Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng rau mầm họ hoa thập tự (brassicaceace) - Pdf 95

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN NAM TRUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ðẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG RAU MẦM
HỌ HOA THẬP TỰ (BRASSICACEAE)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01

Người hướng dẫn: 1. PGS.TS VŨ QUANG SÁNG
2. PGS.TS NGÔ XUÂN MẠNH
HÀ NỘI - 2012i


hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này.
Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo:
PGS.TS Vũ Quang Sáng; PGS.TS Ngô Xuân Mạnh đã trực tiếp tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Trường,
Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Hải Phòng, Sở Khoa học và Công
nghệ thành phố Hải Phòng, cán bộ lãnh đạo các xã và các hộ gia đình đã
giúp đỡ tôi triển khai thử nghiệm, xây dựng mô hình sản xuất rau mầm tại
địa bàn quận Kiến An, Lê Chân, An Dương.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm Phát triển liên ngành nông –
lâm nghiệp, Dự án Việt Bỉ - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tài
trợ kinh phí để tôi thực hiện nghiên cứu này.
Tôi cũng xin được nói lời cảm ơn chân thành gia đình, người thân,
bạn bè và các đồng nghiệp đã luôn sát cánh bên tôi, động viên và tạo mọi
điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận án này.

Tác giả: Trần Nam Trung
iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viêt tắt vi
Danh mục các bảng vii

1.5.1 Điều kiện phát sinh phát triển 33
1.5.2 Các bệnh hại trên rau mầm gây ra tỉ lệ thương tổn 33
1.5.3 Biện pháp hạn chế sự phát sinh phát triển của bệnh hại 34
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng, vật liệu và địa điểm nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 35
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 36
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 41
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 45
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và năng
suất rau mầm họ hoa thập tự 46
3.1.1 Ảnh hưởng của giá thể 46
3.1.2 Lượng hạt giống gieo 52
3.1.3 Chế độ tưới nước trong ngày 57
3.1.4 Thời gian che tối để sáng 74 v
3.1.5 Thời gian thu hoạch sau gieo 85
3.1.6 Biện pháp kỹ thuật tổng hợp nâng cao năng suất rau mầm họ
hoa thập tự 95
3.2 Thực nghiệm mô hình sản xuất rau mầm tại phòng thí nghiệm
và hộ gia đình ở thành phố Hải Phòng 96
3.2.1 Thực nghiệm mô hình tại phòng thí nghiệm 97
3.2.2 Thực nghiệm mô hình tại hộ gia đình 98

ITC Isothiocyanate
KL Khối lượng
LSD
0,05
Sai khác có ý nghĩa ở mức α = 0,05
NN&PTNT

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSTT Năng suất thực thu
QR Enzim quinone reductase
SF Sulforaphane
TB Trung bình
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TLTT Tỉ lệ thương tổn
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
USDA Bộ Nông nghiệp Mỹ
(United States Department of Agriculture) vii
DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Tên bảng Trang
3.1 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng rau mầm họ hoa thập tự
trong vụ Xuân 2008 46
3.2 Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất rau mầm họ hoa thập tự
trong vụ Xuân 2008 48

3.3 Ảnh hưởng của giá thể đến màu sắc lá mầm và tỉ lệ thương tổn
rau mầm họ hoa thập tự trong vụ Xuân 2008 49

(Chl) trong lá rau mầm họ hoa thập tự trong vụ Xuân 2010 72

3.14 Ảnh hưởng của thời gian che tối để sáng đến sinh trưởng rau
mầm họ hoa thập tự trong bốn vụ 74

3.15 Ảnh hưởng của thời gian che tối để sáng đến năng suất rau mầm
họ hoa thập tự trong bốn vụ 76

3.16 Ảnh hưởng của thời gian che tối để sáng đến màu sắc lá và thân
rau mầm họ hoa thập tự trong bốn vụ 80
3.17 Ảnh hưởng của thời gian che tối để sáng đến đặc điểm thân và tỉ
lệ thương tổn rau mầm họ hoa thập tự trong bốn vụ 81

3.18 Ảnh hưởng của thời gian che tối, để sáng đến hàm lượng chlorophyll
(Chl) trong lá rau mầm họ hoa thập tự trong vụ Xuân 2010 83
3.19 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến sinh trưởng rau mầm họ
thập tự trong bốn vụ 86

3.20 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến năng suất rau mầm họ
thập tự trong bốn vụ 87
3.21 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến màu sắc lá và thân rau
mầm họ thập tự trong bốn vụ 90

3.22 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến đặc điểm thân mầm và tỉ
lệ thương tổn rau mầm họ thập tự trong bốn vụ 91

3.23 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch đến hàm lượng chlorophyll
(Chl) trong lá rau mầm họ hoa thập tự trong vụ Xuân 2010 94

3.24 Tổng hợp biện pháp kỹ thuật áp dụng sản xuất rau mầm họ hoa

STT Tên hình Trang
3.1 Mối quan hệ giữa thời gian thu hoạch đến hàm lượng GLS và
khả năng kháng oxi hóa của GLS trong rau mầm cải củ trắng 115
3.2 Mối quan hệ giữa thời gian thu hoạch đến hàm lượng GLS và
khả năng kháng oxi hóa của GLS trong rau mầm cải xanh ngọt 115
3.3 Mối quan hệ giữa thời gian thu hoạch đến hàm lượng GLS và
khả năng kháng oxi hóa của GLS trong rau mầm cải bẹ vàng 115
3.4 Mối quan hệ giữa thời gian thu hoạch đến hàm lượng vitamin C và
khả năng kháng oxi hóa của vitamin C trong rau mầm cải củ trắng 117
3.5 Mối quan hệ giữa thời gian thu hoạch đến hàm lượng vitamin C
và khả năng kháng oxi hóa của vitamin C trong rau mầm cải
xanh ngọt 117
3.6 Mối quan hệ giữa thời gian thu hoạch đến hàm lượng vitamin C và
khả năng kháng oxi hóa của vitamin C trong rau mầm cải bẹ vàng 117 1

MỞ ðẦU

1 Tính cấp thiết của ñề tài
Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của
con người trên khắp hành tinh. Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn giàu
đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia
tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ
(Trần Khắc Thi, 2011)[28].
Rau mầm là loại rau thu hoạch sau khi hạt nảy mầm được từ 4-10 ngày
tuỳ thuộc vào từng loại rau (Jennifer, 1997[73]; Nguyễn Mạnh Chinh,
2008[5]). Rau mầm là nguồn cung cấp rất lớn hàm lượng protein, vitamin
nhóm B, C, E, enzym, các acid amin và khoáng chất, ngoài ra còn có một số

thu hoạch, chưa đánh giá được chất lượng, sự thay đổi thành phần dinh
dưỡng, chất khoáng, chất chống oxi hóa, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực
phẩm Tuy nhiên với những nghiên cứu và những kiến thức nêu trên chưa đủ
cơ sở để xây dựng được qui trình sản xuất rau mầm có năng suất, chất lượng
cao phù hợp với từng điều kiện địa phương. Bởi vậy, cần thiết phải có nghiên
cứu một cách hệ thống những biện pháp kỹ thuật trong sản xuất rau mầm để
nâng cao năng suất, chất lượng; đánh giá được chất lượng dinh dưỡng, chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và xác định được sự thay đổi hàm lượng một
số chất chống oxi hóa có trong rau mầm họ hoa thập tự.
Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, để góp phần đáp ứng yêu cầu của thực
tế sản xuất và đời sống, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
của một số biện pháp kỹ thuật ñến năng suất và chất lượng rau mầm họ
hoa thập tự (Brassicaceae)”

2 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài
2.1 Mục ñích của ñề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật và sự 3

biến đổi chất chống oxy hóa, chất dinh dưỡng trong quá trình nảy mầm để đề
xuất qui trình sản xuất rau mầm họ hoa thập tự cho năng suất cao, chất lượng tốt.
2.2 Yêu cầu của ñề tài
- Xác định một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất rau mầm họ
thập tự: xác định được giá thể gieo trồng, lượng hạt giống gieo, thời gian và
tần suất tưới nước, thời gian che tối để sáng, thời gian thu hoạch theo thời vụ
thích hợp.
- Xác định sự thay đổi hàm lượng chất dinh dưỡng và chất chống oxi hóa
trong rau mầm ở thời gian thu hoạch khác nhau.

- Đối tượng nghiên cứu
Một số hạt giống rau thuộc họ hoa thập tự (Brassicaceae) ở phía Bắc
(cải củ trắng, cải xanh ngọt, cải bẹ vàng)
- Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ năm 2008 đến năm 2011
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Khoa Nông nghiệp,
Trường Đại học Hải Phòng, một số hộ gia đình tại thành phố Hải Phòng. Khu
nhà lưới khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.

5

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu chung về rau mầm
1.1.1 Phân loại rau mầm
Rau mầm là loại rau sạch, trồng rất ngắn ngày, dễ quản lý, được sản
xuất theo nguyên tắc “bốn không”: không trồng trên đất, không bón phân,
không tưới nước bẩn, không dùng hoá chất hay thuốc bảo vệ thực vật. Theo
tác giả Jennifer (1997)[73], Nguyễn Mạnh Chinh (2008)[5], rau mầm được
chia thành 2 loại:
Rau mầm trắng: được tạo thành khi hạt phát triển trong điều kiện không
có ánh sáng nên có thân trắng và lá mầm nhỏ màu hơi vàng, phổ biến nhất là:
giá đỗ xanh, giá đậu tương, mầm cỏ Linh Lăng…
Rau mầm xanh: được tạo thành khi hạt phát triển trong điều kiện có ánh
sáng nên thân trắng hơi xanh và lá mầm xanh như rau mầm thuộc họ hoa thập
tự, một số loại thuộc họ đậu đỗ …

Barbara, 2007,[132]). Các nước, vùng lãnh thổ đã sản xuất và tiêu thụ rau
mầm mạnh nhất gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, Úc
và Canada. Ở Nhật Bản có 50 nhà sản xuất rau mầm, hàng năm sản xuất và
tiêu thụ được 695.000 tấn rau mầm, chủ yếu là mầm cải củ và giá đậu xanh
(Steve, 1999)[115]. Đài Loan hàng năm tiêu thụ đến 250.000 tấn rau mầm đậu
Hà Lan, 400.000 tấn giá đậu xanh và đậu tương (Sheen và cs, 1988)[107]. Ở
Mỹ có tới 475 nhà sản xuất rau mầm, với công suất 300.000 tấn hàng năm.
Theo Hiệp hội rau mầm Quốc tế, có tới 10% người Mỹ ăn rau mầm hàng
ngày (Steve, 1999)[115].
1.1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau mầm ở Việt Nam
Rau mầm, một loại rau mới xuất hiện ở Việt Nam thời gian gần đây.
Năm 1997, ông Phạm Quốc Kính đã tiến hành trồng một số loại rau mầm ở
quy mô nhỏ bằng phương pháp không dùng đất, không dùng phân hóa học, 7

không dùng chất kích thích cây trồng, không dùng thuốc trừ sâu… chỉ dùng
hạt giống sạch và một khoảng không gian nhỏ với cường độ ánh sáng đạt từ
10-30% so với ánh sáng ngoài trời (Phan Quốc Kính, 1997)[13].
Từ năm 2006, Trung tâm Khuyến nông TP.HCM đã triển khai một số
mô hình rau mầm tại quận Bình Tân, Bình Chánh và đến nay đã phát triển
thêm ra nhiều quận, huyện khác với khoảng 100 hộ trồng rau mầm. Những
loại hạt được sử dụng làm rau mầm khá đa dạng như cải củ, rau muống, cải bẹ
xanh, hành tây Sản lượng rau mầm ở TP.HCM năm 2007 khoảng 300 - 400
kg/ngày, cung cấp cho các hộ gia đình và các siêu thị, nhà hàng, quán ăn, với
nhu cầu tiêu thụ khoảng 400 – 500 kg/ngày
[137]. Một số hộ nông dân ở
phường Tăng Nhơn Phú, Phước Long, Tam Bình, Phú Hữu… đã tiếp nhận
kinh nghiệm trồng rau mầm từ các lớp học khuyến nông, bước đầu người dân

dinh dưỡng, được gọi là giá thể nền hữu cơ sinh học. Với quy mô hiện tại,
Trung tâm có khả năng cung cấp cho thị trường 10-15 kg mỗi ngày. Hiện sản
phẩm đang có bán tại các siêu thị ở Vĩnh Yên và cung cấp tới một số nhà
hàng tại Vĩnh Yên (Nguyễn Hoàn, 2009)[138].
Tại Hà Nội, năm 2008 đã có một số công ty sản xuất rau mầm như
Công ty công nghệ xanh Hưng Phát, Công ty TNHH Song Ngưu, Công ty Cổ
phần tư vấn dịch vụ phát triển công nghệ cao Minh Dương Hiện nay, với
hơn 1ha rau mầm tại khu Hoà Lạc, Công ty Công nghệ xanh Hưng Phát hiện
đang là đơn vị sản xuất và cung cấp rau mầm lớn nhất cho các siêu thị, nhà
hàng và khách sạn trong thành phố. Công ty TNHH Một thành viên Tư vấn và
Đầu tư Rau hoa quả Hà Nội (thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả) cũng tiến hành
sản xuất một số loại rau mầm kết hợp với nghiên cứu chế biến thành rau mầm
sấy khô phục vụ nhu cầu tiêu dùng.[21]

Một số hộ tư nhân sản xuất rau mầm mỗi ngày cung cấp cho thị trường
khoảng 5 – 10 kg rau mầm. Tại nhà ông Nguyễn Văn Khởi ở phường Dịch
Vọng, quận Cầu Giấy, cả sân thượng chừng 5m
2
trước là chậu cảnh, nay được
biến thành thế giới của rau mầm. Mỗi tuần ông Khởi cũng thu hoạch khoảng
10 kg rau mầm, toàn bộ đã được đặt hàng để cung cấp cho khách sạn Daewoo
(Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, 2011 [21]. 9

1.2 Giá trị của rau mầm
1.2.1 Vai trò của chất dinh dưỡng trong rau mầm
Rau mầm là sản phẩm hình thành trong quá trình nảy mầm của hạt, đây
là nguồn cung cấp hàm lượng protein, vitamin, enzym, các acid amin và

dưỡng như chất ức chế trypsin, acid phytic, pentosan, tanin thì giảm. Cây
mầm còn chứa các hợp chất có tác dụng duy trì sức khỏe và tính chất như các
chất có nguồn gốc thực vật (Arton và cs, 2010)[32].
Các nhà khoa học Mỹ, Nhật đã xác định mầm đậu tương có chứa các
phytoestrogen, genistein, daidzein là các nội tiết tố sinh dục nữ, nhiều hơn
hàng chục lần so với hạt đậu tương bình thường. Trong mầm đậu tương còn
chứa hàm lượng cao chất GABA (Gama amino butyric acid) là chất điều tiết
hoạt động hệ thần kinh trung ương của người và động vật. Các sản phẩm sữa
đậu tương nảy mầm, bột đậu tương nảy mầm… phytoestrogen đậu tương nảy
mầm đang được sử dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ, Nhật, Tây Âu để chống lão hóa
và làm đẹp cho nữ giới (Phan Quốc Kính, 1997)[13]. Khi nảy mầm, hàm
lượng isoflavon trong hạt đậu tương đạt đến đỉnh điểm. Trong mầm của đậu
tương còn chứa nhiều acid amin (50-55%), canxi và khoáng chất giúp chống
thoái hóa xương
(Hall và cs, 2002)[64].
1.2.2 Giá trị y học
1.2.2.1 Vai trò của glucosinolate (GLS)
Theo số liệu báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2008)[127]
năm 2007, thế giới đã có 12 triệu người mắc bệnh ung thư và dự đoán đến
năm 2010, bệnh ung thư sẽ là kẻ giết người hàng loạt vượt qua bệnh tim
mạch, gây ra tử vong nhiều hơn AIDS, bệnh sốt rét, bệnh lao phổi cộng lại.
Glucosinolate (GLS) và các sản phẩm thuỷ phân của nó có rất nhiều tác
dụng đối với sức khoẻ con người, đặc biệt có thể ngăn ngừa và điều trị một số
bệnh như: bệnh ung thư tiền liệt tuyến (Brook và cs, 2001)[39], ngăn ngừa 11
ung thư bàng quang (Zhang và cs, 2006,[130]; Tang và cs, 2006,[117]), ung
thư dạ dày, đại tràng (Smith và cs, 2003,[113]; Rijken và cs, 1999,[101]), ung
thư ruột kết (Finley và cs, 2001,[56]; Tin và cs, 2006,[119]), ung thư ruột non

2
O
2
. Ở những người đã tiêu thụ
113 g cải bắp và giá đậu trong 14 ngày, nguy cơ mắc bệnh ung thư giảm
(Ubbink và cs, 2006)[121]
.
Nghiên cứu của Tim và cs (2006)[118], chỉ ra rằng củ cải đỏ và Daikon
(củ cải trắng Nhật) có tiềm năng chống ung thư tương tự như súp lơ xanh,
trong khi đó su hào, cải xoong vườn, bạch giới dại, cải xoăn và cải xoong có
tiềm năng chống ung thư vừa phải. Theo tác giả Lee và cs (2006)[83], sử
dụng mầm cải củ có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư.
Ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu thực phẩm chức năng cũng đã tiến hành
nghiên cứu chiết xuất nhóm hoạt chất có lưu huỳnh từ một số loại rau họ cải,
với mục đích chế tạo một số thực phẩm có các chức năng phòng và chữa các
chứng bệnh. Kết quả nghiên cứu thu được là nhóm hoạt chất có lưu huỳnh
chiết xuất từ một số loại rau họ cải có tác dụng chống các chất oxy hóa trong
cơ thể thông qua việc làm giảm hàm lượng peroxide và lipid peroxide cho
người nghiện thuốc lá (Trần Hữu Thị và cs, 2007)[136].
Năm 2009, các nhà khoa học Việt Nam đã tạo ra được một số chế phẩm
tiêu biểu như sulcuvina, sulfovina, sulfocream. Sulcuvina chứa khoảng 20%
sulforaphane có tác dụng làm sạch đường tiêu hóa, hỗ trợ phòng chống viêm
loét dạ dày, tá tràng do nhiễm vi khuẩn HP, phòng ngừa ung thư dạ dày,
phòng chống ung thư tuyến tiền liệt, đặc biệt phòng chống việc thoái hóa
hoàng điểm, rất tốt cho lứa tuổi trung niên. Sulfovina chứa khoảng 10%
sulforaphane thiên về việc phòng chống ung thư tuyến tiền liệt, chống các tác
động của bức xạ, đặc biệt là tia cực tím đối với mắt, chống sự lão hóa hoàng
điểm, nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa ở người cao tuổi; sulfocream chứa
0,5% sulforaphane là loại kem xoa (mỹ phẩm), không có tác dụng phụ, chống
ung thư da, làm đẹp da (Trần Hữu Thị và cs, 2009)[135].
14
minh là làm chậm hoạt động của ung thư bằng cách ức chế kích hoạt chất gây
ung thư và cũng có thể trung hòa oxy hóa các gốc tự do.
Chlorophyll còn giúp giảm thiểu các tác dụng phụ của quá trình hóa trị
liệu và hỗ trợ các tế bào máu khỏe mạnh, làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Hỗ trợ quá trình giải độc của cơ thể và bảo vệ chống lại độc tố, có thể làm
giảm nguy cơ sỏi thận và giúp loại bỏ mùi cơ thể.
1.3 Sự biến ñổi hóa sinh và sinh lý trong quá trình nảy mầm của hạt
Sự nảy mầm của hạt có thể xem là bắt đầu của quá trình sinh trưởng,
phát triển của cây. Từ hạt đang ngủ nghỉ chuyển sang trạng thái nảy mầm là
cả quá trình biến đổi sâu sắc và nhanh chóng về hóa sinh và sinh lý xảy ra
trong hạt.
1.3.1 Biến ñổi hóa sinh
Đặc trưng nhất của các biến đổi hóa sinh trong khi nảy mầm là sự tăng
đột ngột hoạt động thủy phân xảy ra trong hạt. Các hợp chất dự trữ dưới dạng
các polyme như tinh bột, protein, lipid… bị phân giải thành các monome như
các đường đơn, acid amin, acid béo… phục vụ cho nảy mầm. Mức độ hoạt
hóa của các enzyme thủy phân trong hạt phụ thuộc vào tính chất đặc trưng và
thành phần hóa học của hạt.
1.3.1.1 Các chất dinh dưỡng và hoạt ñộng enzyme
* Tinh bột và hoạt động của enzyme amylase
Với các loại hạt dự trữ chủ yếu là tinh bột, hoạt tính của enzyme α-
amylase được tăng lên nhanh khi hạt phát động sinh trưởng. Vào ngày thứ 8 sau
nảy mầm, hạt dự trữ tinh bột có hoạt tính của enzyme này tăng lên 22 lần, trong
khi đó ở hạt hướng dương chỉ tăng 4 lần (Hoàng Minh Tấn và cs, 2006)[23].
Brian (2010)[38] cho rằng, hàm lượng enzyme catalase hoạt động trong
lá cao hơn các bộ phận khác, cho nên nó nảy mầm nhanh hơn trong điều kiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status