Thế giới I cho tới năm 1917, những mâu thuẫn
trong nội bộ Châu Âu đã dẫn tới những rào cản lớn đối với thương mại, đặc biệt là thương mại đồng
minh với Đức (Polanyi, 1944).
Môi trường chính trị tại Hoa Kỳ sau Chiến tranh Thế giới I diễn ra khá biệt lập với thế giới bên ngoài.
Một ví dụ điển hình là việc Chính phủ Hoa Kỳ từ chối tham gia vào Hội Quốc Liên, một tổ chức đã
được ủng hộ bởi chính Tổng thống Hoa Kỳ. Một ví dụ khác liên quan trực tiếp đến vấn đề đang thảo
6Tình thluận của chúng ta chính là sự ban hành luật thuế Smoot Hawley vào năm 1930 (Schaffer, Earle và
Agusti, 2008, tr. 272). Mục đích của luật thuế này chính là bảo vệ nền công nghiệp Hoa Kỳ khỏi sự
cạnh tranh quốc tế trong giai đoạn đầu của Đại Suy Thoái. Thuế quan được đẩy lên mức cao nhất
trong lịch sử Hoa Kỳ (Schaffer, Earle và Agusti, 2008, tr. 256). Mức thuế áp dụng với các sản phẩm
công nghiệp lên tới 60% theo giá trị (ad valorem) vào năm 1938 (Irwin, 1999).
Có thể dự đoán rằng các đối tác thương mại của Hoa Kỳ cũng tiến hành trả đũa bằng cách tăng mức
Tình th
từng khu vực sẽ được trình bày dưới đây. Tuy nhiên, phần lớn các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định
vẫn được giữ nguyên.
Sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 1995 đã dẫn tới hàng loạt những cuộc đàm phán về
các thỏa thuận thương mại đa quốc gia mới và sự mở rộng của những cuộc đàm phán thương mại đã
thành công trước đó.
Kết quả từ tự do hóa thương mại, quyền lực ngày càng tăng của các Chính phủ Châu Á và sự xuất
hiện của những công nghệ mới làm giảm đáng kể chi phí di chuyển nhân công, hàng hóa và thông tin
đã mang lại những kết quả đầy ấn tượng. Thương mại gia tăng với tốc độ tăng trưởng vượt xa kết quả
đầu ra cả toàn nền kinh tế. Ví dụ, xem xét tầm quan trọng của thương mại hàng hóa quốc tế ngày
càng đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế quốc gia. Mức độ thâm nhập thương mại được đo
bằng tổng giá trị các hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu chia cho GNP. Số liệu minh họa được thể hiện
trong bảng 1.1.
Thật không may, những nhu cầu chính trị đối với thương mại tự do dường như đang giảm dần. Chiến
tranh lạnh đã không còn nữa. Liên bang Nga đã dần hội nhập với hệ thống thương mại toàn cầu.
Những lo ngại về sự thù địch bên ngoài và nguy cơ chiến tranh toàn cầu dường như đã không còn tồn
tại. Nhu cầu chính trị về việc sử dụng thương mại tự do như một hệ tư tưởng toàn cầu đã trở nên
không cần thiết. Liên minh Châu Âu đã giành được những lợi thế của chủ nghĩa thực dân, cùng với
sự gia tăng về an ninh và quyền lực chính trị thông qua việc đưa các quốc gia Đông Âu vào Liên
minh. Những sự phát triển này diễn ra song song tại phương Tây với sự phát triển của các tổ chức
NAFTA, CAFTA-DR và MERCOSUR. Sự thất bại của vòng đàm phán Doha và sự gia tăng của
những rào cản thương mại phi thuế quan có thể cho thấy sự thay đổi đang diễn ra trong thực tiễn
chính trị ngày nay.
Thương mại tự do không tốt tuyệt đối. “Các hàng rào thương mại phi thuế quan” đã gia tăng nhanh
chóng cùng với tốc độ gia tăng của những cuộc đàm phán quốc tế nhằm giảm những hàng rào thuế
quan và phi thuế quan. Vào năm 1980, Ngân hàng Thế giới WB đã cho biết khoảng 40% thương mại
quốc tế của Hà Lan chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của các hàng rào phi thuế quan (Laird và Yeats,
Xuất khẩu 119
320
880
1037
Nhập khẩu
157
441
944
1918
Thương mại / GNP 13%
16%
23%
22%
Pháp GNP 423
933
1465
2180
2907
Xuất khẩu 118
323
544
1108
Nhập khẩu 101
291
472
907
Thương mại / GNP 37%
50%
47%
69%
Italy GNP 214
Nhật Bản GNP 785
2851
4089
4340
Xuất khẩu 81
256
388
647
Nhập khẩu 71
188
281
380
Thương mại / GNP 19%
16%
16%
gia đang phát triển thường có xu hướng giao thương nhiều hơn đối với những quốc gia phát triển; và
Mỹ, Nhật, EU chính là những nền kinh tế phát triển lớn nhất hiện nay.
4. PHÂN LOẠI CÁC VẤN ĐỀ THƯƠNG MẠI
Chúng ta sẽ cùng nhìn tổng thể về những vấn đề thương mại trong tranh luận giữa 3 chính phủ trên
trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2002 đến 2007. Xem xét tất cả những vấn đề thương mại trong
khoảng thời gian này sẽ giúp chúng ta có thể biết những vấn đề nào đã được giải quyết, vấn đề nào
vẫn còn tồn tại và vấn đề mới nổi. Những vấn đề vẫn còn tồn tại là những vấn đề được đưa ra cả
trong năm 2002 và 2007. Những vấn đề đã được giải quyết là những vấn đề được nêu trong năm
2002 nhưng không còn trong năm 2007. Và những vấn đề mới nổi là những vấn đề được đưa ra vào
năm 2007 nhưng chưa hề được nhắc tới trong năm 2002. Xem xét những tương đồng và khác biệt
trong các vấn đề của mỗi quốc gia sẽ mang đến sự hiểu biết sâu sắc về những loại rào cản thương mại
vốn được các quốc gia áp dụng mạnh và tương đối bền trước áp lực quốc tế.
Việc phân loại các vấn đề thương mại phụ thuộc vào các mức độ đánh giá. Chỉ những vấn đề thực sự
tạo ra các rào cản thương mại mới được xem xét. Một số vấn đề được đặt ra trong cả ba nguồn tư liệu
cùng với cảnh báo rằng chính phủ sẽ kiểm soát phát triển để biết liệu những rào cản thương mại có
xuất hiện trong tương lai không. Phân tích của chúng ta sẽ không bao gồm những vấn đề nêu trên mà
chỉ bao gồm những rào cản thương mại được thực hiện từ quyết định của chính phủ trung ương.
Chính quyền tại cả Hoa Kỳ và EU có sự chia sẻ quyền lực rất quan trọng cho các hệ thống chính
quyền địa phương. Do vậy, những vấn đề thương mại chỉ liên quan đến địa phương sẽ không được
đưa vào phân tích này. Sau cùng, quyết định liệu những vấn đề tại các quốc gia này giống hay khác
nhau, và liệu những vấn đề này đã được giải quyết trong giai đoạn 2002 – 2007 hay chưa đều liên
quan tới các mức độ đánh giá.
10Tình thế lưỡng nan của Thương mại Tự do Bảng 1.2 Tầm quan trọng của EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ đối với thương mại toàn cầu: 2004
Nhóm tác giả muốn xem xét triển vọng cho việc dỡ bỏ một số rào cản thương mại thông qua đàm
phán quốc tế. Điểm khác biệt giữa những vấn đề thương mại tồn tại dai dẳng, những vấn đề đã được
giải quyết hay những vấn đề mới nổi là gì? Những điểm khác nhau nào giữa các chính phủ đã dẫn tới
những điểm khác biệt trên? Những câu trả lời cho các câu hỏi trên, dù chưa hoàn toàn đầy đủ song
cũng có thể mang lại cho chúng ta một viễn cảnh về thương mại trong tương lai, liệu chúng ta có thể
hi vọng một nền thương mại toàn cầu tự do, hay tương lai sẽ là sự tái diễn của những khối thương
mại riêng biệt và sự cạnh tranh gay gắt về những đặc quyền thương mại. Để có cái nhìn sâu hơn về
vấn đề này có thể tham khảo Trotman (2004).
Nhóm tác giả cũng chú trọng vào kết quả so sánh giữa những loại rào cản thương mại mà 3 chính phủ
này áp dụng. Chính phủ Nhật Bản sử dụng những những loại rào cản thương mại khác thế nào so với
chính phủ Hoa Kỳ? Liệu có sự giống nhau giữa những khiếu nại của Hoa Kỳ và EU giành cho thương
mại và đầu tư của Nhật Bản? Những so sánh này sẽ giúp chúng ta đánh giá các chính phủ này nhìn
nhận thương mại thế giới ra sao và phản ứng như thế nào.
Nguồn thông tin chủ yếu là từ những báo cáo được công bố chính thức bởi cả ba chính phủ trên về
những hạn chế thương mại và đầu tư hai quốc gia còn lại áp dụng. Đại sứ và tất cả nhân viên lãnh sự
quán thường xuyên bàn luận với chính phủ của họ về những vấn đề thương mại. Trong nhiều trường
hợp, những vấn đề này thường được giải quyết nhanh chóng và ít gây tranh cãi nên không trở thành
tâm điểm của dư luận xã hội. Ngược lại, những vấn đề này sẽ trở thành chủ đề bàn tán của công
chúng nếu các chính phủ công khai khiếu nại thương mại. Các chính phủ thường không công khai
những khiếu nại về chính sách thương mại của các quốc gia đồng minh trừ khi những vấn đề này thực
sự quan trọng và không dễ giải quyết thông qua những cuộc đàm phán thương lượng kín giữa hai
bên.
Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) chịu trách nhiệm đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ
trong những cuộc đàm phán quốc tế về thuế quan và những rào cản thương mại và đầu tư khác.
USTR xuất bản Báo cáo thường niên về Rào cản Thương mại Quốc tế, cung cấp những phân tích về
những hàng rào thương mại của các quốc gia khác. Phân tích trong bài này cũng sẽ căn cứ một phần
trên những báo cáo của USTR về hàng rào thương mại và đầu tư mà EU và Nhật Bản áp dụng; bao
gồm những tình huống cụ thể mà các hạn chế thương mại và đầu tư này khá vô lý và gây ra nhiều
phiền toái đối với thương mại Hoa Kỳ. Điều này cũng không cần thiết phải dựa trên luận cứ rằng các
hạn chế thương mại trên đã vi phạm những thỏa thuận quốc tế.
ra của EU về đàm phán thương mại quốc tế.
Mỗi thẻ hồ sơ đều được đánh số duy nhất. Hai chữ số đầu tiên của thẻ hồ sơ thể hiện hai số cuối của
năm phát sinh vấn đề. Các thẻ hồ sơ này cũng được sắp xếp theo ngày mới nhất mà nội dung của hồ
sơ được sửa đổi bổ sung. Chẳng hạn, thẻ hồ sơ 960048 về việc áp đặt “Phí Gia công Hàng hóa”
(Merchandise Processing Fee) của Hoa Kỳ. Ngày cập nhật mới nhất được ghi trong thẻ hồ sơ là
21/11/2006. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng vụ việc này được đưa ra từ năm 1996 và cho đến
tháng 11 năm 2006 vẫn chưa giải quyết xong. Những vụ việc nêu ra trong các thẻ hồ sơ có đánh số
seri 02xxxx hoặc thấp hơn và có ngày cập nhật vào năm 2006 hoặc muộn hơn sẽ được phân loại là
những vấn đề còn tồn tại và chưa được giải quyết.
14Tình th
Những tranh chấp thương mại nghiêm trọng có thể được xem xét thông qua Quy trình Giải quyết
Tranh chấp trong WTO. Các quốc gia trên thế giới đều rất sốt sắng thúc đẩy việc thay đổi các chính
sách thương mại thông qua thủ tục này. Điều này sẽ được trình bày cụ thể tại chương tiếp theo.
Nhóm tác giả sẽ cùng xem xét các vụ tranh chấp tại WTO trong giai đoạn từ 2002 đến 2007, trong đó
các quốc gia Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản khởi kiện lẫn nhau về những vi phạm các hiệp định thương
mại quốc tế. Các vụ việc xảy ra từ năm 2002 đến 2004 sẽ được coi như thuộc năm 2002. Các vụ việc
diễn ra giữa năm 2006 và 2007 sẽ được đưa vào nhóm những vụ việc mới xảy ra.
Với mục đích phân loại thời gian của các vụ việc đưa ra trong Dữ liệu Tiếp cận Thị trường (năm
2002 và/hoặc năm 2007), các thẻ hồ sơ thuộc năm 2002, 2003, 2004 hoặc sớm hơn sẽ được phân loại
vào nhóm năm 2002. Các thẻ thuộc năm 2005, 2006, 2007 sẽ được coi như thuộc năm 2007. Dựa
theo ngày của thẻ về vụ Phí Gia công Hàng hóa của Hoa Kỳ, vụ việc này sẽ được phân loại vào cả
nhóm năm 2002 và năm 2007 để phân tích.
Thật không may, không có báo cáo nào công bố về lập trường của EU về những vấn đề được giải
quyết trong giai đoạn từ năm 2002 đến 2007. Các thẻ hồ sơ liên quan đã được xóa khỏi Dữ liệu Tiếp
cận Thị trường. Như vậy, nó có thể dẫn tới một sự thiếu sót khi tính đến những tranh chấp đã được
giải quyết với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Vấn đề này sẽ được đề cập đến trong Chương 9.
c. Yêu cầu về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật. Hầu hết các nước phát triển đều có
hệ thống kiểm dịch tại biên giới và ngăn chặn các loại động thực vật có khả năng chứa các
loại ký sinh gây bệnh du nhập vào quốc gia đó. Các yêu cầu về vệ sinh áp dụng với động vật.
Các yêu cầu về kiểm dịch áp dụng với thực vật.
d. Các vấn đề tranh chấp về tiếp cận thị trường dịch vụ. Sự tham gia của các cá nhân vào thị
trường dịch vụ giáo dục, tài chính, pháp lý và y tế thường được điều chỉnh bởi thủ tục cấp
giấy phép. Các doanh nghiệp muốn mở ngân hàng, cung cấp nguồn lực hoặc đầu tư vào giao
thông vận tải hay truyền thông cũng cần thông qua thủ tục cấp giấy phép hay cho phép của
nhà nước. Những yêu cầu này cũng dẫn tới sự hạn chế sự tham gia của các công ty nước
ngoài vào những lĩnh vực này.
e. Các vấn đề tranh chấp liên quan đến chính sách phòng vệ thương mại (các biện pháp tự vệ,
chống trợ cấp, chống bán phá giá). GATT cho phép các quốc gia tự bảo vệ quyền lợi của các
doanh nghiệp trong nước trước hành vi bán phá giá của các đối thủ nước ngoài. Với những
doanh nghiệp bị đẩy khỏi thị tường quốc tế, những quy định trên có thể là một hình thức của
rảo cản thương mại.
2. Các vấn đề tranh chấp liên quan đến các quy định thương mại nội địa. Các tiểu mục bao gồm:
a. Các vấn đề tranh chấp liên quan đến yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn. Các quy định của
chính phủ về thiết kế sản phẩm, sản xuất hoặc vận hành thường bao gồm sự phát triển và áp
dụng các yêu cầu kỹ thuật và/hoặc tiêu chuẩn. Để tìm hiểu về phân tích các hệ thống quan
trọng, tham khảo Zuckerman (1997).
Tiêu chuẩn là sự mô tả một số khía cạnh của sản phẩm hay quy trình đã được phát triển bởi
khu vực tư nhân trên cơ sở tự nguyện để sử dụng chung nhằm đạt được một số mục tiêu nhất
định. Ví dụ của tiêu chuẩn là ISO 9000. Yêu cầu kỹ thuật là một tập hợp các yêu cầu quản lý
một số khía cạnh của sản phẩm hay quy trình được phát triển bởi chính phủ. Sự tuân thủ là
cần thiết.
16Tình th
của mỗi quốc gia trong luật pháp sở hữu trí tuệ và sự thực thi luật pháp cũng chính là một mối
quan ngại lớn của những nhà xuất khẩu trong bản tóm lược điều tra kinh doanh của OECD
(OECD, 2003). Xuất khẩu đến những quốc gia có vi phạm luật sở hữu trí tuệ thường khá dễ
dàng, thậm chí còn được khuyến khích. Tuy nhiên, kết quả thu được lại là một sự mất mát thị
trường nghiêm trọng khi các loại hàng nhái hàng giả từ những nước này sẽ được xuất khẩu
ngược trở về những quốc gia sản xuất hàng thật với một số lượng lớn hơn rất nhiều.
16Tình thd. Các vấn đề liên quan đến những quy định kinh doanh. Tồn tại một số vấn đề liên quan đến
việc quản lý quá trình thương mại có ảnh hưởng đến nhiều loại hàng hóa riêng biệt khác nhau.
Vấn đề này sẽ được thảo luận khi chúng ta so sánh sự phát triển và giải quyết các vấn đề
thương mại tại từng quốc gia. Những quy định này bao gồm việc áp thuế thu nhập từ nước
ngoài và sự thất bại trong việc áp dụng các quy định về kinh doanh minh bạch rõ ràng và
không phân biệt đối xử. Nạn tham nhũng, hối lộ chính là rào cản thương mại lớn thứ 3 theo
nhận định của hầu hết các nhà xuất khẩu trong nghiên cứu điều tra của OECD (OECD, 2003).
Quy trình hải quan có thể rất mất thời gian và tốn kém khi những cán bộ hải quan cố tình kéo
dài những thủ tục hành chính rườm rà để gây khó khăn cho các bên xuất nhập khẩu. Vấn đề
mà những nhà xuất khẩu có đạo đức sẽ phải đối mặt có thể còn nhân đôi lên nếu như chính
phủ nước họ có quy định hình phạt cho việc tham gia vào những hoạt động tham nhũng, hối
lộ tại nước ngoài.
3. Các vấn đề tranh chấp liên quan đến các quy định và hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Bao gồm:
a. Các vấn đề liên quan đến hạn chế xuất khẩu. Rất nhiều quốc gia hạn chế xuất khẩu một số
mặt hàng nhất định. Nguyên nhân có thể là để tránh sự thiếu hụt mặt hàng đó trong nước hoặc
để bảo vệ những công nghệ quan trọng của quốc gia. Kết quả của sự gia tăng thương mại
quốc tế là rất nhiều nền kinh tế đang trở nên phụ thuộc vào những mặt hàng xuất khẩu từ các
quốc gia khác.
KẾT LUẬN
Trong phần trên, chúng ta đã thảo luận về việc những quyết định và chính sách của chính phủ thường
phản ánh văn hóa và cơ cấu tổ chức quản lý. Điều này dẫn đến một câu hỏi về bản chất của các rào
cản thương mại thường liên kết thế nào với ba Chính phủ mà chúng ta nghiên cứu (Hoa Kỳ, EU, Nhật
Bản). Chúng ta muốn biết rằng những lợi ích nội địa nào dẫn tới việc sử dụng hàng rào thương mại.
Liệu những hàng rào này có được sử dụng hiệu quả hay không? Nếu không, liệu có khả năng cho
thương mại tự do tồn tại? Để hiểu rõ về những vấn đề trên, cần phải nghiên cứu những vấn đề đó
trong bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội. Liệu các chính phủ có thúc đẩy loại hình bảo hộ cụ thể
nào? Chỉ riêng việc tìm kiếm những hình thức hạn chế thương mại mà chính phủ khuyến khích có thể
làm sáng tỏ rất nhiều vấn đề.
Việc so sánh những khiếu kiện thương mại và cách thức giải quyết sẽ trở nên thú vị hơn nhiều nếu có
thể gắn kết các vấn đề này với sự khác biệt giữa ba Chính phủ trên. Nhiều câu hỏi được đặt ra: tại sao
những tranh chấp thương mại này xuất hiện, các ảnh hưởng dài hạn của chúng và có thể giải quyết
chúng như thế nào. Để trả lời những câu hỏi trên, cần thiết phải xem xét kỹ các vấn đề sau: sự phản
hồi của mỗi quốc gia, bản chất của những tranh chấp này và quá trình phối hợp hài hòa giữa các
chính sách thương mại. Những vấn đề chung trên có thể dẫn đến một số những câu hỏi cụ thể hơn. Ví
dụ:
1. Thắc măc về sự phản hồi của mỗi quốc gia lại dẫn đến câu hỏi liệu những khiếu nại thương mại
xảy ra giữa ba nền kinh tế này có xu hướng rơi vào một kiểu mẫu cụ thể nào không. Có bằng
chứng nào cho thấy những người đứng đầu của mỗi nên kinh tế có xu hướng chú trọng vào một
lợi ích cụ thể trong việc chống lại cạnh tranh nước ngoài, hoặc trong việc thúc đẩy việc tiếp cận
các thị trường nước ngoài? Nếu có thì tại sao? Liệu có bất cứ mối quan hệ nào giữa những quan
ngại thương mại của chính phủ và bất kỳ sức ép nào đó trong kinh tế hay chính trị của nước đó?
2. Thắc mắc liên quan đến bản chất của những tranh chấp đặt ra câu hỏi liệu có bất cứ khía cạnh
cụ thể nào của quá trình thương mại quốc tế thường xuyên gây ra tranh chấp. Các chính phủ
trên thế giới dường như đang chú trọng hơn vào những vấn đề về môi trường. Liệu những tranh
chấp thương mại xảy ra vì sự phát triển của những chương trình mới đang ảnh hưởng đến
thương mại quốc tế? Liệu những vấn đề này có được đề cập đến trong Hiệp định GATT, hay
18
trong những lĩnh vực như các quy định về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật (SPS) có thể rất
chung chung, thường chỉ bao gồm một lời hứa sẽ sử dụng những bằng chứng khoa học khi đưa ra
những quyết định về SPS. Liệu sự mơ hồ trong ngôn ngữ có khiến cho những tranh chấp này trở nên
khó giải quyết hơn? Nếu vậy, sẽ cần thiết phải tiếp tục phát triển một sự đồng thuận quốc tế về các
căn cứ thực tế của những tranh tranh chấp này.
Trong phạm vi giới hạn của cuốn sách này, nhóm tác giả sẽ chỉ đưa ra những khuyến nghị thay vì cố
gắng đi đến một kết luận cụ thể. Mặc dù vậy, để có thể làm được điều đó, chúng ta vẫn cần phải
nghiên cứu hệ thống các hiệp định quốc tế hiện hành (Chương 2), các mô hình đưa ra quyết định