1
MỤC LỤC
1
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, người ta đã khẳng định được rằng nhiều nguyên tố kim loại
có vai trò cực kỳ quan trọng đối với cơ thể sống và con người. Tuy nhiên nếu
hàm lượng lớn chúng sẽ gây độc hại cho cơ thể. Sự thiếu hụt hay mất cân
bằng của nhiều kim loại vi lượng trong các bộ phận của cơ thể như gan, tóc,
máu, huyết thanh, là những nguyên nhân hay dấu hiệu của bệnh tật, ốm đau
hay suy dinh dưỡng và có thể gây tử vong. Thậm chí, đối với một số kim loại
người ta mới chỉ biết đến tác động độc hại của chúng đến cơ thể.
Thành phố Thái Nguyên còn là một trong những trung tâm công nghiệp lớn
ở Việt Nam, nơi đây tập trung nhiều nhà máy xí nghiệp lớn như: Nhà máy Gang
thép Thái Nguyên, Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ, Nhà máy Điện Cao Ngạn …
Vì vậy, lượng nước thải từ các nhà máy đổ ra môi trường hàng ngày khá lớn: Nhà
máy giấy Hoàng Văn Thụ thải khoảng 400m
3
/ngày, nước thải độc và bẩn làm ô
nhiễm suối Phượng Hoàng và nguồn nước Sông Cầu, Nhà máy cán thép Gia Sàng
và khu gang thép Cam Giá hàng ngày thải một lượng nước lớn không được xử lý
vào suối Xương Rồng gây ô nhiễm khu vực phường Gia Sàng, phường Túc
Duyên Các Nhà máy Tấm lợp Amiăng, Khu gang thép Thái Nguyên hàng ngày
thải ra lượng bụi lớn làm ô nhiễm khu vực Cam Giá… Theo thông tin của Bộ
Công nghiệp: Chất lượng nước sông Cầu ngày càng xấu đi, nhiều đoạn sông đã bị
ô nhiễm tới mức báo động. Các nguồn thải kim loại nặng từ các khu công
nghiệp vào không khí, vào nước, vào đất, vào thực phẩm rồi xâm nhập vào cơ
thể con người qua đường ăn uống, hít thở dẫn đến sự nhiễm độc. Do đó việc
nghiên cứu và phân tích các kim loại nặng trong môi trường sống, trong thực
3
4
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: là điều kiện giúp sinh
viên tập duyệt, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế; đồng thời nâng cao kỹ
năng và rút ra bài học thực tiễn cho công tác sau này.
- Ý nghĩa thực tiễn: đánh giá được thực trạng ô nhiễm nước sông Cầu.
Nắm bắt được thị trường tiêu thụ ốc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Từ
đó đề xuất giải pháp trong việc sử dụng hợp lý nguồn thực phẩm này.
4
5
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Vài nét về động vật nhuyễn thể
Y học cổ truyền đã khẳng định các loài nhuyễn thể có vị ngọt, mặn,
tính lạnh. Các món ăn chế biến từ nhuyễn thể có tính thanh nhiệt, trừ thấp,
giải độc. tính chất này dùng để giải độc dược. Người bị tiểu đường cũng nên
ăn nghêu sò ốc hến. Ăn nhuyễn thể còn giúp bổ gân, bổ thận,…
Theo dược sĩ Bùi Kim Tùng ăn nhuyễn thể còn là giải pháp bổ sung
kẽm và iod. Các loài nhuyễn thể có nhiều iod gấp 200 lần so với trứng và thịt,
thịt nhuyễn thể có thể dùng làm thực phẩm hỗ trợ cho các bệnh tim mạch,
bướu cổ, làm loãng đờm giãi, tăng tính miễn nhiễm, tăng chuyển hóa chất
dinh dưỡng và tăng nội tiết tố. Tuy nhiên thịt nhuyễn thể có thể làm cho các
bà mẹ đang nuôi con bú bị tắc sữa.
Như vậy, nhuyễn thể là một loài thực phẩm thuốc quý nhưng cho đến
nay những nghiên cứu cơ bản về loài nhuyễn thể còn quá ít ỏi.
Theo một số tác giả thì loài nhuyễn thể có hai vỏ cứng như trai, trùng
trục hay ốc là các loài thích hợp dùng làm chỉ thị sinh học đối với lượng vết
sinh học riêng phù hợp với điều kiện nước ta, hạn chế những tác động xấu của
kim loại nặng tới môi trường và sức khỏe cộng đồng.
2.1.1.2. Độc tính của các kim loại nặng
Kim loại nặng là những kim loại có phân tử lượng lớn hơn 52 bao gồm
một số kim loại như: As, Hg, Cu, Cr, Cd, Co, Pb, Zn, Sb, Mn…Những kim
loại nặng nguy hiểm nhất về phương diện gây ô nhiễm môi trường nước là
Zn, Cu, Pb, Cd, Hg, Ni, As và Cr. Trong số những kim loại này có Cu, Ni, Cr
6
7
và Zn là những nguyên tố vi lượng cần thiết cho sinh vật thủy sinh, chúng chỉ
gây độc ở nồng độ cao.
Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng:
- Nguồn tự nhiên: kim loại nặng phát hiện ở mọi nơi, trong đá, đất và xâm
nhập vào thủy vực qua các quá trình tự nhiên, phong hóa, xói mòn, rửa trôi.
- Nguồn nhân tạo: các quá trình sản xuất công nghiệp (như khai khoáng,
chế biến quặng kim loại, chế biến sơn, thuốc nhuộm,…), nước thải sinh hoạt,
nông nghiệp (hóa chất bảo vệ thực vật).
Một số kim loại nặng rất cần thiết cho cơ thể sống và con người. Chúng
là các nguyên tố vi lượng không thể thiếu, sự mất cân bằng các nguyên tố vi
lượng này có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người. Sắt giúp ngăn
ngừa bệnh thiếu máu, kẽm là tác nhân quan trọng trong hơn 100 loại enzyme.
Trên nhãn của các lọ thuốc vitamin, thuốc bổ xung khoáng chất thường có Cr,
Cu, Fe, Mn, Mg, K, Zn, chúng có hàm lượng thấp và được biết đến như lượng
vết. Lượng nhỏ các kim loại này có trong khẩu phần ăn của con người vì
chúng là thành phần quan trọng trong các phân tử sinh học như hemoglobin,
hợp chất sinh hóa cần thiết khác. Nhưng nếu cơ thể hấp thu một lượng lớn các
kim loại này, chúng có thể gây rối loạn quá trình sinh lý, gây độc cho cơ thể.
Kim loại nặng có độc tính là các kim loại có tỷ trọng lớn gấp 5 lần tỷ
trọng của nước. Chúng là các kim loại bền (không tham gia vào các quá trình
sinh hóa trong cơ thể) và có tính tích tụ sinh học (chuyển tiếp trong chuỗi
vết cần thiết cho sức khỏe người. Mn có thể tìm thấy trong một số loại thức
ăn, ngũ cốc, trong một số loài thực vật như cây chè [32]. Người bị nhiễm Mn
trong một thời gian dài thường mắc các bệnh thần kinh, rối loạn vận động,
nhiễm độc mức hàm lượng cao kim loại này sẽ gây các bệnh về hô hấp và suy
giảm chức năng tình dục.
8
9
- Đồng (Cu): được dùng nhiều trong sơn chống thấm nước trên tàu
thuyền, các thiết bị điện tử, ống nước. Nước thải sinh hoạt là nguồn chính đưa
Cu vào nước. Cu tồn tại ở hai dạng là: dạng hòa tan và các hạt nhỏ [9]. Cu cần
thiết cho chức năng hô hấp của nhiều sinh vật sống và các chức năng enzym
khác. Cu được lưu giữ trong gan tủy sống của người. Cu với hàm lượng quá
cao sẽ gây hư hại gan, thận, hạ huyết áp, hôn mê, đau dạ dày, thậm chí tử
vong. Trai, ốc thường tích tụ lượng lớn Cu trong cơ thể của chúng. [23]
- Kẽm (Zn) là nguyên tố cần thiết cho tất cả cơ thể sống, với con người
hàng ngày cần 9 mg Zn cho các chức năng thông thường của cơ thể [16]. Nếu
thiếu Zn sẽ dẫn đến suy giảm khứu giác, vị giác và suy giảm chức năng miễn
dịch của cơ thể. Nguồn ô nhiễm kẽm chính là công nghiệp luyện kim, công
nghiệp pin, các nhà máy rác, các sản phẩm chống ăn mòn, sơn, nhựa, cao su.
Cơ thể con người có thể tích tụ Zn và nếu Zn tích tụ với hàm lượng quá cao
thì chỉ trong thời gian ngắn sẽ gây bệnh nôn mửa, đau dạ dày. Nước chứa hàm
lượng Zn cao rất độc đối sinh vật. Trai, ốc cũng tích tụ một lượng lớn Zn
trong cơ thể chúng [12].
- Asen (As) sinh ra từ các dây chuyền sản xuất hóa phẩm, nhà máy
nhiệt điện dùng than, có trong chất làm rụng lá, thuốc sát trùng, một số loại
thủy tinh, chất bảo quản gỗ và thuốc bảo vệ thực vật. Sự tích tụ cũng như tác
động của As đến cơ thể sống phụ thuộc vào dạng tồn tại của nó. Trong khi các
hợp chất As vô cơ rất độc cho hầu hết cơ thể sống thì các hợp chất hữu cơ của
nó chỉ gây độc nhẹ. Asen có thể gây nôn mửa, phá hủy các phân tử AND và
gây ung thư. FAO/ WHO đã đưa ra giới hạn chấp nhận được của hàm lượng
-8
s, nó lập tức trở về trạng thái cơ bản ban đầu và giải phóng năng lượng đã
hấp thụ. Khi năng lượng giải toả được phát ra dưới dạng ánh sáng thì gọi là
hiện tượng phát quang. Hóa học phân tích sử dụng hiện tượng này để định
tính và định lượng các chất và gọi là phương pháp phân tích huỳnh quang.
10
11
Dong Yan-Jie và Ke Gai [19] sử dụng phương pháp huỳnh quang để
xác định lượng vết Pb trên cơ sở cho Pb
2+
tạo phức với axit gibberellic theo tỉ
lệ Pb
2+
: axit là 1: 2 với pH = 7-8. Bước sóng kích thích và phát xạ lớn nhất là
205,0nm và 308,8nm. Phương pháp cho giới hạn phát hiện là 0,52ng Pb/ml.
Chongqiu Jiang, Hongjian Wang, Jingzheng Wang đã xác định lượng
vết Cr với thuốc thử 2-hydroxy-1-naphtaldehyene-8-aminoquinoline
(HNAAQ) bằng phương pháp huỳnh quang. Độ nhạy của phép xác định tăng
lên trong môi trường nước-ancol với tỉ lệ 4/1 theo thể tích, pH =9,4. Trong
điều kiện đó phức Cr-HNAAQ bị kích thích và phát xạ ở bước sóng từ 397-
450nm. Giới hạn phát hiện của phương pháp là 77ng/ml. Khoảng tuyến tính
của phương pháp lên đến 25µg/ml. Phương pháp này được áp dụng để xác
định lượng vết Cr trong thịt và gan lợn.
B. W.Bailey, R.M.Donagall and T.S. West [17] sử dụng phương pháp
huỳnh quang để xác định siêu vi lượng Cu(II). Các tác giả đã sử dụng thuốc
thử [Cu(phen)2R oseBengal], phức này được chiết vào cloroform và pha
loãng bằng axeton. Bước sóng kích thích là 560µm và bước sóng phát xạ là
570µm. Giới hạn định lượng của phương pháp là 10
-4
-6.10
−1
với Cr, 292 mg.kg
−1
với Zn, 20,8 mg.kg
−1
với Mn và 32,8 mg.kg
−1
với Ni.
Al Moauf và cộng sự [13] đã phân tích hàm lượng các kim loại nặng và
các nguyên tố vi lượng có trong mẫu thực vật bằng phương pháp AAS cho kết
quả hàm lượng trung bình của các mẫu như sau (kết quả tính theo ppm):
Trong họ Hyptis suaveolens có hàm lượng Zn là (35,1±0,01), Cu là
(24,4±0,01) ở mức cao nhất so với các mẫu khác. Trong khi đó hàm lượng Mn
(685±0,02) và Ca (51340±21) cao nhất trong cây Morinda lucida.
N. Pourreza và K. Ghanemi [29] đã phân tích Hg trong nước và cá bằng
phương pháp hấp thụ nguyên tử hóa hơi lạnh (CV-AAS). Đường chuẩn được
xây dựng trong khoảng nồng độ từ 0,040 đến 2,40 ng.mL
−1
với hệ số tương
quan 0,9994. Giới hạn phát hiện dựa trên tính toán là 0,02 ng.mL
−1
. Hệ số
biến thiên khi xác định Hg(II) ở nồng độ 0,4 và 2,0 ng.mL
−1
lần lượt là 2,6 và
1,9%. Các tác giả cũng đã kết luận phương pháp này có thể ứng dụng để phân
tích hàm lượng Hg(II) trong các mẫu nước, nước thải và cá.
12
13
Phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử (AES).
40,1 mg.kg
−1
với Fe, 0,10–0,99 mg.kg
−1
với Mn, 0,02–3,97 mg.kg
−1
với Ni,
0,33–0,86 mg.kg
−1
với Pb, 4,49–11,2 mg.kg
−1
với Zn. Các tác giả cũng đã cho
rằng tất cả các kim loại được phát hiện trong gan đều lớn hơn trong thịt.
Trong một số vùng, đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng. Hàm lượng Cd và
Cr trong cả thịt và gan, hàm lượng Pb trong gan của các mẫu phân tích cao
hơn giới hạn cho phép dư lượng kim loại nặng trong thực phẩm.
13
14
2.1.1.4. Một số phương pháp xử lý mẫu động vật nhuyễn thể
Lê Thị Mùi đã vô cơ hóa mẫu động vật nhuyễn thể theo phương pháp
khô- ướt kết hợp sử dụng hóa chất là HClO
4
đặc, HNO
3
đ và H
2
O
2
để xác định
Cu và Pb bằng phương pháp Von-Ampe hòa tan xung vi phân cho kết quả
2
SO
4
và K
2
Cr
2
O
7
được sử dụng. Quy trình tỏ ra đơn giản, an toàn , mẫu phân
hủy tốt.
Tác giả M. Lucila Lares, Gilberto Flores-Munozb, Ruben Lara-Lara đã
nghiên cứu đánh giá những biến đổi theo thời gian về hàm lượng Cd, Al, Hg,
Zn, Mn theo các tháng trong trai và trong rong biển được nghiên cứu tại khu
bờ đá tại Vịnh San Quintin, Baja Califonia,Mexico. Kết quả cho thấy mối liên
quan giữa điều kiện thời tiết, thủy văn và các bộ phận trong cơ thể con trai
bằng cách phân tích tương quan và phương pháp phân tích thành phần chính
(PCA).Tác giả đã đưa ra phương pháp xử lý mẫu như sau: Mẫu trai được xử
lý sạch và rửa bằng nước cất sau đó cho vào cốc sạch sấy ở 70
0
C đến khối
lượng không đổi. Sau đó cân khoảng 1g mẫu khô thêm lượng HNO
3
xác định
để phân hủy mẫu sau đó cho thêm H
2
O
2
để phá hủy hoàn toàn lượng lipit khó
tan. Đối với phá mẫu xác định thủy ngân sau khi phá mẫu bằng hỗn hợp
2
vào 1 g mẫu khô rồi tiến hành phân hủy mẫu
trong lò vi sóng.
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Hiến pháp 1992 nước cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Căn cứ Luật BVMT, 2005 ban hành ngày 29/11/2005 có hiệu lực ngày
01/07/2006.
- Căn cứ NĐ số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của chính phủ về quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật BVMT, 2005.
- Căn cứ NĐ 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của chính phủ sửa đổi
bổ sung một số điều NĐ 80/2006.
- Căn cứ Quyết định 867/1998/QĐ- BYT về việc ban hành Danh mục
tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực, thực phẩm.
- Chỉ thị số 16/CT-UBND, chỉ thị của UBND tỉnh Thái Nguyên ngày
16/9/2009 về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác BVMT trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới
Ô nhiễm kim loại ở môi trường biển đã gia tăng trong những năm gần
đây do dân số toàn cầu gia tăng và sự phát triển công nghiệp [13]. Ô nhiễm
kim loại nặng ở nhiều vùng cửa sông, vùng ven biển trên thế giới đã được biết
15
16
từ lâu bởi tính độc hại đe dọa đến sự sống của sinh vật thủy sinh, gây nguy cơ
cho sức khỏe của con người. Ô nhiễm Pb và Zn là một trong những điều đáng
quan tâm do ảnh hưởng độc hại của chúng lên hệ sinh thái tại các cửa sông ở
Úc, với hàm lượng rất cao 1000µg.g-1Pb, 2000 µg.g-1Zn có thể tìm thấy
trong các trầm tích bị ô nhiễm (Irvine & Birch, 1998 trích trong McFarlane &
Burchett, 2002). Bryan et al. (1985) trích trong Bryan & Langston (1992) đã
xác định hàm lượng chì vô cơ trong trầm tích cửa sông ở Anh biến động từ 25
Quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ như y tế, du
lịch, thương mại… ở nước ta đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng,
đặc biệt sự hiện diện của kim loại nặng trong môi trường đất, nước đã và
đang là vấn đề môi trường được cộng đồng quan tâm. Các con sông, vùng cửa
biển, ven biển thường là nơi tích tụ các chất ô nhiễm có nguồn gốc từ nội địa.
Khu vực Hải Phòng bị ô nhiễm bởi Hg, Cu. Khu vực Thái Bình bị ô
nhiễm bởi Cd, Hg, Cu. Khu vực Nam Định bị ô nhiễm bởi Pb, Zn, Cd, Hg,
Cu. Trong đó Hg và Cu thường xuất hiện ô nhiễm ở cả 3 khu vực. Từ Bắc
xuống Nam, số kim loại xuất hiện ô nhiễm càng gia tăng. Toàn vùng đã và
đang bị ô nhiễm bởi Kẽm, Đồng, Cadmi, Thủy ngân ở mức độ cao và có biểu
hiện ô nhiễm Chì ở mức nhận biết được. Nồng độ hầu hết các kim loại tại các
trạm ven bở đều lớn hơn nhiều so với các trạm ngoài khơi, khẳng định nguyên
nhân ô nhiễm là do nguồn thải từ lục địa (nguồn thải trực tiếp tại ven bờ khu
vực cửa sông, và nguồn thải do các con sông thải ra) [3]
Không những tại các con sông, vùng cửa biển, ven biển mà còn ngay
tại các ao, hồ gần những cơ sở sản xuất phát sinh chất thải chứa kim loại nặng
đều bị ảnh hưởng. Tại khu vực Hồ Tây kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Hàm lượng As thay đổi từ 13,72 µg/g trọng lượng khô (ở mẫu ốc lấy
ở làng Hồ phường Bưởi) đến mức cao nhất 42,78 µg/g (ở mẫu trai lấy ở khu
vực làng Vệ Hồ).
17
18
- Hàm lượng Cd thay đổi từ 1,00 µg/g trọng lượng khô (ở mẫu ốc Phủ
Tây Hồ) đến mức cao nhất 8,34 µg/g (ở mẫu ốc làng Vệ Hồ).
-Hàm lượng Pb thay đổi từ 7,27 µg/g trọng lượng khô (mẫu ốc ở Phủ
Tây Hồ) đến 39,79 µg/g (ở mẫu trai lấy ở khu vực Nhà Khách Chính Phủ).
-Hàm lượng As, Cd và Pb trong các mẫu trai cao hơn hàm lượng As, Cd
và Pb tìm thấy trong mẫu ốc hay trùng trục.
Tác giả Trần Tứ Hiếu, Lê Hồng Minh (2008) [10] đã tiến hành xác định
hàm lượng các kim loại nặng trong trai, ốc ở Hồ Tây cho kết quả: hàm lượng
phố Thái Nguyên, đặc biệt là tại các điểm thải của Nhà máy Giấy Hoàng Văn
Thụ, khu Gang thép Thái Nguyên chất lượng nước không đạt cả tiêu chuẩn
A và B của TCVN 5942 - 1995 (Báo công nghiệp Việt Nam, 12/2003). Thêm
vào đó là nạn khai thác khoáng sản từ các vùng Sơn Dương, Đại Từ, Phú
Lương. Võ Nhai với 177 điểm quặng và mỏ bao gồm than đá, quặng titan,
quặng chì,quặng thiếc chứa As…do công nghệ khai thác lạc hậu, không có hệ
thống xử lý chất thải, đá thải đã làm cho môi trường sông, suối, hồ nước bị ô
nhiễm nghiêm trọng bởi các hóa chất độc hại như As, Pb, Cd…, hàm lượng
Pb trong nước mặt ở một số khu vực của thành phố Thái Nguyên gấp từ 2 – 3
lần, Cd gấp từ 2 - 4 lần so với TCVN 6773 – 2000.
19
20
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Động vật thủy sinh (ốc) sống trên đoạn sông
Cầu chảy qua địa bàn thành phố Thái Nguyên
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Khoa TN&MT trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thời gian: 7/2011 – 5/2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế -xã hội của thành phố Thái Nguyên
+ Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Địa hình, địa mạo
- Khí hậu, thủy văn
- Các nguồn tài nguyên: đất đai, nguồn nước, khoáng sản…
+ Điều kiện kinh tế - xã hội
- Thực trạng phát triển kinh tế
- Dân số lao động và việc làm
Thái Nguyên.
3.4.4. Xác định hàm lượng kim loại nặng tồn dư trong ốc
Mẫu ốc được lấy tại đoạn sông Cầu sau điểm tiếp nhận nước suối
Phượng Hoàng đến sau cửa xả suối Cam Giá .Các điểm lấy mẫu cụ thể:
- Sau điểm tiếp nhận suối Cam Giá 300m.
- Chân cầu treo Huống.
- Sau điểm tiếp nhận suối Linh Nham 300m
21
22
- Sau điểm tiếp nhận suối Phượng Hoàng 300m.
Số lượng mẫu 06 mẫu, phân tích 02 lần ,1 lần vào tháng 8/2011 gồm 02
mẫu và 1 lần vào tháng 3/2011 gồm 04 mẫu tại Viện Khoa học sự sống Đại học
Thái Nguyên. Phân tích 04 chỉ tiêu như sau: As, Pb, Cd, Zn.
Nguyên lý:
Các kim loại Zn, Cd, Pb, As được làm giàu trên điện cực than “siêu
vết” hay than thủy tinh với màng thủy ngân Insitu, tức là màng thủy ngân
được kết tủa lên bề mặt điện cực đồng thời với các nguyên tố cần xác định.
Dòng đo được trong dạng xung vi phân tỷ lệ thuận với nồng độ các kim loại
quan tâm trong dung dịch.
Cách tiến hành:
- Phá mẫu:
Để có được mẫu dung dịch để phân tích chúng tôi lấy 1g ốc đã sấy khô,
nghiền nhỏ cho vào bình tam giác, thêm vào đó 5 ml dung dịch H
2
SO
4
đậm
đặc và 5 ml dung dịch HNO
3
đậm đặc. Đặt bình tam giác lên bếp điện đun sôi.
+ Cadimi: -0,6V ± 0,05V
+ Kẽm: -0,90V ± 0,05V
Ngoài các bước điện phân như trên, trong dung dịch phân tích
cần cho thêm 0,1ml CH
3
COONH
4
12M. Nồng độ mẫu được xác định bằng
phương pháp thêm chuẩn.
Các bước thêm chuẩn được tiến hành như sau:
b. Thêm chuẩn:
- Đánh bóng điện cực bằng giấy lọc.
-Thêm trực tiếp 0,1 ml mỗi dung dịch chuẩn kim loại cần phân tích vào
dungdịch vừa điện phân.
- Ghi phổ theo các bước như điện phân mẫu.
Kết quả được trình bày ở phần kết quả và thảo luận
3.4.5. Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lí số liệu
Các số liệu thu thập sẽ được nhập và xử lí trên phần mềm Word, Excel
Phần 4
23
24
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Thái Nguyên
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội,
an ninh - quốc phòng của tỉnh Thái Nguyên và vùng Việt Bắc. Trung tâm thành
phố cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Tây Bắc. Thành phố Thái Nguyên có
tổng diện tích tự nhiên là 19.170 ha, ranh giới hành chính như sau:
- Phía Đông giáp huyện Phú Bình;
4.1.1.3. Khí hậu, thủy văn
* Đặc điểm khí hậu
Khí hậu của thành phố Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa Đông gió có
hướng Bắc và Đông Bắc, mùa Hè gió có hướng Nam và Đông Nam. Lượng mưa trên
toàn khu vực được phân bố theo 2 mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa
khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
25