1
MỤC LỤC
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
3
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chè là cây công nghiệp dài ngày có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới
sinh trưởng và phát triển trong điều kiện nóng ẩm, tập chung chủ yếu ở các
nước Châu Á, Châu Phi. Tuy nhiên, ngày nay khi khoa học ngày càng phát
triển thì cây chè cũng được trồng hầu hết ở các nước trên thế giới, có ở những
nước khác xa so với nguồn gốc của nó. [3]
Hiện nay trên Thế Giới có khoảng 60 nước ở khắp các châu lục phát
triển trồng và sản xuất chè với diện tích và sản lượng lớn. Sản phẩm chế biến
từ chè ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao. Được tiêu thụ với
nhu cầu ngày càng phát triển trên khắp thế giới. Trên cây chè hầu hết các bộ
phận như lá, búp, nụ hoa… không những là nguyên liệu chính dùng để chế
biến các loại sản phẩm trà uống có tác dụng bổ dưỡng, thanh nhiệt mà còn có
tác dụng như một vị thuốc trong y học. Chè còn là nguyên liệu để chế biến ra
nhiều hợp chất quan trọng phục vụ cho công nghệ chế biến công nghiệp, dược
liệu quý… Sở thích thưởng thức trà từ lâu đã trở thành thú vui thanh tao, quý
phái và là một nét đẹp văn hoá truyền thống của nhiều dân tộc trên Thế Giới
nhất là các nước phương đông.
Việt Nam là một trong những nước có diện tích và sản lượng chè tương
đối lớn so với các nước trong khu vực. Chè được trồng chủ yếu ở các vùng
trung du và miền núi phía bắc như: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang,
Phú Thọ, Yên Bái…. Ở miền nam có vùng cao nguyên Lâm Đồng.[3]
Thái Nguyên đã nổi tiếng với vùng chè Tân Cương ở phía tây thành
Trong số những tồn tại và bất cập của ngành sản xuất và chế biến chè,
nổi lên vấn đề quan trọng nhất đó là chất lượng và thương hiệu của các sản
phẩm. Sản phẩm chè của ta chưa thực sự đảm bảo “ độ sạch, an toàn” theo
4
5
tiêu chuẩn, chất lượng chè chưa cao, chưa ổn định, kém bền vững. Mặt khác,
thói quen sử dụng nhiều phân hóa học, hóa chất trong quá trình sản xuất chè
đã làm cho chất lượng sản phẩm chè của ta có nguy cơ ngày càng suy giảm,
mất dần thương hiệu, làm ô nhiễm và suy thoái dần môi trường đất, nguồn
nước… Sự nhận thức và việc áp dụng các quy trình công nghệ sản xuất tiên
tiến như sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ,
an toàn, sử dụng nước tưới sạch, phân vi sinh hữu cơ vừa cung cấp dinh
dưỡng cho cây vừa có tác dụng bảo vệ và cải tạo đất… để sản xuất ra các sản
phẩm chè an toàn mang tính bền vững của một bộ phân không nhỏ người sản
xuất còn hạn chế, nhất là đối với người dân sản xuất chè ở các vùng miền núi
còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp [1]. Để từng bước thay đổi quan
niệm trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng bằng con đường hữu cơ
vi sinh, giảm dần và tiến tới thoát ly sự phụ thuộc vào phân hóa học để hướng
tới một nền nông nghiệp bền vững.
Xuất phát từ thực tế nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ vi sinh đến
năng suất và phẩm chất chè lai LDP1 tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá, so sánh ảnh hưởng của hai loại phân bón hữu cơ vi sinh:
phân hữu cơ sinh học NTT và phân vi sinh Sông Gianh đến năng suất, chất
lượng đất của giống chè lai LDP1 trồng tại thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Điều tra tình hình sản xuất chè tại thị trấn Sông cầu, huyện Đồng Hỷ,
trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn
nhiều khó khăn vì chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn
các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả. Sử dụng phân hữu cơ vi sinh
thay thế dần dần và tiến tới loại bỏ các loại phân khoáng đối với cây chè, có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ tác động đến năng suất và chất lượng sản
phẩm mà còn cải thiện môi trường, cải thiện độ phì cho đất.
Bón phân cho chè kinh doanh là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm
thúc đẩy sinh trưởng của cây chè để tăng năng suất và chất lượng chè.
Khi xây dựng quy trình bón phân cho chè căn cứ vào điều kiện đất
đai, khí hậu, đặc điểm sinh lý của cây và khả năng cho năng suất của
nương chè. Cây chè có khả năng hút chất dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ
phát dục cá thể của cây. Ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp
cây chè tạm ngừng sinh trưởng xong vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng
nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè vẫn tiến hành
thường xuyên trong năm.
7
8
Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và quá trình sinh trưởng sinh thực
của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống
nhất. Vì vậy cần phải bón phân hợp lý điều chỉnh quá trình sinh trưởng, sinh
dưỡng đối với cây chè hái búp và điều chỉnh sinh trưởng sinh thực đối với chè
thu hoạch quả, giống…
Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rộng, nó có
thể sống ở nơi đất màu mỡ cũng có thể sống ở đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng
nhưng vẫn cho năng suất nhất định. Tuy nhiên muốn nương chè cho năng suất
cao, phẩm chất tốt, nhiệm kỳ kinh tế kéo dài cần bón phân đầy đủ cho chè.
Trong búp chè non của cây chè có 4,5%N, 1,5%P
2
O
5
cao nguyên Tây Tạng.
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam - Ấn Độ
Năm 1823 R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng
Atxam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây
chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở vùng Vân Nam Trung Quốc.
- Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 - 1976) về những
biến đổi sinh hóa của phức catechin trong lá chè dại và cây chè được trồng
trọt, chăm sóc đã cho kết luận: Nguồn gốc cây chè là ở Việt Nam.
Tuy có sự khác nhau nhưng những quan điểm trên đều có thống nhất
rằng: “ Cây chè có nguồn gốc ở châu Á, nơi có điều kiện khi hậu nóng ẩm”.
[4]
2.2.2. Phân loại của cây chè
Năm 1735, Line nhà khoa học người Thụy Điển đã đặt tên cho cây chè
là Thea Sinesis. Sau Line nhiều nhà khoa học khác đã đặt nhiều tên gọi cho
cây chè. Hiện nay tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công
nhận và được sử dụng phổ biến là Camellia Sinesis (L) O Kuntze
Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau:
Ngành: hạt kín Angrospermae
Lớp: Song tử diệp Dicotyledonae
Bộ: chè Theales
9
10
Họ: Chè Theaceae
Chi: Chè Camellia (Thea)
Loài: Camell (Thea) Sinensis
Căn cứ vào đặc điểm hình thái, các đặc tính sinh lý sinh hóa và khả
năng chống chịu của cây chè nhà bác học người Hà Lan là Cohen Stuart
(1961) đã phân chia cây chè thành 4 thứ (Varietas) chè chính:
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinesis var.macrophylla)
Ngoài ra chè còn được trồng ở các vùng Duyên Hải Miền Trung như:
Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Ngãi…Ở các vùng này chè được trồng rải
rác, phân tán với trình độ canh tác và chế biến chưa phát triển.[4]
2.4. VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÈ
Năng suất cây trồng là kết quả tổng hợp của tất cả các yếu tố sinh
trưởng nội tại bên trong và các yếu tố ngoại cảnh tác động trong suốt quá
trình sinh trưởng và phát triển cây trồng.
Chè là cây trồng cho sản phẩm thu hoạch là búp và lá non do vậy khi
bón các loại phân khoáng vì nhiều lý do như: điều kiện kinh tế, hạn chế về
hiểu biết kỹ thuật, dẫn đến mất cân đối thừa hay thiếu nguyên tố nào đó đều
ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh
phát triển nhiều, năng suất chất lượng giảm. Đồng thời với các vùng trồng chè
chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng các phân khoáng như: Ure, kalyclorua…. Với
phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân
thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước.
Để đạt được tiêu chuẩn chất lượng nông sản, bón phân cân đối cả đa
lượng, trung lượng và vi lượng, với mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế tối đa trên
đơn vị đất, lượng bón phải đủ, nhưng không thừa để tiết kiệm và tránh ô
nhiễm môi trường đất, nước và nông sản.
Đối với cây chè phân vi sinh có vai trò quan trọng, nó không những
cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như
làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước
của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất, làm tăng các
thành phần dinh dưỡng: N, P, K và các nguyên tố trung, vi lượng…. Nhưng
11
12
thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó
khăn: do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác, đồi chè
thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận
chuyển và bón phân thường gặp khó khăn. Những giải pháp để tăng cường
13
* Hàm lượng N; P
2
O
5
; K
2
O
- Hàm lượng N (Đạm): trong chè tập trung ở các bộ phân còn non như:
búp và lá non, N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein. Bón đủ
N lá chè có màu xanh quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp,
búp to. Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp. nếu quá nhiều
hàm lượng tanin và cafein giảm, hàm lượng ancolit tăng, chè có vị đắng.
Nguồn cung cấp N cho đất là do quá trình khoáng hóa chất hữu cơ và mùn
trong đất, do hoạt động cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con
người bón vào đất…
- Hàm lượng P
2
O
5
(Lân): trong búp non của chè có 1,5% P
2
O
5
. Lân
tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò
quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự
phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khẳ năng chống rét,
Kết quả nghiên cứu của Cuxunốp (1954) và T.C Niglollisvili hàm
lượng cafein trong búp chè có lợi cho sản phẩm chè.
Theo A.B Makhrabize (1948) nghiên cứu ảnh hưởng của kali đến chất
lượng chè cho rằng phẩm chất trong các công thức được xếp theo thứ tự là
N:P:K và sau cùng là phân bón.
Theo nghiên cứu của Truturin (1973) thì NPK phối hợp với Zn, Bo thì
phẩm chất chè, Nguyên liệu sẽ tăng lên.
Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm khối lượng cành đốn cũng xấp xỉ
bằng khối lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraselia thì lượng đạm
bị trôi đi bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất.
Trên thế giới việc sử lý phế thải chăn nuôi được quan tâm đáng kể, hiện
nay phương pháp khi sinh học sản xuất từ phế thải chăn nuôi được sử dụng
tương đối rộng rãi tại các cơ sở chăn nuôi nhỏ ở các nước Trung Quốc, Ấn
Độ, Nepan hoặc các trang trại tập trung ở Đức, Ưu điểm của phương pháp này
là dễ làm, đầu tư ít ở quy mô nhỏ.[11]
Theo Gaur và cộng sự (1980) (Gaur A.C (1980), [22] cho thấy việc bổ
sung các loại vi sinh vật có khả năng phân hủy xenlulo cao cùng các nguyên
tố dinh dưỡng như đạm dạng hữu cơ, lân dạng quặng photphorit và một số
điều kiện môi trường khác đã giúp rút ngắn thời gian ủ phân chuồng từ 4 - 6
tháng xuống còn 2 - 4 tuần. Các chủng vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ
14
15
được bổ sung trong quá trình ủ đống, vai trò vi sinh vật khởi động sản xuất
nhanh phân hữu cơ từ nguồn phế thải giàu xelulo là Aspergillus, Trichoderma
và Penicillium. Cũng từ các kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, vào
năm 1982 Gaur và cộng sự đã đề xuất kỹ thuật bổ sung thêm quặng photphat
với liều 5% và vi sinh vật phân giải lân (Aspergillus, Penicillium,
Pseudomonas, Bacillus) với mật độ 10
6
- 10
gia súc, gia cầm trong những năm qua và tác động tiêu cực đến ngành chăn
nuôi Việt Nam. Các vấn đề về môi trường ở các khu vực chăn nuôi đã và
đang xuất hiện với xu hướng ngày càng tăng về quy mô và mức độ nghiêm
trọng. Phế thải chăn nuôi, đặc biệt là các vùng chăn nuôi tập trung đã và đang
là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, ảnh hưởng
đến sức khỏe cộng đồng.
Sản xuất phân hữu cơ sinh học, mỗi loại sản phẩm được tạo thành
thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc
khác nhau (phế thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến
phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt…), trong các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới
tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học của chúng được chuyển
hóa thành mùn nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật.
Phân bón vi sinh vật được sản xuất bằng cách nhân sinh khối vi sinh
vật trong môi trường và điều kiện thích hợp để đạt được mật độ nhất định sau
đó xử lý bảo quản và đưa và sử dụng.
Từ năm 2003, được sự tài trợ của chính phủ Hà Lan chương trình “Khí
sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam” được triển khai 23 tỉnh, mục tiêu
chính của chương trình là cải thiện vệ sinh môi trường và năng lượng cho
người dân và nông thôn phát triển bền vững.[11]
Tại Việt Nam, trong khuôn khổ dự án sản xuất thử nghiệm KC 04 -
DA11, năm 2005 Bộ môn Vi sinh vật - Viện Thổ nhưỡng nông hóa đã sản xuất
thử nghiệm thành công 2500kg chế phẩm Compost Maker phục vụ cho sản
xuất hàng nghìn tấn phân hữu cơ sinh học từ nguồn gốc phế thải chăn nuôi. Các
nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm thành công phương pháp nuôi giun
bằng rác thải, nhằm giải quyết nạn ô nhiễm môi trường do rác gây ra, đồng thời
cung cấp thức ăn cho gia súc. Loại giun này được nhập từ Philippines, có ưu
16
17
điểm là dễ nuôi, sinh sản nhanh, thích nghi tốt với khí hậu Việt Nam [14]. Theo
Huỳnh Thị Kim Hối [14] thuộc viện Sinh Thái và Tài Nguyên sinh vật, đã
mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng thưởng thức chè ở nhiều nước đã được
nâng lên tầm văn hóa với cả nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo.[4]
Hiện nay, hàng tỷ người trên Thế Giới đã sử dụng chè làm thứ nước
uống hàng ngày, ngay cả nước Tây Âu thì số người chuyển từ uống cà phê
sang trà ngày càng nhiều.
Theo Đỗ Ngọc Qũy [20] quốc gia đầu tiên trên Thế Giới phát triển sản
xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những
năm 805 sau công nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780,
vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 tiến tới các nước
Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine….Trên Thế Giới cây chè được phát triển
với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ thế kỷ 18 trở lại. Đến nay trên Thế Giới có
trên 50 quốc gia trồng chè, cây chè được phân bố từ 30 vĩ độ nam đến 45 vĩ
độ bắc tập chung chủ yếu vẫn là Châu Á và Châu Phi.
Theo FAO (2011) thì tình hình và sản xuất chè tính đến năm 2010
như sau:
2.6.1.1. Diện tích
Bảng 2.1. Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2005 - 2010
(Đơn vị: ha)
Nước
Năm
2007 2008 2009 2010
Trung Quốc 1.175.732 1.215.174 1.437.873 1.437.873
Ấn Độ 567.020 474.000 470.000 583.000
Indonexia 110.524 106.948 107.000 107.800
Việt Nam 126.200 129.300 111.600 113.200
Mianma 74.500 74.500 77.000 76.800
Nhật Bản 48.200 48.200 47.300 46.800
Bangladest 57.580 58.005 59.000 59.700
Kenya 149.190 157.700 158.400 171.900
năng suất bình quân của thế giới 60,73%. Nhật Bản là nước đứng thứ 2 có
năng suất chè là 18,162 tạ khô/ha tương đương với 25,77% năng suất thế giới
và Mianma là nước có năng suất chè thấp nhất 4,219 tạ khô/ha tương đương
với 29,28% năng suất chè thế giới. Trong đó Việt Nam tính đến năm 2010 đạt
năng suất là 17,532 tạ khô/ha.
2.6.1.3. Sản lượng
19
20
Bảng 2.3. Sản lượng của thế giới và một số nước trồng chè chính
năm 2007 - 2010
(Đơn vị: Tấn)
Nước
Năm
2007 2008 2009 2010
Trung Quốc 1.183.002 1.275.384 1.375.080 1.467.467
Ấn Độ 973.000 987.000 972.700 991.180
Indonexia 150.224 150.851 146.440 150.000
Việt Nam 164.000 173.500 185.700 198.466
Mianma 27.700 29.000 30.500 32.400
Nhật Bản 94.100 96.500 86.000 85.000
Bangladest 58.500 59.000 59.500 60.000
Kenya 369.600 345.800 314.100 399.000
Thế Giới 3.971.051 4.211.397 4.241.120 4.502.160
(Nguồn: theo FAO Satistics Division 2011) [21]
Qua bảng 2.3 cho thấy sản lượng chè trên thế giới năm 2010 là
4.502.160 tấn tương đương với 24,84% so với năm 2005. Trung Quốc là nước
có sản lượng chè lớn nhất thế giới đạt 1.467.467 tấn chiếm 32.59% tổng sản
lượng thế giới. Sản lượng chè thấp nhất là nước Mianma đạt 32.400 tấn chiếm
0,72% tổng sản lượng chè thế giới. Việt Nam đạt sản lượng 198.466 tấn
chiếm 4,41% tổng sản lượng chè thế giới.
Theo dự báo của Hội đồng Chè Kenya, sản lượng chè của nước này cả
năm 2011 sẽ sụt giảm 9% so với năm 2010, đạt mức 365 triệu kg.
Kenya xuất khẩu 221,7 triệu kg chè, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường chè xuất khẩu của nước này trong những tháng vừa qua đã được
mở rộng tới 40 nước và vũng lãnh thổ. Pakistan hiện vẫn đang là nước nhập
khẩu chè lớn nhất của Kenya với sản lượng nhập khẩu 40,1 triệu kg, chiếm
18% tổng lượng chè xuất khẩu của cả nước. Tiếp đó là Ai Cập với 36,9 triệu
kg.
Mặc dù sản lượng chè xuất khẩu cả năm 2011 của Kenya giảm nhưng
do nhu cầu tiêu tiêu thụ chè thế giới tăng cao dẫn tới giá xuất khẩu của mặt
hàng này có nhiều thuận lợi trong thời gian vừa qua. Dự báo doanh thu xuất
21
22
khẩu chè của nước này trong năm 2011 đạt 1,06 tỉ USD, tăng 9.3% so với
năm 2010.
Theo số liệu của Ủy ban Chè, sản lượng chè Ấn Độ tăng 10% đạt
114.700 tấn trong tháng 6/2011. Tháng 6/2010, Ấn Độ chỉ sản xuất được
104.300 tấn. Sản lượng chiếm 50% chè của Ấn Độ, tăng 24% lên 62.820 tấn
trong tháng 6/2011 từ 50.700 tấn của cùng kỳ năm ngoái.
Xuất khẩu chè từ Ấn Độ, nước trồng chè thứ 2 thế giới sau Trung Quốc,
giảm 18% còn 74.600 tấn trong 6 tháng tính đến hết ngày 30/6/2011. Xuất khẩu
trong tháng 6 giảm còn 12.300 tấn so với 12.800 tấn của cùng kỳ năm ngoái.
Trong năm 2011 Tại Kenya, giá bình quân các loại chè hàng đầu đạt 3,80
USD/kg, so với 3,74 USD/kg trong tuần cuối năm 2010.
Tại Bănglađét, giá trung bình các loại chè tăng 1,59% lên 195,72 taka, tương
đương 2,76 USD/kg nhờ chất lượng tốt cho dù nhu cầu giảm.
Tại Chittagong, đã có 1,33 triệu kg chè được đem ra chào bán nhưng tỷ lệ thu
hồi chiếm tới 16,49%.
Giá của các loại chè dao động từ 165 taka đến 264 taka/kg, trong đó có lô
500kg chè bụi Red Dust được giá nhất.
các vườn chè bị bỏ hoang, ít được đầu tư chăm sóc. Diện tích, năng suất, sản
lượng chè trong thời gian này đều giảm sút nhiều.
- Giai đoạn 1954 - 1990: Giai đoạn hàng loạt các nông trường chè được
thành lập, công nghiệp chế biến phát triển mạnh nhiều nhà máy chè xanh, chè
đen được xây dựng ở Nghĩa Lộ, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái
Nguyên, Phú Thọ… với sự giúp đỡ về kỹ thuật của Liên Xô (cũ), Trung
Quốc…. Chè được xuất khẩu sang một số nước Đông và một số nước Tây Âu.
- Giai đoạn 1990 đến nay: Từ 1990 - 1997 diện tích và sản lượng chè
tăng đáng kể nhưng do thị trường tiêu thụ biến động nên sản xuất chè gặp
nhiều khó khăn, công nghệ chế biến chè chưa đáp ứng được nhu cầu thị
trường. Trước thực trạng đó tổng công ty chè Việt Nam đã được thành lập,
công nghệ chế biến được đổi mới, thị trường được mở rộng. Giá cả ổn định
tạo niềm tin cho người dân làm chè.[4]
Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều cơ chế chính sách đầu tư
ưu tiên phát triển cây chè, cây chè được xem là cây trồng có khả năng xóa
đói, giảm nghèo làm giàu của hộ nông dân. Do đó diện tích, năng suất và sản
lượng chè không ngừng tăng lên từ những năm 90 trở lại đây.
Thời gian gần đây chè đã phát triển mạnh do liên kết sản xuất với nước
ngoài và hiện nay nhu cầu sử dụng chè chuyển sang một giai đoạn mới, giai
23
24
đoạn sử dụng chè sạch. Từ đó cũng đã có nhiều bước chuyển đổi để đưa
ngành chè Việt Nam mở rộng và phát triển cùng thế giới.
Do đặc điểm địa hình của nước ta phức tạp đã tạo nhiều vùng khí hậu
khác nhau do đó cũng chia ra nhiều vùng chè phân bố khác nhau.
- Vùng chè Tây Bắc
- Vùng chè Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn
- Vùng chè Trung Du - Bắc Bộ
- Vùng chè Bắc Trung Bộ
- Vùng chè Tây Nguyên
vượt qua Pakistan trở thành thị trường tiêu thụ lớn nhất , tăng 85,99% về
lượng. Tính chung 3 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất khẩu 3,4 nghìn tấn
chè sang thị trường Nga với trị giá 7 triệu USD. Chiếm 13% lượng chè xuất
khẩu của cả nước, Ấn Độ đứng thứ 2 với lượng xuất trong tháng 3 là 1,1
nghìn tấn, trị giá 1,4 triệu USD, tăng 69% về trị giá và 33% về lượng so với
tháng đầu năm 2010.
25