nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng rau cải ngồng tại huống thượng - đồng hỷ - thái nguyên - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ NGỌC NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG
RAU CẢI NGỒNG TẠI HUỐNG THƢỢNG
- ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thúy Hà
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã
nhiệt tình ửng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn
chỉnh luận văn tốt nghiệp. Tác giả luận văn Hoàng Thị Ngọc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích, yêu cầu 2
2.1.Mục đích 2
2.2.Yêu cầu 2
3. Ý nghĩa của đề tài 3
3.1.Ý nghĩa khoa học 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài: 4
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài: 5
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trên thế giới 8
1.2.1.Tình hình sản xuất rau trên thế giới 8

3.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng
suất rau cải ngồng 37
3.2.1. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao
của rau cải ngồng 37
3.2.2. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng số lá của
rau cải ngồng 39
3.2.3. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều dài
lá của rau cải ngồng 41
3.2.4. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều
rộng lá của rau cải ngồng 43
3.2.5. Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến tình hình sâu bệnh hại rau cải
ngồng 45
3.2.7. Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế 49
3.3. Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến phòng trừ sâu hại
rau cải ngồng tại Thái Nguyên. 51
3.3.1. Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu tơ hại
rau cải ngồng. 51
3.3.2. Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với sâu xanh
bướm trắng trên rau cải ngồng 52
3.3.3. Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến năng suất rau
cải ngồng. 54
3.3.4. Hạch toán hiệu quả kinh tế 55
3.4. Ảnh hưởng của vòm che thấp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
rau cải ngồng 56
3.4.1. Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng chiều cao
của rau cải ngồng 56
3.4.2. Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng số lá của
rau cải ngồng 57
3.4.3. Ảnh hưởng của vòm che thấp đến động thái tăng trưởng chiều dài
lá của cây cải ngồng 58

Bảng 3.5: Động thái tăng trưởng chiều dài lá cải ngồng ở các công
thức thí nghiệm 42
Bảng 3.6: Động thái tăng trưởng chiều rộng lá cải ngồng 44
Bảng 3.7: Tình hình sâu bệnh hại cải ngồng 46
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất rau cải ngồng 48
Bảng 3.9: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 50
Bảng 3.10: Hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với 51
sâu tơ trên rau cải ngồng 51
Bảng 3.11: Hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với 53
sâu xanh bướm trắng trên rau cải ngồng 53
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật 54
đến năng suất rau cải ngồng 54
Bảng 3.13: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 55
Bảng 3.14: Động thái tăng trưởng chiều cao của rau cải ngồng 56
Bảng 3.15: Động thái ra lá của cây cải ngồng 57
Bảng 3.16: Động thái tăng trưởng chiều dài lá cải ngồng 58
Bảng 3.17: Động thái tăng trưởng chiều rộng lá của cải ngồng 60
Bảng 3.18: Sâu bệnh hại cải ngồng vụ Thu Đông 2012 61
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của vòm che thấp đến các yếu tố cấu thành 62
năng suất và năng suất của cải ngồng 62
Bảng 3.20: Hiệu quả kinh tế của các công thức 64

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn
hàng ngày của con người. Rau không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng thiết

nguồn nước sạch tự nhiên, hệ thống kênh mương, thuỷ lợi, giao thông và điện
tương đối thuận lợi. Đặc biệt xã có khí hậu đặc trưng thích hợp cho việc sản
xuất các loại cây rau màu như: su hào, bắp cải, cải ngồng.
Trước thực tế đó, để tận dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên vốn có
của địa phương, đáp ứng yêu cầu thực tế sản xuất, nhu cầu của người tiêu
dùng. Đồng thời góp phần tạo dựng một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn
định và bền vững, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng rau cải
ngồng tại Huống Thượng - Đồng Hỷ - Thái Nguyên”.
2. Mục đích, yêu cầu
2.1.Mục đích
- Xác định được thời gian cách ly sau bón phân đạm đối với rau cải
ngồng đảm bảo sản phẩm rau an toàn.
- Xác định được liều lượng đạm bón thích hợp đối với rau cải ngồng.
- Xác định được loại thuốc bảo vệ thực vật để trừ sâu hại rau cải ngồng.
- Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng vòm che thấp trong sản
xuất rau cải ngồng tại Thái Nguyên.
2.2.Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của rau cải ngồng.
- Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại của rau cải ngồng.
- Đánh giá năng suất của rau cải ngồng.
- Phân tích dư lượng NO
3
-

- Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng rau cải ngồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


rau ăn lá. Vì vậy, muốn phát triển sản xuất rau cần hạn chế đến mức thấp nhất
ảnh hưởng xấu của các yếu tố bên ngoài, tạo điều kiện cho cây rau sinh
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao.
Kỹ thuật vòm che thấp là một trong những biện pháp được sự quan tâm
của nhiều nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu và của người nông dân.
Ứng dụng kỹ thuật này trong sản xuất rau vừa hạn chế ảnh hưởng xấu của
điều kiện thời tiết, tạo điều kiện thuận lợi cho cây rau phát triển, vừa tiết kiệm
chi phí sản xuất. Thích hợp cho các loại rau ăn lá và sản xuất rau trái vụ, góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng rau.
Phân bón cũng là yếu tố có vai trò quyết định đến năng suất cây trồng.
Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất tối đa khi được
bón phân hợp lý. Theo kết quả điều tra của tổ chức Nông – Lương thế giới
(FAO), bón phân không cân đối làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón 20-50%.
Chi phí phân bón chiếm 30-50% chi phí sản xuất. Để tiết kiệm chi phí sản xuất,
thu được lợi nhuận lớn, người sản xuất phải tìm những biện pháp kỹ thuật bón
phân cân đối, hợp lý. Như vậy sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón,
tránh lãng phí, sản phẩm an toàn với người tiêu dùng và môi trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

5
Phân hóa học cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng,
phát triển. Tuy nhiên nếu bón phân không đúng nồng độ, liều lượng, không đảm
bảo thời gian cách ly sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng NO
3
-
trong sản phẩm vượt
quá ngưỡng cho phép gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Để bảo vệ cây trồng trước sự phá hoại của các loài dịch hại, thời gian
qua con người đã sử dụng nhiều biện pháp tác động, trong đó biện pháp hóa

triển thuận lợi. Song, cũng giống như các nhân tố đất, nước, thuốc BVTV, phân
bón luôn tiềm tàng, ẩn chứa rất nhiều nguy cơ ô nhiễm cho cây trồng đặc biệt là
cây rau. Đó là các nguy cơ ô nhiễm về sinh học (virus, vi khuẩn, nấm) và hóa
học (các nguyên tố kim loại nặng, hàm lượng nitơrat). Vì vậy, việc sử dụng phân
bón hợp lý và an toàn cho cây trồng nói chung, cây rau nói riêng là một việc làm
cần thiết, phục vụ cho sức khỏe con người. Trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một
lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây
trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Theo đánh
giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân bón đóng góp khoảng
30-35% tổng sản lượng cây trồng. Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại
hoá chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế,
tác dụng đem lại sự mầu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống
con người, gia súc. Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân
bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản
xuất nông nghiệp và môi trường sống.
Lượng nitrat có thể tích lũy trong mỗi loại rau, phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó liều lượng phân đạm sử dụng cho cây trồng được đặc biệt quan
tâm. Sự có mặt của nitrat trong nông sản sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con
người và dư lượng nitrat trong mô thực vật vượt quá ngưỡng an toàn được xem
như một độc chất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

7
Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, người nông dân chỉ chú trọng
đến năng suất, thâm canh tăng vụ chạy theo lợi nhuận. Nên đã trồng rau theo
cách bón phân cho rau một cách bừa bãi, phun thuốc trừ sâu một cách không có
giới hạn, thậm chí là cả các loại thuốc không được phép sử dụng . Dẫn đến mỗi
năm có hàng nghìn ca ngộ độc thực phẩm, do sử dụng các sản phẩm rau tươi có

vùng sản xuất rau an toàn tập trung đáp ứng yêu cầu VietGAP, 10% tổng sản
phẩm được chứng nhận và công bố sản xuất, chế biến theo quy trình sản xuất
RAT. Để phục vụ cho mục tiêu trên thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ
thuật nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cải ngồng bắp an toàn phục
vụ cho sản xuất rau an toàn tại địa phương là khâu đầu tiên trong chuỗi quá
trình từ đồng ruộng đến bàn ăn của một nền sản xuất hội nhập
1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trên thế giới
1.2.1.Tình hình sản xuất rau trên thế giới
-
a…
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, ngoài việc mở rộng diện tích,
năng suất và sản lượng các loại rau cũng không ngừng tăng.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng (tấn)
2004
15.937.621
14,3413
228.567.064
2005
16.478.642
14,2494
234.811.143
2006
16.882.868
14,3506
242.279.601

bông sợi hoặc bỏ hoang thì nay đã chuyển sang trồng các loại rau có giá trị
kinh tế cao (châu á cũng là khu vực có tốc độ tăng diện tích đất trồng rau cao
nhất trên thế giới hiện nay). Trung Quốc là một quốc gia phát triển rộng nhất
lớn châu lục, tốc độ tăng trưởng của ngành rau gần bằng tốc độ tăng trưởng
kinh tế nước này.
Trong vòng 20 năm qua, sản xuất rau của Trung Quốc đạt tốc độ tăng
trưởng trung bình trên 6%/năm. So với mặt bằng chung của các nước đang
phát triển trên thế giới, tốc độ tăng trưởng của ngành rau Trung Quốc cao hơn
tới 3%/năm
Tính chung toàn thế giới, tốc độ tăng diện tích đất trồng rau trung bình
đạt 2,8%/năm, cao hơn 1,05%/năm so với diện tích đất trồng cây ăn trái,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
1,33%/năm sao với cây lấy dầu, 2,36%/ năm so với cây lấy rễ, 2,41%/ năm so
với cây họ đậu. Trong khi đó, diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi lại
giảm tương ứng là 0,45%/năm và 1,82%/năm [36].
Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/ năm. Các nước
phát triển như Pháp, Đức, Canada… vẫn là những nước nhập khẩu rau chủ
yếu. Các nước đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan và các nước
nam bán cầu vẫn đóng vai trò chính cung cấp rau tươi trái vụ [17].
Cũng theo FAO (2001), sản lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người
toàn thế giới là 78 kg/năm. Riêng châu Á sản lượng rau 2001 đạt khoảng
487.215 triệu tấn. Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất,
đạt 70 triệu tấn/năm; thứ 2 là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm.
Nhìn chung, mức tăng trưởng sản lượng rau châu Á các năm qua đạt khoảng
3% năm, tương đương khoảng 5 triệu tấn/ năm .
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đã ứng dụng những kỹ thuật
tiên tiến trong sản xuất rau như : kỹ thuật thuỷ canh, kỹ thuật trồng rau trong

phủ về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến tiêu thụ rau, quả
và chè an toàn đến 2015 [22].
Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 về việc ban hành
quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn [24].
1.2.2.2.Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Việt Nam có vị trí địa lý trải dài qua nhiều vĩ độ, khí hậu nhiệt đới gió
mùa và có một số vùng tiểu khí hậu đặc biệt như Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt…
có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất rau. Việt Nam có thể trồng
được trên 120 loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và cùng với
các tiến bộ KHCN các loại rau trái vụ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng và phục vụ chế biến xuất khẩu Đối với nghề trồng rau, Việt Nam
đã hình thành nên 4 vùng sinh thái rõ rệt (Đường Hồng Dật, 2002)[10].
- Vùng khí hậu á nhiệt đới: Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm
Đồng). Vùng này có mùa đông lạnh với nhiệt độ khoảng 4-5
0
C đôi khi xuống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

12
dưới 0
0
C, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển các loại rau ôn đới.
- Vùng nhiệt đới có mùa đông lạnh: Vùng đồng bằng, trung du và miền
núi phía Bắc với khí hậu chia thành 4 miền rõ rệt, cho phép trồng rau quanh
năm. Vụ Xuân Hè phù hợp cho việc trồng trọt các loại rau chịu nóng và ưa nước,
vụ Thu Đông phù hợp cho các loại rau ưa lạnh và chịu hạn, đặc biệt vụ Đông ở
các tỉnh đồng bằng, trung du và các tỉnh miền núi phía bắc có thể trồng trọt các
loại rau có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới như xu hào, cà chua, cải bắp,
- Vùng nhiệt đới có mùa hè khô nóng bao gồm các tỉnh cực nam Trung

sản xuất tính trên đầu người ở nước ta vào khoảng 84 kg/người/năm (tiêu thụ
80 kg) như kế hoạch đề ra năm 2005 chúng ta mới chỉ đạt chỉ tiêu về khối
lượng rau cho tiêu dùng trong nước và một phần xuất khẩu.
Bảng 1.2: Diện tích, sản lƣợng rau ở Việt Nam phân theo địa phƣơng
TT
Địa phƣơng
2007
2008
2009
D.tích
(ha)
S.lƣợng
(tấn)
D.tích
(ha)
S.lƣợng
(tấn)
D.tích
(ha)
S.lƣợng
(tấn)

Cả nƣớc
706.479
11.084.655
722.580
11.510.700
735.335
11.885.067
I

211.852
4
Bắc Trung Bộ
76.982
766.829
80.761
826.152
80.620
828.024
II
Miền Nam
370.644
6.194.730
383.046
6.510 387
404.757
6.928.400
1
Nam Trung bộ
47.427
708 316
46 646
695 107
49 459
713 473
2
Tây nguyên
61.956
1 274 728
67 075

14
phẩm hoá học độc hại: hàm lượng nitrat, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật cũng như các vi sinh vật gây hại được hạn chế theo tiêu chuẩn an toàn.
Trong những năm gần đây, diện tích cải bắp trong cả nước đều tăng.
Tính từ 1993 đến 2005, tỷ lệ tăng trưởng diện tích này là 12,8%. Mặc dù năng
suất không tăng nhiều do chưa chủ động được nguồn giống và đầu tư về mặt
kỹ thuật nhưng sản lượng cải bắp cũng tăng không ngừng với 13% mức tăng
trưởng hàng năm.
Sau 5 năm thực hiện chương trình phát triển rau quả và hoa cây cảnh đã
đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng diện tích rau đạt
5,54 %/ năm [33].
Ngành hàng rau quả đã góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo nghị định số 09/NQ-CP ngày 15/06/2000
của chính phủ. Nhiều sản phẩm có chất lượng cao đã chiếm lĩnh được thị
trường của nhiều nước trên thế giới. Nhiều tiến bộ khoa học mới đã được áp
dụng trong sản xuất như khâu tạo giống mới sạch bệnh, thâm canh, bảo vệ
thực vật làm gia tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm [33].
Công tác giống : Với chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm
nghiệp thời kỳ 2000-2005 được thủ tướng chính phủ phê duyệt. Sau 5 năm,
chương trình đã tạo được nhiều giống mới, nhập nội được nhiều quỹ gen quý,
nhân và cung cấp cho sản xuất một khối lượng lớn giống tiến bộ kỹ thuật đáp
ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá, phục vụ xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. So
với lúc bắt đầu chương trình giống, tỷ lệ giống tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất
đã gia tăng 2-3 lần. Việc ban hành Pháp lệnh về giống cây trồng là cơ sở pháp
lý quan trọng để tăng cường hiệu quả quản lý giống cây trồng [33].
Trong chế biến : đã chú trọng đầu tư phát triển mới và nâng cấp nhiều cơ sở
chế biến rau quả đã được trang bị đầu tư thiết bị và công nghệ hiện đại tạo ra
những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Đào tạo nguồn nhân lực: đã đào tạo cán bộ kỹ thuật, quản lý vững về
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ góp phần thúc đẩy ngành rau quả Việt Nam

tăng diện tích và tăng năng suất. Với khối lượng rau trên đây, năm 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

16
lượng rau sản xuất bình quân đầu người ở Việt Nam đạt xấp xỉ 140
kg/người/năm, cao hơn trung bình toàn thế giới (128 kg/người/năm), gấp đôi
các nước ASEAN. Vấn đề quan trọng hiện nay trong sản xuất rau là chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tháng 3/2007 Hà Nội đã thông qua đề án “Sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn với mục tiêu: “Hoàn thành quy hoạch sản xuất rau an toàn, hình thành
các vùng sản xuất rau an toàn tập trung được đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng,
tăng sản lượng và chất lượng rau an toàn cung cấp cho người tiêu dùng thủ
đô, phấn đấu đến năm 2008 có 80% và năm 2010 có 100% diện tích sản xuất
rau của Hà Nội được sản xuất theo quy trình sản xuất rau an toàn”[2].
Tỉnh Vĩnh Phúc có chương trình “Phát triển rau sạch cộng đồng” nằm
trong chương trình IPM -
, thực hiện 5 điều cấm trong sản xuất, ứng
dụng rộng rãi chế phẩm EM và các chế phẩm sinh học khác [18].
Tại Hưng Yên có một số mô hình sản xuất rau an toàn ở quy mô nhỏ
do Viện nghiên cứu rau quả phối hợp với địa phương thực hiện: mô hình dưa
chuột an toàn tại Kim Động (thực hiện 2004-2007), rau ăn lá tại thị xã Hưng
Yên (thực hiện 2005-2007). Thực hiện yêu cầu của Bộ NN & PTNT hiện nay,
Sở NN & PTNT xây dựng đề án sản xuất rau an toàn giai đoạn 2008 - 2010
trên địa bàn toàn tỉnh. Dự án hướng tới khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ[18].
Hiện nay chưa có một quy trình kỹ thuật sản xuất rau an toàn thống
nhất trong cả nước. Mỗi địa phương áp dụng một quy trình sản xuất rau an
toàn khác nhau. Ở các vùng rau an toàn, phần lớn ngươi dân tự sản xuất, tự
tiêu thụ đã dẫn đến đầu ra không ổn định, chưa gây dựng được niềm tin ở
người tiêu dùng về chất lượng rau.

8.047
7.724
8.920
8.523
99.879
116.745
117.798
139.635
TP Thái Nguyên
801
782
709
776
815
14.774
14.567
12.492
13.745
1.5382
Sông Công
276
300
349
381
421
2.779
3.147
4.603
5.455
6.133

6.520
4.656
3.718
Đồng Hỷ
1.013
1.211
1.270
1.055
1.071
14.758
18.160
21.908
18.359
19.469
Đại Từ
1.002
1.460
1.572
1.699
2.417
10.318
17.470
22.548
25.158
36.182
Phú Bình
1.185
1.220
1.231
1.178

khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, trong đó khâu sản xuất được hỗ trợ, hướng
dẫn và giám sát kỹ thuật.
1 :

.
Theo M. Yamaguchi (1983), A. Gupta (1987) thì đạm là yếu tố hạn chế
hàng đầu với năng suất rau. Khi cung cấp đủ đạm cây sinh trưởng phát triển
tốt, nếu thiếu đạm thì không những cây sinh trưởng phát triển kém, năng suất
kém mà phẩm chất lại giảm [18].
Theo M.E. Yarvan (1980) thì khi bón lượng đạm tăng từ 30 lên 180 kg
N/ha làm tăng hàm lượng NO
3
-
trong cà rốt từ 21,7 lên 40,6 mg/kg đều vượt
ngưỡng cho phép của tổ chức y tế thế giới quy định [18].
Năm 2005 tác giả Rankop, Dimitrop và các tác giả khác cho rằng: Các
thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây cải bắp thì yêu cầu về N, P, K cũng thay
đổi từ thời kỳ đầu đến thời kỳ cuối, cây hút 85% đạm, 96% lân và 84% kali [14].
Theo Đặng Thị An và cộng sự (1998) khi khảo sát chất lượng rau ở các
chợ nội thành đã thấy 30 trong 35 loại quả phổ biến có tồn dư NO
3
vượt trên
500mg/kg. Một nghiên cứu khác cho thấy trong các phương thức canh tác rau,
rau sản xuất an toàn, đầu tư thấp và rau hữu cơ đều có hàm lượng NO
3
dưới
ngưỡng cho phép (500 mg/kg). Trong khi tất cả các mẫu rau sản xuất theo

Trích đoạn Cỏc chỉ tiờu và phương phỏp theo dừi Ảnh hưởng của vũm che thấp đến tỡnh hỡnh sõu bệnh hại cải ngồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status