MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Chương 1 : GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT VÀ
XUẤT KHẨU 4
1.1. Giới thiệu chung về công ty 4
1.2. Quá trình thành lập 4
1.3. Cơ cấu tổ chức 4
1.4. Các sản phẩm chính 4
1.5. Thị trường 4
1.6. Tầm nhìn 4
1.7. Sứ mệnh 4
Chương 2 : MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI 6
2.1. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ VIỆT NAM 6
2.1.1. Môi trường tự nhiên 6
2.1.1.1. Vị trí địa lý 8
2.1.1.2. Địa hình 8
2.1.1.3. Khí hậu 8
2.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên 8
2.1.1.5. Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên 8
2.1.1.6. Vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường 8
2.1.2. Môi trường dân số 8
2.1.2.1. Dân số 9
2.1.2.2. Văn hóa 9
2.1.3. Môi trường kinh tế 9
2.1.3.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 9
2.1.3.2. Lãi suất 9
2.1.3.3. Tỷ lệ lạm phát 9
2.1.3.4. Tình hình xuất nhập khẩu Việt Nam 9
2.1.3.5. Tỷ giá hối đoái 9
2.1.3.6. Hệ thống thuế ở Việt Nam 9
2.1.4. Môi trường chính trị, pháp luật 9
động của công ty Tre Làng 9
2.3.1. Nhà cung ứng 9
2.3.1. Nhà cung ứng 9
Chương 3 : MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG 10
3.1. Các hoạt động chủ yếu 10
3.1.1. Các hoạt động đầu vào 11
3.1.2. Quá trình vận hành 12
3.1.2.1. Máy móc thiết bị 12
3.1.2.2. Quy trình sản xuất 12
3.1.2.3. Kiểm tra chất lượng sản phẩm 12
3.1.2.4. Bảo vệ môi trường 12
3.1.3. Các hoạt động đầu ra 12
3.1.3.1. Hoạt động tồn kho sản phẩm 12
3.1.3.2. Xử lý các đơn đặt hàng 13
3.1.3.3. Vận chuyển và giao nhận sản phẩm 12
3.1.4. Marketing và bán hàng 12
3.1.4.1. Nghiên cứu thị trường 12
3.1.4.2. Sự trung thành của khách hàng đối với các sản phẩm của công ty Tre Làng12
3.1.4.3. Xúc tiến bán hàng 12
3.1.5. Dịch vụ 12
3.2. Các hoạt động hỗ trợ 14
3.2.1. Quản trị tổng quát 14
3.2.2. Quản trị nhân sự 14
3.2.3. Phát triển công nghệ 14
3.2.4. Thu mua 14
3.2.4.1. Vùng nguyên liệu 14
2
3.2.4.2. Hình thức thu mua 14
3.2.4.3. Yêu cầu đối với nguyên liệu 14
3.2.4.4. Phát triển các phương án cung ứng nguyên vật liệu 14
- 11/7/1995 Tổng thống Mỹ tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thường hóa
quan hệ với Việt Nam.
- 5/8/1995 Bộ trưởng Ngại giao Mỹ sang thăm Việt Nam.
- 10/1995 Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam dự lễ kủ niệm 50 năm thành lập
Liên Hiệp quốc và lần đầu tiên thăm Mỹ, tiếp xúc với nhiềuquan chức cao cấpcủa
chính quyền Mỹ, Hội đồng thương mại Mỹ tổ chức “Hội nghị về bình thường hoá
quan hệ, bước tiếp theo trong quan Việt – Mỹ.
- 11/1995 đoàn liên bộ Mỹ thăm Việt Nam tìm hiểu hệ thống luật lệ thương mại
đầu tư của Việt Nam.
- 4/1996 Mỹ trao cho Việt Nam văn bản “những yếu tố bình thường hóa quan hệ
kinh tế thương mại Việt Nam.
- 7/1996 Việt Nam trao cho Mỹ văn bản “Năm nguyên tắc bình thường hóa quan
hệ kinh tế- thương mại và đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ”
- 9/1996 bắt đầu quá trình đàm phán hiệp định thương mại song phương.
Theo các nhà thương thuyết quốc tế của Việt Nam: Hiệp định thương mại Việt –
Mỹ được đàm phán thương mại song phương của Việt Nam, kéo dài 4 năm từ tháng
7/1996 đến tháng 7/2000.
1.2. Từ 1996 đến nay
- Sau hơn một năm đàm phán, trong năm 1997 hai nước đã ký thoả thuận giải
quyết nợ cũ của Việt Nam (tổng cộng khoảng gần 150 triệu USD do chính quyền nguỵ
vay nợ trước đây) và Hiệp định về Bảo vệ quyền tác giả. Tháng 3 năm 1998, lần đầu
tiên Tổng thống Hoa Kỳ quyết định miễn áp dụng Điều luật bổ sung Jackson - Vanik
đối với Việt Nam. Theo xu hướng đó, hai nước đã trao đổi và đi đến thoả thuận về
hoạt động của Cơ quan Đầu tư tư nhân ở hải ngoại (tháng 3 năm 1998) và của Ngân
hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (tháng 12 năm 1999).
- Đặc biệt là sau bốn năm với mười vòng đàm phán, ngày 13 tháng 7 năm 2000,
Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA).
- Tháng 12 năm 2001chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Thủ tướng Thường trực
Nguyễn Tấn Dũng ở Thủ đô Washington.
- Cuối năm 2004, kiều bào ta định cư ở Hoa Kỳ cũng như hành khách Mỹ có thể
nghị sĩ hữu nghị Hoa Kỳ- Việt Nam.
- Ngày 23-6-2004: Tổng thống George W. Bush chọn VN vào danh sách 15 nước
được ưu tiên nhận viện trợ trong khuôn khổ kế hoạch cứu trợ AIDS khẩn cấp trị giá 15
tỉ USD (VN là quốc gia duy nhất ở châu Á) giai đoạn 2004 - 2008.
- Ngày 19 đến 26-6-2005: Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức Hoa Kỳ
theo lời mời của Tổng thống George W. Bush.
- 8-12-2006: Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Quy chế quan hệ thương mại bình
thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam.
- 9-12-2006: Thượng viện Hoa Kỳ thông qua PNTR với Việt Nam.
- 24-6-2008: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm thủ đô Washington mở
rộng thêm mối quan hệ giữa hai nước.
2. Hiệp định thương mại Việt Mỹ
2.1. Các nguyên tắc đàm phán và ký kết hiệp định
6
Theo tinh thần Chỉ thị của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng
quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ thể hiện trong Hiệp định được dựa trên
nguyên tắc cơ bản:
- Tôn trọng độc lập chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ
của mỗi nước, bình đẳng cùng có lợi.
- Việc Hoa Kỳ và Việt Nam dành cho nhau quy chế đãi ngộ tối huệ quốc không
phải chỉ đem lại lợi ích cho phía Việt Nam mà còn có cho cả phía Hoa Kỳ, cho các
công ty Hoa Kỳ.
- Việt Nam tôn trọng các luật lệ và tập quán quốc tế, sẽ từng bước điều chỉnh, bổ
sung các luật lệ, cơ chế của mình theo hướng đó, phù hợp với mức độ phát triển của
nền kinh tế, hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam.
- Việt Nam chấp nhận tuân thủ các quy định của Hiệp định về Thương mại và
Thuế quan/ Tổ chức thương mại thế giới GATT/WTO, nhưng sẽ thực hiện từng bước
phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế có vận dụng những ngoại lệ dành cho một
nước đang phát triển có thu nhập thấp
- Việt Nam là nước đang phát triển, đang chuyển đổi nền kinh tế, do đó có quyền
phía Việt Nam đưa ra bản dự thảo với cam kết sẽ mở cửa thị trường, theo đó thời hạn
bảo hộ dài nhất cho một số chủng loại hàng hóa và dịch vụ là năm 2020.
Vòng 5: từ 16/5/1998 đến 22/5/1998 tại Washington. Trước vòng đàm phán này,
các nhà đàm phán Việt Nam đã thiết kế lại bản dự thảo Hiệp định mới theo nguyên tắc
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) áp dụng cho các nước có trình độ phát triển
thấp.
Vòng 6: từ 15/9/1998 đến 22/9/1998 tại Hà Nội.
Vòng 7: từ 15/3/1999 đến 19/3/1999 tại Hà Nội. Tại hai vòng đàm phán 6 và 7,
các Bên tiếp tục trao đổi về các vấn đề quan trọng chưa đi đến nhất trí trong các vòng
đàm phán trước, như: phát triển quan hệ đầu tư, thương mại dịch vụ, thương mại hàng
hóa và sở hữu trí tuệ.
Vòng 8: từ 14/6/1999 đến 18/6/1999 tại Washington.
Vòng 9: từ 23/7/1999 đến 25/7/1999 tại Hà Nội, trong cuộc họp cấp Bộ trưởng,
hai nước đã thông báo thỏa thuận trên nguyên tắc những nội dung mà Hiệp định
Thương mại đã đạt được.
Vòng 10: từ 28/8/1999 đến 2/9/1999 tại Washington.
Vòng 11: 3/7/2000 tại Washington. Sau khi đàm phán xong những vấn đề cuối
cùng trong lĩnh vực viễn thông và rà soát lại một lần nữa toàn văn bản Hiệp định, ngày
13/7/2000, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ đã được ký kết tại Washington. Đại diện
cho phía Việt Nam là Bộ trưởng Vũ Khoan, đại diện cho phía Mỹ là bà Charlene
Barsefsky. Tham dự lễ ký kết có Đại sứ hai nước (Đại sứ Lê Văn Bàng và Đại sứ
Peterson), trưởng hai đoàn đàm phán (Ông Trần Đình Lương và Ông Joseph Diamond)
và nhiều quan chức khác.
Cuối tháng 1/2001, góp phần thúc đẩy việc sớm ký kết hiệp định, gần 200 doanh
nghiệp Mỹ đang có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam đã ký tên gởi kiến nghị lên
chính quyền mới của Mỹ - Chính quyền của Tổng thống Bush - đề nghị đưa Hiệp định
Thương mại Việt – Mỹ thông qua ở Quốc hội Mỹ, họp trong tháng 3/2001.
Cuối năm 2001, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam thông qua và chính thức có hiệu lực sau tuyên bố của Phó Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng - thay mặt Chính phủ Việt Nam, cùng với đại diện Chính phủ
Thương Mại song
phương khác
1. Cơ sở đàm phán Dựa vào các tiêu chuẩn của WTO Dựa vào các tập qáun
thương mại quốc tế phổ
biến
2. Tính khái quát
của Hiệp Định
Vừa mang tính tổng hợp, vừa
mang tính chi tiết: có các chương,
mỗi chương có nhiều điều khoản
và phụ lục kèm theo
Mang tính tổng hợp cao,
không có các cam kết
thực hiện cụ thể
3. Nội dung Hiệp
Định
Không chỉ đề cập đến thương mại
mà còn đề cập đến các vấn đề có
liên quan trực tiếp đến thương
mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí
tuệ…
Chỉ đề cập đến quan hệ
thương mại song
phương
4. Lộ trình thực
hiện Hiệp Định
Cụ thể và rõ ràng Không có lộ trình thực
hiện
5. Cơ quan giám sát
thi hành Hiệp Định
Ngay lập tức và vô điều kiện, hai bên Mỹ và Việt nam dành cho nhau quy chế tối
huệ quốc trong quan hệ thương mại với nhau
Trong thương mại hàng hóa, các doanh nghiệp Việt nam có quyền tham gia ngay
lập tức phân phối hàng hoá Mỹ nếu ta có khả năng. Còn các doanh nghiệp Mỹ theo lộ
trình về thời gian có quyền tổ chức phân phối hàng hóa tại Việt Nam.
Hàng hoá của Hoa Kỳ đưa vào Việt Nam sẽ được cắt giảm thuế nhập khẩu theo
lộ trình cam kết.
Thứ hai, về bản quyền và tài sản trí tuệ:
Về bản quyền, hai bên cam kết thực hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ mà các bên
đã ký trước đó
Về tài sản trí tuệ, hai bên thoả thuận thực hiện các công ước sđa phương về các
vấn đề này.
10
Thứ ba, về thương mại dịch vụ:
Hai nước sẽ mở cửa cho nhau: tạo điều kiện cho các ê5t Nam tự do kinh doanh
dịch vụ tại Mỹ và các doanh nghiệp Mỹ theo lộ trình được kinh doanh dịch vụ tại Việt
Nam.
Thứ tư, về hoạt động đầu tư:
Hai bên cam kết dành thuận lợi cho các nhà đầu tư được hoạt động kinh doanh
trên thị trường của nhau phù hợp với các thông lệ của quốc tế.
3.1. Thương mại hàng hóa
3.1.1. Các nguyên tắc thiết lập quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ theo tinh thần của Hiệp định được
thiết lập trên 2 nguyên tắc:
Nguyên tắc quan hệ buôn bán bình thường (NTR). Hay còn gọi là Quy chế tối
huệ quốc (MFN).
Mỗi bên dành ngay lập tức và vô điều kiện cho hàng hóa cò xuất xứ tại hoặc
được xuất khẩu từ lãnh thổ của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử
dành cho hàng hoá tương tự có xuất xứ tại hoặc được xuất khẩu từ lãnh thổ của bất cứ
nước thứ ba nào khác trong tất cả các vấn đề liên quan:
cận thị trường thông qua việc cùng giảm thỏa đáng thuế và các hàng ràophi quan thuế
đối với thương mại hàng hóa do đàm phán đa phương mang lại.
Các bên sẽ loại bỏ tất cả các hạn chế, hạn ngạch, yêu cầu cấp phép và kiểm soát
xuất khẩu và nhập khẩu đối với mọi hàng hóa và dịch vụ, ngoại trừ những hạn, hạn
ngạch, yêu cầu cấp phép kiểm soát được GATT 1994 cho phép.
Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệu lực, các bên hạn chế tất cả
loại phí và phụ phí với bất kỳ hình thức nào áp dụng đối với hay có liên đến xúât nhập
khẩu,ở mức tương xứng với chi phí của dịch vụ đã cung ứng và đảm bảo rằng những
loại phí và phụ phí đó không phải là một sự bảo hộ gián tiếp đối với sản xuất trong
nước hoặc là thuế đánh vào hàng nhập khẩu hay xuất khẩu vì mục đích thu ngân sách.
Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệu lực các bên áp dụng hệ thống
định giá hải quan dựa trên giá trị của hàng nhập khẩu để tính thuế hoặc của hàng hóa
tương tự, chú không dựa vào giá trị của hàng hoá theo nước xuất xứ,hoặc giá trị được
xác định một cách võ đoán hay không có cơ sở, với giá trị giao dịch là giá thực tế đã
thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa khi được bánđể xuất khẩu sang nuớc
nhập khẩu phù hợpvới những tiêu chuẩn thiết lập trong Hiệp định về việc thi hành
GATT 1994
Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệu lực, các bên bảo đảm rằng các
khoản phí và phụ phí được quy định hay thực hiện một cách thống nhất và nhất quán
trên toàn bộ lãnh thổ hải quan của mỗi bên
Việt Nam dành sự đối phù hợp xử về thuế cho các sản phẩm xuất xứ từ lãnh thổ
hải quan của Hoa Kỳ
Không bên nào yêu cầu các công dân hoặc công ty của nước mình tham gia vào
phương thức giao dịch hàng đổi hàng hay thương mại đối lưu với công dân hoặc công
ty của bên kia. Tuy nhiên, nếu các công dân hoặc công ty quyết định tiến hành giao
dịch theo phương hàng đổi hàng hay thương mại đối lưu thì các bên có thể cung cấp
cho họ thông tin để tạo thuận lợi cho giao dịch và tư vấn cho họ như khi các bên cung
cấp đối với hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu khác
Hoa Kỳ sẽ xem xét khả năng dành cho Việt Nam Chế độ Ưu đãi Thuế quan Phổ
cập.
dịch vụ được cung cấp và tiêu thụ tại chỗ trong các vùng tiếp giáp biên giới.
Đối xử quốc gia
• Mỗi bên dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên kia, đối với tất
cả các biện pháp ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ, sự đối xử không kém thuận lợi
hơn sự đối xử mà bên đó cho các dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự mình.
• Một bên có thể đáp ứng yêu cầu của khoản 1 thông qua việc dành cho các dịch
vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên kia sự đối xử tương đồng hay khác biệt về hình
thức so với sự đối xử mà bên đó dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương
của mình.
13
• Sự đối xử tương đồng hay khác biệt về hình thức được coi là kém thuận lợi
hơn nếu nó làm thay đổi các điều kiện cạnh tranh có lợi hơn cho các dịch vụ và nhà
cung cấp dịch vụ của bên này so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự bên kia.
Hoạt động thương mại dịch vụ của bên này được thực hiện trên lãnh thổ bên kia
dựa trên nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, cụ thể là: “mỗi bên dành ngay lập tức và vô
điều kiện cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên kia sự đối xử không thuận
lợi hơn sự đối xử mà bên đó dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự ở
bất kỳ nuớc nào khác”.
Trong hoạt thương mại dịch vụ của bênnày trong lãnh thổ của bên kia phải được
đảm bảo thực hiện trên nguyên tắc Đối xử quốc gia.
3.3. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Đây là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên của Việt Nam, đưa Quyền sở
hữu trí tiệ thành 1 chương riêng với 18 điều khoản giải thích.
3.3.1. Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của các nghĩa vụ trong lĩnh vực sở hữu trí
tuệ
Mỗi bên dành cho công dân của bên kia sự bảo hộ và thực thi đầy đủ và có hiệu
quả đối với quyền sở hữu trí tuệ trong lãnh thổ của mình.
Các bên thừa nhận các mục tiêu về chính sách xã hội cơ bản của các hệ thống
quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ, kể cả mục tiêu phát triển và mục tiêu công nghệ và
bảo đảm rằng các biện pháp bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ không cản trở hoạt
3.3.3. Lộ trình thực hiện quyền sở hữu trí tuệ
Hầu hết các đối tượng được bảo hộ Quyền Sở hữu trí tuệ đều có lộ trình thực
hiện thể hiện trong bảng sau đây:
Lộ trình thực thi Quyền sở hữu trí tuệ theo tinh thần của Hiệp định thương mại
Việt – Mỹ:
Đối tượng được bảo hộ Thời hạn thực thi
1. Quyền tác giả và quyền có liên quan
2. Bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương
trình mã hoá
3. Nhãn hiệu hàng hóa
4. Sáng chế
5. Thiết kế bố trí mạch tích hợp
6. Bí mật thương mại (bí mật thông tin)
7. Kiểu dáng công nghiệp
8. Các loại giống thực vật
18 tháng
30 tháng
12 tháng
12 tháng
24 tháng
18 tháng
24 tháng
Theo Công ước UPOV 1991
Thời hạn bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ:
Đối tượng
bảo hộ
Hiệp định thương mại
Việt – Mỹ
Quy định TRIPS của WTO
1. Quyền
không hạn chế số lần,
mỗi lần 10 năm.
Không dưới 7 năm, sau đó có thể gia
hạn thêm.
4. Kiểu
dáng công
nghiệp
Ít nhất 10 năm Ít nhất 10 năm
5. Bằng
sáng chế
Ít nhất 20 năm kể từ ngày
nộp đơn.
Ít nhất 20 năm kể từ ngày nộp đơn.
6. Thiết kế
bố trí
mạch tích
hợp
Mại Ít nhất 10 năm kể từ ngày thiết kế bố trí
đưa ra khai thác dưới dạng thương mại
hoặc kể từ khi đăng ký.
3.4. Quan hệ đầu tư
3.4.1. Các nguyên tắc xác định quan hệ đầu giữa Việt Nam – Hoa Kỳ
Quan hệ đầu tư giữa hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam về cơ bản được thiết lập dựa
trên hai nguyên tắc:
• Nguyên tắc “Đối xử quốc gia” trong hoạt động đầu tư được hiểu là các khỏan
đầu tư như: việc thành lập, mua lại, mở rộng, quản, điều hành, vận hành, bán hoặc
định đoạt đầu tư bằng các cách khác, mỗi bên dành cho bên khi họ hoạt động đầu tư
trên đất nước mình đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các đầu tư của
công dân hoặc công ty của nước mình
• Nguyên tắc “đối xử tối huệ quốc” trong hoạt động đầu tư được hiểu là các
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng của các nước Đông Á và ASEAN trong hơn
nửa thế kỷ vừa qua có nguyên nhân rất lớn từ chính sách sản xuất nhằm mục tiêu xuất
khẩu. Xuất khẩu hàng hóa là động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của
các nước này. Tuy nhiên, điều này cũng làm cho nền kinh tế các nước ASEAN dễ bị
tổn thương và phụ thuộc vào biến động của chu kỳ kinh tế thế giới, đặc biệt là phụ
thuộc vào các thị trường xuất khẩu chủ lực như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.
Với đường lối mở cửa kinh tế, xuất khẩu đã ngày càng trở thành động lực quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở nước ta. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình
của Việt Nam đạt 24,1%/năm trong suốt 20 năm qua là nhân tố quan trọng giúp duy trì
tốc độ tăng trưởng cao. Khác với một số nước ASEAN như Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a và
Thái Lan đã trải qua thời kỳ tích tụ tư bản nhằm tạo lập vốn, Việt Nam đang ở giai
đoạn nước rút nhằm tạo lập vốn cho nền kinh tế với tốc độ đầu tư không ngừng tăng
lên. Nếu năm 1990, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế trong GDP là 12,6%/năm, thì năm
1995 đạt 27,1%, năm 2000 đạt 29,6%, năm 2005 đạt 35,6%, và kỷ lục đạt 41,7% GDP
năm 2007 (Xem bảng 1). Chính vì vậy, trước khi Việt Nam có thể chuyển sang giai
đoạn xuất siêu như các nước khác, chúng ta không thể không trải qua thời kỳ tích lũy
vốn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước kèm theo nhu cầu nhập khẩu tăng cao. Trong
giai đoạn 1989 - 2008, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hằng năm, mặc dù thấp hơn xuất
khẩu, vẫn duy trì ở mức cao, trung bình đạt 19,9%.
Nếu lấy tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu so với GDP làm thước đo về mức độ
hội nhập và phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới, thì Việt Nam là một trong những nước
có mức độ hội nhập kinh tế quốc tế cao nhất so với các nước trong ASEAN cũng như
17
trên thế giới. Nếu như năm 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta so với GDP là
36%, thì đến năm 2007 con số này là 76,8% GDP. Cũng trong thời kỳ này, tổng kim
ngạch nhập khẩu của Việt Nam so với GDP tăng từ 45,3% lên 90,2% GDP. Sáu tháng
đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 27,57 tỷ USD, giảm
10% so cùng kỳ 2008. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 30,64 tỷ USD, giảm khoảng
31,6% so với cùng kỳ. Số liệu trên vừa được Bộ Công Thương công bố ngày 17/6. So
với các nước ASEAN và Trung Quốc, mức độ hội nhập và phụ thuộc của nền kinh tế
khẩu phải đạt 57,3% kế hoạch năm. Tuy nhiên, theo Bộ Công Thương, căn cứ vào tỷ
trọng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng cuối năm của 8 năm trở lại đây thường chiếm từ
53- 55% kế hoạch năm nên, để đạt được mục tiêu trên phải có các giải pháp rất quyết
liệt mới thực hiện được.
4.1.4. Phân tích GDP ở Việt Nam theo mô hình tổng cầu của Keynes
18
Theo mô hình tổng cầu của Keynes, tổng cầu của nền kinh tế đo bằng tổng sản
phẩm quốc nội GDP, được tính trên cơ sở tổng tiêu dùng tư nhân, tiêu dùng chính phủ,
đầu tư, và xuất khẩu ròng (đo bằng tổng kim ngạch xuất khẩu trừ đi tổng kim ngạch
nhập khẩu). Theo phương pháp này, cơ cấu GDP của Việt Nam đã có chuyển biến khá
tích cực từ năm 1990 tới năm 2000 và ổn định cho tới năm 2006, trước khi gặp những
biến động mạnh trong năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Cơ cấu chi tiêu
của khu vực tư nhân và của Chính phủ đã có chuyển biến tích cực theo hướng giảm chi
tiêu và tăng tích lũy để đầu tư tạo vốn.
Bảng 1: Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội tính theo % GDP
1
990
1
995
2
000
2
005
2
006
2
007
Tiêu dùng tư
nhân
8
7,1
2
9,6
3
5,6
3
6,8
4
1,7
Xuất khẩu ròng -
9,2
-
9,1
-
2,5
-
4,2
-
5,0
-
13,4
Trong giai đoạn trước năm 2007, cơ cấu GDP đã duy trì ở mức tích cực với tốc
độ tạo lập vốn đầu tư duy trì trong khoảng 35% - 36%, tạo điều kiện thúc đẩy tăng
trưởng trong trung và dài hạn. Trong năm 2007, với việc Việt Nam gia nhập WTO,
nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp đổ vào nước ta đã kéo theo việc gia tăng thâm
hụt thương mại, đặc biệt trong hai quý cuối năm 2007. Kết quả là, thâm hụt thương
mại năm 2007 lên tới 14,1 tỉ USD, chiếm khoảng 13,4% GDP. Tuy nhiên, phần này
được bù đắp hoàn toàn bằng 8 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và 6,24 tỉ vốn
đầu tư gián tiếp, và lượng kiều hối đạt kỷ lục 6,18 tỉ USD. Khuynh hướng này tiếp tục
4.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam
4.2.1. Thành công
Năng lực sản xuất và kinh doanh của các ngành tăng lên rõ rệt từ khi Việt Nam
gia nhập WTO. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp nhưng
hầu hết các ngành hàng nước ta đều đạt mức tăng trưởng cao so với nhiều nước trong
khu vực. Theo số liệu ước tính, năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu
dịch vụ tăng 31% so với năm 2007 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng còn 7%);
kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, tăng 29,5% so với năm 2007; kim ngạch nhập
khẩu đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với năm 2007. Nhìn chung, xuất khẩu các mặt
hàng chủ lực thuộc các ngành hàng đều tăng rõ rệt.
- Hàng hóa của Việt Nam có cơ hội thâm nhập được thị trường các nước thành
viên WTO thuận lợi hơn do thị trường được mở rộng và không bị phân biệt đối xử; có
điều kiện tiếp cận với các nguồn tín dụng, công nghệ hiện đại, các loại hình dịch vụ,
vật tư, nguyên liệu.
- Môi trường kinh doanh trong nước đã được cải thiện theo hướng thuận lợi và
minh bạch hơn. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính đã có tác động tích cực đối với
phát triển các doanh nghiệp mới ở hầu hết các ngành hàng. Việc phát triển hệ thống
ngân hàng và bảo hiểm cũng như mở ra các kênh tài chính tạo cơ hội lựa chọn tiếp,
cận tài chính tốt hơn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu, các doanh nghiệp thuộc các ngành ưu
tiên như đóng tàu hay phát triển năng lượng mới.
- Việc mở cửa thị trường nội địa, cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế đối với
các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đã tạo điều kiện cho nhiều
mặt hàng đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với mức giá hợp lý
hơn, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn.
20
- Cơ hội đối với Việt Nam khi gia nhập WTO cơ bản đã nhìn thấy rõ. Đó là mở
rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế-thương mại, tăng thu
hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài; là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia
vào sân chơi chung toàn cầu vừa là động lực và áp lực buộc doanh nghiệp phải thích
DNVVN còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là các
quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu
công nghiệp. Tình trạng các DNVVN bị các cơ quan chức năng phàn nàn, xử phạt vi
phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ biến. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc nhận thức, hiểu biết của DN về luật pháp
còn nhiều hạn chế. Tâm lý làm ăn chuôi vẫn còn khá phổ biến.
21
Thứ năm: Sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh.
Hầu hết các DNVVN ở Việt Nam chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, chưa
khẳng định được uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Nhiều DN ở Việt Nam, đặc biệt là các DNVVN chưa có chiến lược xây dựng thương
hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do đó khả năng cạnh
tranh còn yếu. Theo số liệu khảo sát của VCCI, chỉ có gần 10% số doanh nghiệp là
thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài và trong số này chủ yếu là các doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu;
Khoảng 42% doanh nghiệp tìm hiểu thị trường nước ngoài không thường xuyên và
khoảng 20% doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có các
hoạt động tìm hiểu thị trường nước ngoài.
Việc mở cửa thị trường dẫn đến sức ép cạnh tranh tăng lên, VN sẽ không còn lý
do nào để cấm đoán ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa của VN. Từ
đó, mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc chắn về phần
doanh thương VN qua sự chênh lệch về nguồn vốn, kỹ thuật, cung cách khuyến mãi,
và thị hiếu của người tiêu dùng VN. các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ phải cạnh
tranh ở thị trường trong nước mà còn phải cạnh tranh ở thị trường thế giới. Nhiều
khoản trợ cấp hoặc có tính trợ cấp của Nhà nước đối với một số ngành hàng cho một
số ngành trước đây buộc phải bãi bỏ theo cam kết gia nhập WTO.
Trước mắt, chúng ta thấy rõ những kỹ nghệ của VN liệt kê sau đây đang đi dần
vào chỗ bế tắc :
- Kỹ nghệ đường hiện nay hoàn toàn bị phá sản vì không cạnh tranh được so với
đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm chất tốt hơn và giá rẽ hơn. Việc này kéo theo
với các vụ kiện chống bán phá giá.
- Sự phát triển của một số ngành thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, ngành điện, giao thông và một số
lĩnh vực dịch vụ công chưa phát triển khiến doanh nghiệp trả giá dịch vụ cao hơn, làm
giảm năng lực cạnh tranh.
- Xử lý mâu thuẫn giữa một bên là mở cửa, giảm thuế để hạ giá thành đầu vào
cho sản xuất và để cho người tiêu dùng được tiếp cận với hàng hóa giá rẻ, một bên là
muốn bảo hộ để duy trì sản xuất trong nước. Phần lớn các ngành hàng vừa được sản
xuất trong nước lại vừa được nhập khẩu. Với chủ trương bảo hộ một số ngành, chúng
ta đang thực hiện chính sách thuế nhập khẩu cao đối với sản phẩm hàng hóa hoàn
chỉnh và thuế nhập khẩu thấp hơn đối với nguyên liệu và linh kiện, chi tiết rời để
khuyến khích sản xuất và lắp ráp trong nước. Tuy nhiên, nhiều ngành sản xuất không
tranh thủ cơ hội này để phát triển sản xuất và cải tiến công nghệ mà chỉ trông chờ vào
chính sách bảo hộ, vì vậy khi thực hiện cam kết gia nhập WTO thì những hàng hóa
này được sản xuất ra luôn có giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh, khó tiêu thụ ở cả
thị trường trong và ngoài nước.
5. Ảnh hưởng của hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA) đối với Việt Nam
5.1. Bùng nổ thương mại song phương
Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, và Việt Nam đang là
điểm đến của các nhà đầu tư Mỹ.
Trong 6 tháng đầu năm 2009, Hoa Kỳ là nước có số vồn đăng ký đầu tư trực tiếp
nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Từ khi Hiệp định Thương mại Song phương (BTA)
có hiệu lực thì Việt Nam luôn luôn hưởng thặng dư mậu dịch với Mỹ.
Theo số liệu thống kê của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ thì con số thặng
dư vào năm 2001 là 633 triệu đôla, đến năm 2008 đã lên đến gần 10 tỉ đôla, có nghĩa là
gấp gần 16 lần, tương đương với hơn 10% tổng sản lượng quốc nội của Việt Nam.
Mặc dù trước sự trì trệ của nền kinh tế toàn cầu và sự tụt giảm của mậu dịch thế
giới, Việt Nam vẫn hưởng con số thặng dư mậu dịch trong bốn tháng đầu năm nay.
23
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ; như dệt may, giày dép
5.3. Ảnh hưởng của Mỹ với tiến trình cải cách luật pháp của Việt Nam
Mỹ đã có ảnh hưởng rất lớn đối với tiến trình cải cách luật pháp của Việt Nam
trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu.
Kể từ năm 2001, cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ, thông qua Dự án Hỗ trợ
Thúc đẩy Thương mại đã giúp đỡ chính phủ Việt Nam thực thi các cam kết của BTA
và WTO.
Hàng năm dự án này đã phối hợp với chính phủ Việt Nam tổ chức hàng loạt hội
thảo, các khóa đào tạo cho rất nhiều cơ quan ở Việt Nam, như Quốc hội, Tòa án nhân
dân tối cao, các bộ và các tỉnh thành.
24
Từ khi bắt đầu hoạt động, dự án này giúp Việt Nam sửa đổi và ban hành hàng
trăm luật lệ mới. Sự điều chỉnh những luật lệ đã tạo những tiền đề tốt cho Việt Nam
gia nhập WTO.
Sự thực thi tốt các cam kết về BTA cũng như việc gia nhập WTO đã tăng thêm
niềm tin cho các nhà đầu tư ngoại quốc. Đầu tư nước ngoài tăng lên rất nhanh trong
hai năm 2007 và 2008
Nhìn chung vẫn còn một khoảng cách nhất định giữa luật trên văn bản và sự thực
thi luật trong thực tế, và sự cải cách vẫn chưa đồng bộ.
Nhưng nếu so sánh giữa hai thời kỳ trước khi có BTA cho đến thời điểm bây giờ
thì có những chuyển biến tích cực.
5.4. Thử thách cho Việt Nam càng lớn
Việc xuất khẩu vào Mỹ luôn trong tình trạng tăng trưởng “nóng” chỉ là hiện thực,
hãy còn quá nhiều thách thức phía trước, nếu VN không vượt qua được thì điều chắc
chắn, VN sẽ lọt cái bẫy vĩnh viễn của lao động giá rẻ! Mỹ đang là thị trường xuất khẩu
lớn nhất của VN, thiếu thị trường này liệu tốc độ tăng trưởng GDP của VN có đạt
được mức 8%-9%/năm?
TS Nguyễn Hồng Bảo – Khoa Kinh tế phát triển Đại học Kinh tế TPHCM cũng
cho rằng, mặc dù đầu tư của Mỹ vào VN còn thấp nhưng lại là đầu tư thâm dụng vốn
và công nghệ, còn xuất khẩu của VN là thâm dụng về lao động, điều này sẽ tạo thế áp
đảo đối với hàng hóa xuất khẩu của VN trong tương lai. Mặt khác, VN chưa được Mỹ