2. Các thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm:VD minh họa, phân loại, ý nghĩa, nguồn
gốc, nguyên nhân?
TỔN THẤT
- Tổn thất: là sự thiệt hại một đối tượng nào đó phát sinh từ một biến cố bất ngờ ngoài ý muốn
của chủ sở hữu ( hoặc người chiếm hữu sử dụng). Sự thiệt hại một đối tượng có thể phát sinh do
một sự cố mất mát( dẫn đến mất quyền sở hữu một khoản giá trị), cũng có thể từ một sự cố gây hư
hại cho chính đối tượng( hủy hoại vật chất làm mất hoặc giảm giá trị sử dụng, đồng thời giảm giá
trị củ đối tượng bị gây hại)
- VD: cháy nhà do sét đánh, thiệt hại tính mạng trong một vụ tàu trượt đường ray,…
- Phân loại:
Căn cứ vào đối tượng bị thiệt hại:
+ Tổn thất tài sản: là sự giảm sút hoặc mất hẳn giá trị của tài sản do không cố ý, phát
sinh từ một sự cố bât ngờ.
+ Tổn thất con người: nảy sinh từ sự việc thiêt hại tính mạng, thân thể con người dẫn đến
thiệt hại một khoản giá trị (các khoản chi phí bằng tiền) nhằm khắc phục, điều trị hoặc
dẫn đến việc mất hoặc giảm đi một khoả n thu nhập nhất định.
+ Tổn thất do phát sinh trách nhiệm dân sự: đó là việc phát sinh trách nhiệm dân sự theo
ràng buộc của luật dân sự dẫn đến phải bồi thường bằng tiền những thiệt hại về tài sản,
tính mạng, thân thể, có khi cả thiệt hại về mặt tinh thần gây ra cho người thứ 3 khác do
lỗi của mình
Căn cứ vào hình thái biểu hiện:
+ Tổn thất động: là TH đối tượng vẫn nguyên giá trị sử dụng( không có sự hủy hoại vật
chất) nhưng giá trị bị giảm sút . Đay là tổn thất nảy sinh do tác động của yếu tố thị trường.
+ Tổn thất tĩnh: loại tổn thất mà vât thể bị hư hỏng , mất mát, hủy hoại về mặt vật chất.
Tổn thất này vừa làm giảm( hoặc mất) giá trị sử dụng ,vừa làm giảm (hoặc mất) giá trị
của đối tượng( trừ TH tổn thất con người).
Căn cứ vào khả năng lượng hóa:
+ Tổn thất có thể tính toán hay tổn thất tài chính: là những tổn thất, khi nó phát sinh, có
thể tính toán, XĐ được dưới hình thái tiền tệ. vì vậy, tổn thất này còn gọi là tổn thất tài
chính. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt : Tổn thất lường trước được (với) Tổn thát ko lường
trước được.
phun,…
+Chủ quan: Dưới sự tác động của con người. VD: cháy nổ, TNGiao thông, vỡ kính, trộm cướp,…
-Phân loại:
+ Tĩnh: có 2 khả năng: tổn thất hoặc không tổn thất
+ Động: ngoài ra còn có khả năng kiếm lời.
+ Rủi ro có thể tính toán hay rủi ro tài chính: là những rủi ro mà tần suất xuất hiện cũng như mức
độ trầm trọng của nó có thể tiên đoán được.
+ Rủi ro không thể tính toán được hay rủi ro phi tài chính:
+ Rủi ro cơ bản: là những rủi ro xuất phát từ sự tác động hổ tương thuộc về mặt kinh tế, chính trị,
xã hội và đôi lúc tuần túy về mặt vật chất. những tổn thất hậu quả do rủi ro cơ bản gây ra không
chỉ do từng cá nhân và ảnh hưởng đến toàn bộ nhóm người nào đó trong xã hội.
+ Rủi ro riêng biệt: xuất phát từ từng cá nhân con người. tác động của các rủi ro ko ảnh hưởng lớn
đến toàn bộ xã hội mà chỉ tác động đến một số ít con người.
NGUY CƠ
- Nguy cơ: là sự phát động của hiểm họa gần với hiện thực hơn, khả năng xảy ra tổn thất
cao hơn.VD: quản lý cẩu thả, Nguy cơ xuất hiện như một điều kiện phối hợp, tác động làm
rủi ro xảy ra dẫn đến tổn thất. Bản thân nguy cơ là hoàn toàn độc lập với rủi ro. VD: rủi ro
hỏa hoạn đe dọa đến bất kỳ căn nhân nào dù trong căn nhà đó có chứa xăng hay chất dễ
cháy nổ.
- Phân loại:
+ Nguy cơ vật chất: là yếu tố khách quan làm gia tăng khả năng tổn thất
+ Nguy cơ tinh thần: là 1 yếu tố tinh thần( chủ quan) nhưng ko cố ý làm tăng khả năng gia
tăng tổn thất.
+ Nguy cư đạo đức: là một yếu tố chủ quan cố ý làm gia tăng khả năng tổn thất.
HIỂM HỌA
Nó biểu hiện hàng loạt các sự cố có thể xảy ra gây thiệt hại cho mọi đối tượng hoặc một sự cố
không chắc chắn nào đó có thể ảnh hưởng đến nhiều người khác nhau với tư cách khác nhau.VD:
Hiểm họa ma túy, hiểm họa hàng hải,…
Nói cách khác, hiểm họa là một rủi ro khái quát, một nhóm các rỉ ro cùng loại và có liên quan.
Phân loại:
đây là 12% số tiền bảo hiểm và như vậy số tiền người bảo hiểm trả cho ông X là: 12% x 20
trđ = 2,4 triệu đồng.
6, Bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện? Vì sao lại có loại hình bảo hiểm bắt
buộc? Ý nghĩa của loại hình này?
Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí
bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh
nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại
bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.
Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích
công cộng và an toàn xã hội.
Bảo hiểm tự nguyện: là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được giao kết dựa hoàn toàn
trên sự cân nhắc và nhận thức của bên mua bảo hiểm. Đây là tính chất vốn có của bảo
hiểm thương mại khi có vai trò như là một hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt
con người.
7,Bảo hiểm thương mại? Bảo hiểm xã hội? Phân biệt?
Bảo hiểm thương mại: Bảo hiểm thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được
thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo
hiểm thương mại chỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi
ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận
trước trên hợp đồng.
Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý
nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ
khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động.
Phân biệt:
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
Cơ quan tiến hành - Cơ quan bảo hiểm
XH của nhà nước ,
quỹ bảo hiểm y tế
quốc gia
(ở mức tối thiểu)
- trợ cấp ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp,
hưu trí, tử tuất,…
( theo lương tối
thiệu, lương trung
bình hoặc lương
thực tế tùy loại trợ
cấp)
Chi phí y tế, trợ cấp thương
tật nghề nghiệp và bổ sung
thu nhập theo mức đảm bảo
thuận và mức phí đã đóng
Phương thức thanh toán Trực tiếp hoặc gián tiếp ,
trong đó gián tiếp là phổ
biến
Trả tiền trực tiếp cho người
lao động bảo hiểm hoặc
người thụ hưởng
8, Các kỹ thuật trong bảo hiểm: kỹ thuật dồn tích , kỹ thuật phân bổ?
Kỹ thuật dồn tích: là loại bảo hiểm đảm bỏa cho các rủi ro có tính chất thay đổi theo thời
gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ).
Các hợp đồng loại này thường là trung hay dài hạn( 10 năm, 20 năm, trọn đời,…)
Kỹ thuật phân bổ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định theo
thời gian và độc lập với tuổi thọ con người ( nên gọi là bảo hiểm nhân thọ). Hợp đồng bảo
hiểm loại này thường là ngắn hạn ( 1 năm)
10, Quy luật số lớn ( số đông) trong bảo hiểm? ý nghĩa của nó đối với hoạt động
bảo hiểm?
Nguyên tắc hoạt động:
trực tiếp làm việc với cty này sẽ phụ thuộc vào hợp đồng liên doanh ký kết giữa 2 DNBH
này)
Tái BH: DNBH (a) bảo hiểm hết cho cty này với mức phí 50 triệu. sau đó DNBH (a) mới
liên kết với DN Tái Bảo Hiểm để tái cho các DNBH khác.
Tác dụng
Tái bảo hiểm :
- An toàn cho chính cả tổ chức bảo hiểm
- Góp phần ổn định tỷ lệ bồi thường
- Tăng khả năng nhận bảo hiểm
- ổn định tình hình kinh doanh, khả năng tài chính của người bảo hiểm
- sữa chữ được tính không đều , sự chênh lệch của cộng đồng các rủi ro được bảo
hiểm, sự chênh lệch giữa các rủi ro và khả năng tài chính khó khan của người bảo
hiểm.
- tăng thu cho người bảo hiểm
- giúp cho những công ty bảo hiểm nhỏ mới ra đời được ổn định và phát triển.
12. Hợp đồng bảo hiểm. Các tính chất của hợp đồng bảo hiểm? giải thích?
Hợp đồng bảo hiểm: là sự thỏa thuận giữa các bên, thoe đó bên mua bảo hiểm phải đóng
Phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Các tính chất của hợp đồng bảo hiểm:
1. Hợp đồng bảo hiểm mang tính tương thuận: Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập
dựa trên sự chấp thuận của cả đôi bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do
giao kết trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội.
2. Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ: Các bên ký kết đều có quyền và nghĩa vụ,
quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Người bảo hiểm phải đảm
bảo cho các rủi ro còn người được bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm.
3. Hợp đồng bảo hiểm có tính chất may rủi: Nếu không tồn tại rủi ro (sự kiện bảo
hiểm) thì không có việc giao kết cũng như tồn tại hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm.
4. Hợp đồng bảo hiểm có tính chất tin tưỏng tuyệt đối: Mối quan hệ giữa bên mua bảo
hiểm và người bảo hiểm được thiết lập trong tình trạng tạo ra rủi ro cho nhau. Do
hàng góp vốn cùng với các tổ chức, công ty và các nhà đầu tư khác đẻ cùng thành lập một
công ty kinh doanh bảo hiểm độc lâp.
+ Ngân hàng thành lập công ty bảo hiểm : cùng với việc thành lập công ty bảo hiểm,
ngân hàng còn thành lập công ty chứng khoán, công ty tài chính, và hướng tới hoạt dộng
như một tập đoàn tài chính- ngân hàng cung cấp nhiều sản phẩm tài chính.
16. Nguyên tắc đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm. Nhà nước chính phủ phải
giám sát năng lực tài chính và công tác đầu tư tài chính của công ty bảo hiểm ? vì
sao ?
Sự kiểm soát của nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm có hai lý do
chính:
(1) Một là, do những đặc trưng riêng có của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Nhà bảo hiểm bán sản phẩm bảo hiểm, thật ra chính là bán lời hứa, lời cam kết của
mình. Giá cả của sản phẩm bảo hiểm - phí bảo hiểm được xác định hoàn toàn dựa trên
kỹ thuật tính toán, phán đoán rủi ro của nhà bảo hiểm. Việc giao kết hợp đồng gần như
dựa trên mẫu điều khoản có sẵn do chính nhà bảo hiểm soạn thảo. Mặt khác, phí bảo
hiểm được trả theo nguyên tắc "ứng trước", do đó, nhà bảo hiểm sẽ có thể sử dụng quỹ
tiền tệ bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi để đầu tư nhằm bảo toàn và hơn nữa phát triển nó.
Tuy nhiên, không phải lúc nào sự tính toán của nhà bảo hiểm cũng chính xác, các điều
khoản bảo hiểm trên hợp đồng không phải lúc nào cũng đầy đủ và rõ ràng. Tương tự,
việc đầu tư của nhà bảo hiểm không phải lúc nào cũng có hiệu quả tốt, nhất là trong
tình trạng không được kiểm tra chặt chẽ. Hậu quả là, có thể nẩy sinh trường hợp nhà
bảo hiểm cố tình từ chối bồi thường hoặc mất khả năng thanh toán. Điều nầy thực sự
là bất lợi cho phía bên mua bảo hiểm;
• Đối với bên mua bảo hiểm: không thể khôi phục lại quá trình sản xuất, sinh hoạt do
không được bồi thường;
• Tương tự đối với người thứ ba khác là nạn nhân của vụ tai nạn mà người được
bảo hiểm là người có lỗi gây ra thiệt hại.
Tóm lại, bên mua bảo hiểm luôn là kẻ yếu hơn bên cạnh ''người khổng lồ - Nhà bảo
hiểm" xét cả về nhiều mặt: tài chính, kỹ thuật Sự kiểm soát của nhà nước ở đây
không ngoài mục đích chung của luật pháp là "nhằm bảo vệ lòng trung thực, bảo vệ
biện pháp uốn nắn cần thiết chứ không phải là để trừng phạt hậu quả những lỗi lầm
trong việc quản lý của công ty;
e/ Sự kiểm tra được tiến hành trong khuôn khổ lập pháp và lập quy chính xác, loại
trừ bất kỳ sự can thiệp tùy tiện, độc đoán của hành chính;
f/ Đảm bảo sự hoà nhập vào thị trường quốc tế của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt
Nam.
17. Tính bất cân xứng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm?
Là tình huống phát sinh khi 1 bên không nhận biết đầy đủ các đối tác của mình, dẫn đến
những quyết định không chính xác trong quá trình giao dịch. Điển hình là người bán biết
nhiều về sản phẩm hơn đối với người mua hoặc ngược lại.
Thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin. Khi
đó, giá cả không phải là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao.
VD: khi người mua ko có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị
đích thực củ hàng hóa, hậu quả là người bán ko có động lực để sx hoặc cung cấp những
hàng hóa có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường.