Điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất cây bưởi đại minh huyện yên bình tỉnh yên bái - Pdf 13

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải dài trên 15 vĩ độ từ Bắc đến Nam, nước ta có điều kiện sinh thái đa
dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm và á nhiệt đới cùng với sự phân hóa về
địa hình đã tạo nên những vùng khí hậu đặc thù có thể phát triển được các loại
cây ăn quả nhiệt đới á nhiệt đới và cây ăn quả ôn đới. Mặc dù có điều kiện khí
hậu đất đai thuận lợi cho cây ăn quả phát triển nhưng do điều kiên kinh tế xã
hội nghề trồng cây ăn quả Việt Nam trước đây ở vào tình trạng kém phát triển
và sản lượng hàng hóa thấp.
Những năm gần đây, nghề trồng cây ăn quả đã góp phần vào việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ, làm tăng giá trị sử dụng đất,
tăng thu nhập cho hộ nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đất
trống đồi núi trọc, cải thiện môi sinh. Đặc biệt trong tương lai gần ngành
trồng cây ăn quả là một trong những ngành sản xuất hàng hóa lớn và có giá trị
xuất khẩu cao.
Cây ăn quả có múi (cam, quýt, bưởi, chanh) là những loài cây ăn quả
có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, dễ sử dụng và được nhiều người
ưa chuộng. Trên thế giới quả có múi đã trở thành loại quả quan trọng đối với
đời sống của người dân và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Việt Nam là một trong những nơi nguyên sản của cây ăn quả có múi
(cam, quýt, bưởi). Trong quá trình sản xuất, qua chọn lọc tự nhiên và sự
chọn lọc của con người một số giống địa phương và một số giống nhập nội
đã trở thành nổi tiếng như: bưởi Năm Roi, bưởi Đoan Hùng, bưởi Phúc Trạch,
bưởi Diễn…[10].
Trong cơ chế thị trường hiện nay, ngành sản xuất nào cũng phải phát
huy được hết các lợi thế tự nhiên để sản xuất ra các mặt hàng mang tính hàng
hóa và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình. Nước ta có nhiều vùng

- tỉnh Yên Bái”.
1.2. MỤC ĐÍCH
Tìm hiểu tình hình sản xuất bưởi của xã Đại Minh - huyện Yên Bình -
tỉnh Yên Bái; đáng giá những thuận lợi và khó khăn, từ đó đề xuất các biện
pháp thúc đẩy phát triển sản xuất bưởi của địa phương.
3
4
1.3. YÊU CẦU
- Điều tra về điều kiện tự nhiên - kinh tế - văn hóa - xã hội của xã liên
quan đến sản xuất nông nghiệp Đại Minh - Yên Bình.
- Điều tra tình hình sản xuất nông lâm nghiệp của Đại Minh - Yên Bình.
- Điều tra tình hình sản xuất bưởi của xã Đại Minh - huyện Yên Bình -
tỉnh Yên Bái.
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất các giải pháp thúc
đẩy phát triển sản xuất bưởi trong những năm tới.
4
5
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY BƯỞI
2.1.1. Nguồn gốc
Cây bưởi thuộc họ cam quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất, nhiều kết
quả nghiên cứu cho rằng hầu hết các giống cam, quýt, bưởi trồng hiện nay
đều có nguồn gốc từ vùng Nhiệt Đới và cận Nhiệt Đới Đông Nam Châu Á.
Theo FAO (2010) hàng năm trên thế giới sản lượng khoảng 7 triệu tấn, bao
gồm cả bưởi (Citrus grandis) và bưởi chùm (Citrus paradisi), chiếm 6 - 7%
sản lượng các loại quả có múi [1].
Mặc dù sản lượng ít nhưng bưởi là loại quả xuất khẩu chủ yếu ở một số
nước: Mỹ, Ấn Độ, Malaixia, Cuba, Israel… với lý do: Đặc điểm dễ vận
chuyển, bảo quản được lâu, ít hao hụt trong quá trình lưu giữ…

cộng sinh - nấm có vai trò như lông hút của các cây trồng khác.
Cũng như bộ rễ của các cây trồng khác, bộ rễ của bưởi hoạt động theo
chu kỳ nhất định. Có 3 thời kỳ hoạt động mạnh:
- Trước khi ra cành xuân (khoảng tháng 2 - đầu tháng 3)
- Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc trước khi cành hè xuất hiện
(tháng 6 - đầu tháng 8)
- Sau khi cành thu đã sung sức (khoảng tháng 8 - tháng 10)
Sự hoạt động của bộ rễ có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của
cành lá nhưng chu kỳ hoạt động của rễ thường dài hơn.
* Thân cành:
Bưởi cũng như các cây thuộc họ cam quýt có hiện tượng tự rụng ngọn,
nghĩa là sau khi cành phát triển đến một mức độ nhất định thì ngừng lại, lúc
đó ngọn sẽ rụng đi. Hiện tượng này xảy ra liên tục ở các đợt lộc khiến cho
cành lá bưởi rất rậm rạp nên việc cắt tỉa hàng năm là cần thiết.
Thân cành bưởi thường bị rêu và địa y ký sinh nên hàng năm cần dùng
nước vôi lau sạch, hoặc quét vào gốc hoặc cành lớn, tạo điều kiện cho thân
cành hoạt động tốt.
Một năm cây bưởi ra nhiều đợt cành như:
Cành xuân : tháng 2 - 3 - 4
Cành hè : tháng 6 - 7 - 8
Cành thu : tháng 9 - 10
6
7
Cành đông : tháng 11 - 12
Tùy từng giống, từng tuổi cây, điều kiện khí hậu và chăm sóc mà lượng
cành, thời gian ra các đợt cành có sự thay đổi. Trong các đợt cành thì cành
xuân ra đều và tập trung nhất, cành ngắn. Cành hè thường khỏe, lá to nhưng
rải rác hơn. Cành thu kém hơn và cành đông là yếu ớt nhất.
Cành mẹ sinh ra cành quả, nó có thể là cành xuân trong năm, cành hè
hoặc cành thu năm trước. Cành quả có lá thường đậu tốt hơn cành không có lá.

Chất khô trong quả đều là sản phẩm do quá trình quang hợp của cây tạo
nên, do vậy cây sinh trưởng tốt sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất
quả. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của quả là:
- Điều kiện ngoại cảnh:
+ Nước phải đủ, nhất là thời kỳ quả đang lớn nhanh. Nếu bị hạn, do sự
cạnh tranh giữa quả và lá, quả sẽ bị rụng.
+ Nhiệt độ: thấp quả lớn chậm, quả có xu hướng nhỏ và cao thành.
- Chất kích thích sinh trưởng:
Quả lớn lên được là do có sự kích thích của các chất kích thích sinh
trưởng, chất này được tạo ra từ vách tử phòng hoặc từ hạt sau khi hạt hình
thành. Việc phun bổ sung thêm chất kích thích sinh trưởng cho cây khi quả
đang hình thành có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả.
2.1.4. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh

- Nhiệt độ:
Là nhân tố khí hậu chủ yếu ảnh hưởng đến sự phân bố của bưởi, nó
không những ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và hoạt động sinh lý của vườn
bưởi mà còn ảnh hưởng đến sản lượng và phẩm chất của bưởi. Bưởi ưa khí
hậu ấm áp và ẩm ướt. Sự sinh trưởng của bưởi yêu cầu nhiệt độ bình quân
18 - 21
0
C.
Tổng tích ôn là 5300 - 7200
0
C.
Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây sinh trưởng là 23 - 30
0
C.
Nếu nhiệt độ > 37
0

và hoạt động sinh lý của cây, giảm bớt sự phát sinh lây lan bệnh hại.
Khi gió mạnh làm gẫy cành đổ cây, lốc rễ, tổn thương cành lá tạo điều
kiện cho nấm bệnh xâm nhập. Thời kỳ ra hoa gặp gió to ảnh hưởng tới thụ
phấn, thụ tinh và tỷ lệ đậu hoa, đậu quả.

Đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây
bưởi. Các tính chất của đất như: Độ phì của đất, độ pH, độ thông thoáng… có
ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng phát dục của cây. Đất đai màu mỡ, tơi
xốp, thoát nước tốt thích hợp với sự sinh trưởng của cây, dễ kết quả sớm,
năng suất cao, ổn định. Đất thích hợp để trồng bưởi là đất có tầng đất dày >
9
10
1m, giàu chất hữu cơ, màu mỡ, thông thoáng, mực nước ngầm > 1m, độ pH
thích hợp là 5,5 - 6,5, hàm lượng O
2
trong đất 3 - 8%.

Theo trung tâm nghiên cứu xuất bản sách và tạp chí (2006) [6]: Cây
bưởi là cây cho sản lượng cao nên yêu cầu nhiều dinh dưỡng để cây sinh
trưởng và phát triển và bù lại dinh dưỡng đã mất đi theo sản phẩm thu hoạch.
Bưởi cần đầy đủ các nguyên tố đa lượng như N, P, K, Ca và các nguyên tố vi
lượng như Fe, Cu, Bo, Mo… mỗi nguyên tố có tác động riêng đến năng suất,
phẩm chất của quả và sinh trưởng, phát triển của cây.
- Đạm: Quyết định quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm
chất quả. Đạm xúc tiến quá trình phát triển các đợt lộc và phát sinh cành lá,
quyết định độ lớn, độ dày và tuổi thọ lá, trọng lượng quả thay đổi tùy thuộc
vào số lá tốt, xấu.
Thừa đạm: quả to bộp, vỏ dày, chất lượng kém.
Thiếu đạm: ít lộc, lá vàng nhỏ, hoa rụng, quả sần, ngoài ra còn ảnh
hưởng đến quá trình hút các nguyên tố khác như: Magiê, Canxi…

2.2.1. Tình hình sản xuất quả có múi trên thế giới
Nghề trồng cây ăn quả nói chung và nghề trồng cây có múi nói riêng
trên thế giới không ngừng tăng. Vì cây có múi cho thu hoạch, giá trị dinh
dưỡng cao, hiệu quả kinh tế cao. Ba khu vực sản xuất chủ yếu hiện nay là:
Châu Á, Châu Mỹ và khu vực Địa Trung Hải.
Vành đai trồng cam quýt trải dài từ 40
0
vĩ độ bắc xuống 40
0
vĩ độ
nam, nghĩa là cam quýt chỉ được trồng ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Các
vùng trồng cam quýt nổi tiếng trên thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở những
vùng có khí hậu ôn hòa ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại
dương. Những nước trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay phải kể đến một số
nước Địa Trung Hải và Châu Âu như: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ
Kỳ…; vùng Bắc Mỹ như: Hoa Kỳ, Mêxicô; vùng Nam Mỹ như: Brazil,
Venezuela, Argentina…; vùng cam Châu Á chủ yếu là Trung Quốc, Nhật
Bản,… ngoài ra còn vùng cam ở Bắc Phi, Úc…
Theo số liệu điều tra của FAO, sản lượng quả có múi trên thế giới năm
2006 là 117.591,695 nghìn tấn, năm 2008 là 121.936,794 nghìn tấn và đến năm
2010 tổng sản lượng quả có múi trên thế giới đạt 123.694,474 nghìn tấn.
11
12
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất quả có múi trên thế giới từ 2006 - 2010
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tấn/ha)

Đây là vùng phát triển khá mạnh và sớm nhất do đây là vùng có nền công
12
13
nghiệp tư bản phát triển sớm nhất. Vì vậy nhu cầu của người dân cũng lớn
nhất.
Vùng này có những nước sản xuất và xuất khẩu nhiều năm đứng đầu
thế giới như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia… Năm 2010 Tây Ban Nha sản
xuất 3.120 nghìn tấn cam, 1.708,2 nghìn tấn quýt, 578,2 nghìn tấn chanh, 43,2
nghìn tấn bưởi.
,-%./5678
Các nước sản xuất nhiều như: Mỹ, Cuba, Mêxicô… Ở Nam Mỹ có
Achentina, Brazil… Năm 2010 sản lượng cam, quýt của Mỹ là: Cam 7.478,83
nghìn tấn, Quýt 539,77 nghìn tấn, Chanh 800,14 tấn, Bưởi 1.123,09 nghìn tấn.
Tuy vùng cam quýt Châu Mỹ hình thành muộn hơn nhiều so với các
vùng khác nhưng do điều kiện tự nhiên thuận lợi, do nhu cầu cao nên ngành
trồng cam, quýt ở đây phát triển mạnh. Mỹ là nước nhiều năm có sản lượng
lớn nhất thế giới.
,-%569
Bao gồm các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Malaixia,
Pakistan, Thái Lan, Việt Nam…
Vùng này chính là quê hương của cam, quýt song do tốc độ phát triển
kinh tế chậm (nhất là sự phát triển công nghiệp) nên nghề trồng cam quýt
cũng chậm phát triển.
Ngoài 3 vùng cam, quýt chính trên đây hiện nay còn một số vùng của
Châu Úc như: Australia, Niuzilan… cũng đang trên đà phát triển. Hiện nay
cam, quýt bắt đầu được trồng nhiều trong nhà kính ở các nước có khí hậu lạnh
như: Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan… Tuy nhiên sản lượng của những nước
này không nhiều, chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước.
2.2.2. Tình hình sản xuất quả có múi ở Việt Nam
Nhìn chung cam, quýt đã trồng ở nước ta từ lâu đời, tuy nhiên mãi

núi phía Bắc 10,2 nghìn ha, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 6,0
nghìn ha, vùng Tây Nguyên 0,7 nghìn ha, vùng Đông Nam Bộ 5,5 nghìn ha,
vùng đồng bằng sông Cửu Long 33,4 nghìn ha. Tổng sản lượng cam quýt năm
2010 là 720,1 nghìn tấn với năng suất trung bình là 118,6 tạ/ha.
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất quả có múi 1 số vùng ở Việt Nam năm 2010
Vùng
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
Cả nước 60,9 118,6 720,1
Đồng bằng sông Hồng
5,1 117,9 64,2
Trung du và miền núi phía Bắc
10,2 52,9 51,4
Bắc Trung Bộ và duyên hải
6,0 102,4 57,5
14
15
miền Trung
Tây Nguyên
0,7 55,7 3,9
Đông Nam Bộ
5,5 128,1 71,6
Đồng bằng Sông Cửu Long
33,4 141,2 471,5
7!:;#&'(&)*&+
5<-2%./=>?,%

có kinh nghiệm về cây có múi. Tuy vậy vùng cam quýt miền Trung còn có
những hạn chế như: thời tiết khí hậu tương đối khắc nghiệt, mưa về mùa nóng
khô về mùa đông phần nào hạn chế sự sinh trưởng của cam quýt. Sự tiến bộ
khoa học không ổn định và không đồng đều giữa các địa phương trong vùng.
- Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long
Bao gồm các tỉnh như: Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long,…
vùng đồng bằng sông Cửu Long có lịch sử trồng cam quýt khá lâu đời gắn
liền với việc khai phá vùng đất này. Cam quýt được trồng nhiều ở vùng phù
sa ven sông Tiền, sông Hậu. Nông dân ở đây có trình độ trồng cam quýt khá
cao, đặc biệt là kỹ thuật chăm sóc như: khắc phục hiện tượng ra hoa cách
năm, điều khiển ra hoa sớm muộn, tạo tán, hạn chế chiều cao cây, trồng với
mật độ hợp lý để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, dinh dưỡng, nước, khoảng
không gian, tạo sự cân bằng khá hoàn chỉnh giữa cây với môi trường sinh thái
vùng đồng bằng.
Năm 2010 diện tích trồng cam quýt của vùng là 33,4 nghìn ha với sản
lượng 471,5 nghìn tấn và là vùng sản xuất cam quýt có diện tích và sản lượng
lớn nhất cả nước. Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long cũng có một tập
đoàn giống khá phong phú của địa phương như: cam giấy, cam sành, cam
mật, bưởi đường, bưởi Long Tuyền… Đặc biệt là giống bưởi Năm Roi quả to
vừa phải, ngọt pha vị chua nhẹ, không hạt rất phù hợp cho xuất khẩu.
Vùng cam quýt đồng bằng sông Cửu Long phát triển mạnh là nhờ khí
hậu, đất đai phù hợp và một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Sông Mêkông là con
đường giao thông đường thủy khá thuận lợi để vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm
cho nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên vùng trồng cam quýt này còn một số khó
khăn là nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm không cao, thời tiết nóng quanh
năm, lũ lụt và sâu bệnh phá hại nhiều làm giảm năng suất, chất lượng.
16
17
2.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ BƯỞI TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TRONG NƯỚC

giá 31.272,38 nghìn USD (giảm 1,92 lần so với năm 2006).
Bảng 2.6: Tình hình xuất - nhập khẩu bưởi trên thế giới năm 2010
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu
Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị
17
18
(1000 tấn) (1000 USD) (1000 tấn) (1000USD)
2006 303,81 90.911,08 46,95 59.995,78
2007 121,51 54.795,75 41,76 32.945,61
2008 55,62 29.305,53 76,37 39.308,95
2009 66,96 36.912,96 48,82 29.845,30
2010 63,71 38.112,30 37,13 31.272,38
 !"#&'(&)*(+
2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi ở Việt nam
Bưởi Việt Nam được trồng nhiều ở miền Nam với các giống nổi tiếng
như: bưởi Năm Roi, bưởi đường lá cam. Ở miền trung có bưởi Phúc Trạch
hiện nay đang được phát triển mạnh và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ở
miền Bắc có giống bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn,… là các giống ngon nổi
tiếng, có hiệu quả kinh tế cao gấp 15 - 20 lần so với trồng trọt các giống cây
trồng khác. Hiện nay với các giống bưởi và sản phẩm quả bưởi nổi tiếng, để
bảo vệ thương hiệu các địa phương có các giống bưởi quý rất cần đăng ký
thương hiệu hàng hóa, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm bằng nhiều
hình thức trong đó có việc thành lập các trang web như: % 2@A@%#
%B@CA@%D
Theo số liệu thống kê của FAO, diện tích trồng bưởi ở nước ta trong
những năm gần đây đang có xu hướng tăng nhưng sản lượng lại giảm. Năm
2006 cả nước có diện tích 5,152 nghìn ha với sản lượng 38,662 nghìn tấn nhưng
đến năm 2010 diện tích 5,332 nghìn ha và sản lượng là 33,472 nghìn tấn.
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất bưởi của Việt Nam từ 2006 - 2010
Chỉ tiêu

- Bưởi đường lá cam:
Được trồng nhiều ở huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) và Tân Uyên (Bình
Dương). Dạng quả khá đẹp, phẩm chất ngon được thị trường trong và ngoài
nước ưa chuộng. Quả có trọng lượng trung bình từ 0,8 - 1,2 kg/quả. Dạng quả
có hình quả lê thấp, vỏ quả khi chín có màu vàng xanh, lỏng, nhẵn và tróc rất
tốt. Các con tép bó chặt, vị ngọt rất ngon. nhưng lại có nhược điểm là có khá
nhiều hạt.
- Bưởi Phúc Trạch:
Có nguồn gốc ở xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, hiện
tại được trồng ở khắp 28 xã trong huyện và các vùng lân cận. Bưởi Phúc
Trạch được nhiều người xếp vào hàng một trong những giống bưởi ngon nhất
nước ta hiện nay. Trái hình cầu hơi dẹt, vỏ trái màu vàng xanh, trọng lượng
trung bình từ 1 - 1,2 kg/trái. Màu sắc thịt trái và tép màu phớt hồng, vỏ múi
giáo dễ tách rời, thịt trái mịn, đòng nhất, vị ngọt hơi chua. Độ Brix từ 12 - 14.
Thời gian thu hoạch vào khoảng tháng 9 hàng năm.
19
20
- Bưởi Đoan Hùng:
Hiện được trồng nhiều ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, trên đất phù
sa ven sông Lô và sông Chảy. Có hai giống được coi là tốt nhất, đó là bưởi
Tộc Sửu (xã Chí Đám) và bưởi Bằng Luân (xã Bằng Luân). Bưởi Bằng Luân
trái hình cầu hơi dẹt, trọng lượng trung bình 0,7 - 0,8 kg/trái, vỏ quả màu
vàng hơi xám nâu, tép mũi màu trắng xanh, mọng nước, thịt trái hơi nhão, vị
hơi nhạt, độ Brix từ 9 - 11. Thu hoạch vào tháng 10 - tháng 11, có thể để được
lâu sau khi thu hoạch. Bưởi Tộc Sửu trái lớn hơn, trọng lượng trung bình từ
1,0 - 1,2 kg/trái, thịt trái nhũn ít hơn giống bưởi Bằng Luân, vị ngọt lạ và có
màu trắng xanh. Thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng Luân khoảng nửa tháng.
- Bưởi Diễn:
Được trồng nhiều ở Phú Diễn, Phú Minh (Từ Liêm, Hà Nội). Bưởi
Diễn có thể là một biến dị của bưởi Đoan Hùng. Trái tròn, vỏ tría nhẵn khi

trong tỉnh và nhiều tỉnh thành trong cả nước. Đây là thông tin ít người biết
hiện nay.
Cây bưởi Đại Minh thấp, lá tròn, dày, tán rộng. Quả có hình dẹt, nhẵn
bóng, trọng lượng từ 800 - 1.000g, khi quả chín chuyển sang màu vàng,
những quả ở cây bưởi già nhỏ nhẵn dễ phân biệt với loại bưởi khác.
Bưởi Đại Minh ngon có tiếng, từ lâu đã trở thành đặc sản của vùng quê
này và là niềm tự hào của người dân Yên Bái. Khi bổ ra, bưởi có mùi thơm
thoang thoảng, múi róc, mọng nước. Chỉ cần ăn một múi cũng cảm nhận được
cái vị ngọt mát, thơm dịu của bưởi và cái vị đậm đà của làng quê.
Mùa thu hoạch bưởi thường vào tháng 10 âm lịch đến tháng 3 âm lịch
năm sau. Bưởi ngon phải trồng từ 20 năm trở lên.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi ở việt Nam còn một số khó khăn sau:
- Vườn kinh doanh thường nhỏ lẻ, lẻ tẻ không tập trung. Điều này gây
nhiều khó khăn trong việc cơ giới hóa, thu hái và vận chuyển.
- Trồng cam quýt gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật và phòng trừ sâu
bệnh, lũ lụt ở đồng bằng, xói mòn rửa trôi, lũ quét ở miền núi.
- Thị trường cam quýt trong nước và xuất khẩu không ổn định, giá cả
bấp bênh, nhất là sau sự sụp đổ của Đông Âu thị trường xuất khẩu cam quýt
của Việt Nam thay đổi theo hướng bất lợi.
21
22
- Thiếu kế hoạch đầu tư, quy hoạch phát triển vùng trồng cam quýt một
cách thống nhất, đồng bộ, đôi khi các vùng cam quýt hình thành do tự phát
trong sản xuất.
2.3.3. Tình hình sản xuất cây ăn quả của tỉnh Yên Bái
Hiện tại, toàn tỉnh Yên Bái có khoảng 9.000 ha cây ăn quả với sản
lượng trên 31.000 tấn/năm, đạt giá trị sản phẩm hơn 100 tỷ đồng.
Phát triển cây ăn quả là hướng đi mà Yên Bái xác định có tầm quan
trọng trong việc tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, tạo công ăn việc
làm thu hút được lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn góp phần vào công

- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
- Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện Yên Bình.
- Tình hình sản xuất bưởi của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
+ Diện tích, năng suất, sản lượng của những năm gần đây nhất.
+ Điều tra, phân tích hiện trạng các biện pháp kỹ thuật đang được áp
dụng, thị trường tiêu thụ,…
- Phân tích thuận lợi và khó khăn trong sản xuất, từ đó đề xuất các giải
pháp khắc phục những tồn tại và thúc đẩy phát triển sản xuất bưởi tại huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
* Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của
người dân (PRA):
- Các số liệu thứ cấp: thu thập tại các cơ quan chức năng (Đài khí tượng
thủy văn, phòng Nông nghiệp, UBND xã, Sở Tài Nguyên và Môi Trường, Sở
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, niên giám thống kê,…).
- Hiện trạng các biện pháp kỹ thuật và thị trường tiêu thụ: phỏng vấn
trực tiếp người sản xuất (phỏng vấn 30 hộ) theo mẫu biểu lập sẵn [3].
- Tổng hợp, phân tích số liệu và viết tiểu luận theo phương pháp
thường dụng.
23
24
* Điều tra về tình hình sâu bệnh hại:
Điều tra phát hiện các loài sâu bệnh hại, mức độ phổ biến trên cây bưởi
theo phương pháp của viện bảo vệ thực vật (Vũ Đình Ninh - 1986).
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu và tính toán
- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học (Phạm Chí Thành,
1988), số liệu được xử lý trên chương trình EXCEL.
24
25
Phần 4

0
C).
- Lượng mưa bình quân hàng năm: 2.121mm.
25

Trích đoạn Điều tra, theo dõi diễn biến sâu bệnh hại trên cây bưởi tại Đại Minh NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG SẢN XUẤT BƯỞI CỦA HUYỆN YÊN BÌNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status