TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA BẢO HIỂM
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI: Tìm hiểu về sản phẩm Bảo hiểm cây lúa tại Tổng
Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Hà nội, tháng 4 năm 2014
MỤC LỤC
1. Giới thiệu sơ lược về Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
- Tên pháp nhân: Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
- Tên viết tắt: Bảo hiểm Bảo Việt
- Địa chỉ: 35 Hai Bà Trưng – Hoàn Kiếm – Hà Nội
- Ngày tháng thành lập: Tiền thân của Bảo Việt ngày nay là Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập
theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Ngày
31/5/2007, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam chính thức trở thành công ty cổ phần kinh doanh đa ngành, đa
lĩnh vực và Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt là công ty con được Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn.
- Điện thoại: (84.4) 3826 2614
- Fax: (84.4) 3825 7188
- Hotline: 1900 55 88 99
- Email:
- Website: www.baoviet.com.vn/insurance/Trang-chu
1.1. Điểm mạnh
1.1.1. Năng lực bảo hiểm
a/ Cơ cấu quản trị
- Bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp gồm những lãnh đạo giàu kinh nghiệm, có trình độ cao về bảo
hiểm và quản trị doanh nghiệp, am hiểu thị trường bảo hiểm trong và ngoài nước.
- Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt hiện có 01 Tổng Giám đốc – Trình độ chuyên
môn: !"#$%&'"(
)*+,-*"#$&'./0.)'12345Các chức vụ đang đảm nhiệm: *
-6)"78'*#'9:*-6)9%6;3<=;8(3>#'?;#'9:
@A$)"3>3=B#'?;"(9:+;2và 04 Phó Tổng Giám đốc.
b/ Sức mạnh tài chính
cách nhanh chóng, kịp thời và chuyên nghiệp. Đội ngũ cán bộ nhân viên của Bảo hiểm Bảo Việt được thị
trường đánh giá là có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và được đào tạo bài bản.
- Bảo Việt đã thiết lập quan hệ với nhiều công ty tái bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm hàng đầu trên thế
giới như Munich Re, Swiss Re, CCR, Hannover RE, AON, Athur Gallagher, Marsh… Mối quan hệ hợp tác
quốc tế rộng lớn của Bảo Việt vừa giúp Tập đoàn tăng cường khả năng hợp tác, vừa giúp phân tán rủi ro,
tăng khả năng thanh toán.
- Thiết lập và duy trì quan hệ hợp tác lâu dài với các Công ty Giám định và tính toán tổn thất (Airclaims,
CTA, GAB Robbins, …); các Hãng luật có uy tín (BLG, Clyde & Co, …) để cung cấp các sản phẩm bảo
hiểm và dịch vụ sau cấp đơn có độ tin cậy và chất lượng cao nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
- Liên kết với những Ngân hàng có thương hiệu và uy tín hàng đầu trên thị trường Việt Nam như HSBC Việt
Nam, MaritimeBank, Baoviet Bank, Techcombank, HDBank… Bảo hiểm Bảo Việt thể hiện tầm nhìn chiến
lược đối với thị trường bán lẻ tiềm năng thông qua những chương trình bảo hiểm cung cấp qua kênh ngân
hàng (Bancassurance).
d/ Các sản phẩm triển khai
3
- Bảo hiểm Bảo Việt cung cấp đầy đủ 11 loại hình (nhóm) sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ theo quy định
của pháp luật với hơn 40 nghiệp vụ.
- Tham gia các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khác:
+ Kinh doanh Tái bảo hiểm: Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm phi
nhân thọ.
+ Giám định tổn thất: Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất, đại lý giám định tổn thất, yêu
cầu người thứ ba bồi hoàn.
+ Tiến hành họat động đầu tư: theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Danh tiếng
Với gần 50 năm hình thành và phát triển, Bảo hiểm Bảo Việt tự hào là nhà bảo hiểm tiên phong
trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường Việt Nam, luôn được đánh giá là DN có trách nhiệm cao
đối với quyền lợi của khách hàng và có chất lượng phục vụ tốt nhất. Bảo Việt đã chiếm được lòng tin của
hàng triệu khách hàng thuộc nhiều thành phần kinh tế và tầng lớp dân cư.
a / Giải thưởng và danh hiệu
b/ Trách nhiệm xã hội
toàn bộ Tổng công ty.
1.2.3. Báo động về thiên tai và thảm họa
- Ngành bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong việc bù đắp thiệt hại thiên tai, ổn định sản xuất và đời
sống, hỗ trợ tái thiết nền kinh tế – xã hội, đảm bảo an sinh xã hội. Mặt khác, chính ngành bảo hiểm cũng
chịu ảnh hưởng của những thảm họa này. Thế nhưng, trái ngược với mức độ cảnh báo về nguy cơ thiên tai,
5
thảm họa, các nhà bảo hiểm Việt Nam dường như đang thờ ơ đối với loại hình bảo hiểm này. Nhiều năm
qua, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vẫn coi bảo hiểm thiên tai chỉ như là một điều khoản
khuyến mại hoặc được bảo vệ tự động trong hợp đồng bảo hiểm cháy, đơn bảo hiểm mọi rủi ro (CAR, EAR,
CPM) hoặc nếu có tính phí thì cực kỳ thấp. Điều này sẽ cực kỳ nguy hiểm, gây phản ứng dây chuyền khi sự
cố xảy ra.
- Theo khảo sát của Vinare, chỉ tính riêng 2 nghiệp vụ là bảo hiểm tài sản và bảo hiểm kỹ thuật, số tiền bảo
hiểm giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong năm 2012 khoảng gần 20 tỷ USD. Nếu
như thảm họa thiên tai xảy ra tại vùng kinh tế trọng điểm (Hà Nội, TP. HCM…) thì đây thực sự là thảm họa
cho ngành bảo hiểm Việt Nam.
1.2.4. Xếp hạng tín nhiệm quốc tế
- Thời gian chuẩn bị của 1 DNBH để được xếp hạng tính bằng năm. Để giành được các hợp đồng lớn, các
DN bảo hiểm phi nhân thọ không thế thiếu rating. Thực tế cho thấy, có những khách hàng từ chối ký hợp
đồng bảo hiểm chỉ vì DN bảo hiểm chưa được rating hoặc rating không đạt yêu cầu của họ (khách hàng yêu
cầu rating A, trong khi DN đạt B+). Do đó, ngày càng nhiều DN bảo hiểm quyết tâm thực hiện xếp hạng tín
nhiệm quốc tế.
- “Không chỉ A.M.Best, mà Bảo Việt từng làm việc với 2 tổ chức uy tín khác là Standard & Poor’s và
Moody’s để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về rating. Đến nay, chúng tôi vẫn đang nghiên cứu triển khai,
cùng với đó là củng cố các họat động nội bộ. Rating đòi hỏi các quy chuẩn về vốn, quản trị, quản lý rủi ro
nên cần nhiều thời gian, không thể vội được”, đại diện Bảo Việt nói.
1.2.5. Các yếu tố khách quan khác
- Nền kinh tế không ổn định, lạm phát tăng cao làm gia tăng chi phí bồi thường cho các DNBH. Lạm phát
tăng sẽ khiến giá cả hàng hóa dịch vụ tăng cao, điều này đương nhiên dẫn tới chi phí bồi thường tăng ở các
nghiệp vụ có đơn bảo hiểm mà mức bồi thường tính theo giá thị trường
- Hệ thống pháp luật quy định chưa hoàn thiện dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh
đồng)
Bồi
thường
(triệu
đồng)
6
Tổn
g
2012 BHB
V
97.069 28.470,000 70,045 20.945 697.446 8.415
BM 34.057 12.175,250 29,955 256.167 11
131.126 40.645,250 100 953.613 8.426
2.2. Vị trí của BH cây lúa trong hoạt động kinh doanh của Bảo hiểm Bảo Việt
- Bảo hiểm nông nghiệp là hướng đi mới của Bảo Việt. Tuy nhiên, sản phẩm còn quá mới và chứa đựng
nhiều rủi ro nên Bảo Việt chú trọng đẩy mạnh công tác quản lý rủi ro hơn là tập trung khai thác. Hơn nữa, vì
đây là chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của Chính phủ nên cần có sự hướng dẫn chỉ đạo của
Chính phủ và các bộ ban ngành liên quan trong công tác định hướng phát triển.
- Năm 2012, tỷ trọng DT phí BH gốc từ BHNN trong tổng doanh thu phí BH gốc của BHBV khoảng 3,2%
(DT phí BHNN: 172,043 tỷ đồng) và lỗ tới 262,563 tỷ đồng. Nhưng khoản lỗ này đến từ BH thủy sản, còn
BH cây lúa, và BH vật nuôi vẫn mang lại lợi nhuận cho BHBV. Cụ thể, BH cây lúa lãi 20,055 tỷ đồng, BH
vật nuôi lãi 25,39 tỷ đồng.
- Năm 2012, tỷ trọng (DT phí BH cây lúa / DT phí BHNN) đạt 16,55% và tỷ lệ (Số tiền bồi thường BH cây
lúa / DT phí BH cây lúa) là 29,56%.
2.3. Sự khác biệt giữa BH cây lúa của Bảo Việt với BH cây lúa của Bảo Minh
Vì là sản phẩm được triển khai theo dự án thí điểm BHNN dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của Chính
phủ và các bộ ban ngành liên quan nên hiện tại là không có sự khác biệt giữa 2 DN BHBV với BM trong
triển khai BH cây lúa.
1 số quy định chung về sản phẩm BH cây lúa:
- Phụ lục 1, quy trình canh tác lúa nước tham gia thí điểm bảo hiểm (Ban hành kèm theo Thông tư số
luôn được bảo hiểm. Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu sau khi cấy/sạ và chấm dứt ngay sau ngày thu hoạch.
Loại trừ bảo hiểm: Tất cả các rủi ro không được nêu tại phần thiên tai, dịch bệnh. Các rủi ro chiến
tranh, hạt nhân, phóng xạ và khủng bố. Người được bảo hiểm cố ý gây thiệt hại. DNBH có quyền từ chối bồi
thường một phần số tiền bồi thường bảo hiểm đối với trường hợp tổn thất xảy ra do nguyên nhân trực tiếp từ
việc người được bảo hiểm không thực hiện quy trình trồng lúa, phòng dịch theo quy định của cơ quan có
thẩm quyền. Rủi ro liên quan đến bảo quản sau thu hoạch (lúa bị nảy mầm, cháy, ngập nước, mất cắp,
bẩn ). Các rủi ro về chất lượng lúa như rủi ro liên quan đến hàm lượng dinh dưỡng, mốc, mất hương vị.
Tỷ lệ phí bảo hiểm: Tỷ lệ phí bảo hiểm áp dụng cho tất cả các vụ trong tỉnh
STT Tỉnh Tỷ lệ phí bảo hiểm (%)
1 Nam Định 4,97
2 Thái Bình 4,97
3 Bình Thuận 4,53
4 Nghệ An 4,53
5 Hà Tĩnh 4,53
6 An Giang 2,19
7 Đồng Tháp 2,19
3. Nhận dạng rủi ro liên quan tới bảo hiểm cây lúa
3.1. Xuất phát từ đối tượng được bảo hiểm
3.1.1. Thiên tai
Những thiên tai thường gặp trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là:
+ Bão và áp thấp nhiệt đới: Với vận tốc gió cao, bão và áp thấp nhiệt đới phá hủy nhà cửa và tạo
thành sóng phá hoại các đê biển bảo vệ các vùng đất bên trong, tàn phá mùa màng, vật nuôi. Đồng thời,
thường kèm theo mưa lớn, kéo dài trên diện rộng nên thường gây ra tình trạng ngập lụt các diện tích đất
nông nghiệp trong thời gian dài. Những vùng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bão là các tỉnh ven biển miền
Bắc và miền Trung.
+ Úng lụt: Theo thống kê, có từ 70% đến 80% lượng mưa trung bình ở Việt Nam (2.500mm/năm)
xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11. Ở Bắc bộ, mưa chủ yếu xuất hiện vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến
tháng 10 hàng năm, sau đó giảm dần. Mưa lớn tập trung vào tháng 7 và tháng 8 với lượng mưa trung bình từ
300mm đến 500mm. Các nghiên cứu cũng cho thấy ở miền Bắc, nếu mưa liên tục 48 tiếng thì:
8
không có mây, gió, khí lạnh đọng lại sát mặt đất, khi tiếp xúc với những vật thể có nhiệt độ lạnh dưới 0oC
thì một phần hơi nước sẽ bám vào bề mặt vật đó mà ngưng kết thành tinh thể băng nhỏ. Đó chính là sương
muối. Sương muối có thể làm chết nhiều loại cây trồng và hoa màu trong vụ Đông Xuân.
+ Giông: là hiện tượng khí quyển phức tạp, bao gồm chớp kèm theo sấm/sét, gió mạnh và mưa lớn,
đôi khi có mưa đá do các yếu tố khí tượng thay đổi đột ngột như sự giảm nhiệt độ, tăng độ ẩm không khí,
đột biến của khí áp, hướng và tốc độ gió. Ở nước ta, dông xảy ra quanh năm, khu vực Bắc Bộ dông xảy ra
thường xuyên vào mùa hè, vào buổi chiều và tối. Ở khu vực Nam Bộ mùa dông kéo dài từ tháng 4 tới tháng
11, trong mùa khô dông ít xảy ra, xảy ra nhiều hơn vào ban ngày, nhiều nhất là xế trưa. Đặc biệt ở các vùng
núi những tháng nóng, ẩm dông có thể xảy ra nhiều hơn và thường kèm theo tố lốc, gió mạnh.
+ Lốc xoáy: là một hiện tượng gió xoáy cực mạnh, xảy ra trong một phạm vi nhỏ hàng chục tới hàng
trăm mét và tồn tại trong một thời gian ngắn do những dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ,
thường xảy ra vào thời điểm giao mùa có kèm theo dông và mưa đá. Đặc điểm của lốc xoáy là tốc độ gió
tăng mạnh đột ngột trong một thời gian rõ rệt. Ở nước ta hiện tượng gió lốc thường xảy ra trong khoảng từ
tháng 4 đến tháng 8. Ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thường xảy ra vào mùa hè, nhất là ở những vùng sát biển.
Ở Nam bộ hiện tượng lốc xoáy trong mùa hè xảy ra ít hơn.
9
+ Sóng thần : là một loạt các đợt sóng tạo nên khi một thể tích lớn của nước đại dương bị chuyển
dịch chớp nhoáng trên một quy mô lớn. Động đất cùng những dịch chuyển địa chất lớn bên trên hoặc bên
dưới mặt nước, núi lửa phun và va chạm thiên thạch đều có khả năng gây ra sóng thần. Hậu quả tai hại của
sóng thần có thể ở mức cực lớn. Theo các nhà khoa học, khả năng sóng thần trên bờ biển Việt Nam không
lớn nhưng thật sự tiềm ẩn khả năng này. Nếu có sóng thần xảy ra thì khu vực chịu ảnh hưởng mạnh nhất là
Trung Trung bộ mà nặng nhất là từ Đà Nẵng đến Quảng Ngãi.
+Xâm nhập mặn : là do mùa khô, nước sông cạn kiệt khiến nước biển theo các sông, kênh dẫn tràn
vào gây mặn. Độ mặn chỉ cần lên tới 4‰ thì lúa đã chết, nhưng thực tế ở nhiều nơi độ mặn đã vượt quá mức
cho phép gần chục lần. Ngoài ra, khi độ mặn đã lên tới 4‰ thì phải rửa mặn cho vùng sản xuất nên rất tốn
kém vì phải dùng đến cơ giới, chất thuốc tẩy rửa xử lý, như vậy cũng sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường.
3.1.2. Sâu bệnh, dịch bệnh
+ Sâu bệnh có thể gây ra tác hại ở những mức độ khác nhau. Đối với sâu đục thân: ở mức độ nhiễm
nhẹ sẽ làm mất 5%-7% sản lượng, mức độ nặng làm mất tới 50% sản lượng. Rầy nâu, đạo ôn: mức độ nhiễm
nhẹ làm mất 3%-5% sản lượng, mức độ nặng mất 30%-100% sản lượng. Đối với bệnh khô vằn: mức độ
3 \NZ[ \LYa\ XLX
Duyên hải miền Trung 537,7 2,049 0,38
_7 YYKY \L[a YNY
10
Đồng bằng sông Cửu
Long
4181,3 7,772 0,18
d= [NXX TYYN Y\Z
b< T\ZY YTZ[ L\T
3 YYY\N XXX\ LXL
Nguồn: Tổng hợp từ Vụ kế hoạch Bộ NN&PTNT và Báo cáo tổng kết BHNN của BTC ngày 09-5-2013
Với tập quán sản xuất theo kinh nghiệm, nhận thức trước các rủi ro cũng như quản trị rủi ro còn rất
thấp nên người dân Việt Nam chưa có thói quen, chưa có hiểu biết để tham gia bảo hiểm. Nhiều yêu cầu của
người dân không phù hợp với các nguyên tắc của BH, đơn cử, người dân mong muốn BH tất cả các loại
thiên tai, dịch bệnh, cả những tổn thất không phải do rủi ro thì về nguyên tắc, bảo hiểm chỉ bảo hiểm rủi ro,
không bảo hiểm sự chắc chắn. Hay trong khi nguyên tắc bảo hiểm là trung thực tuyệt đối, người dân vẫn
không muốn cung cấp các chứng từ có liên quan, thực hiện các thủ tục cần thiết, dù đã được tiết giảm khá
nhiều. Điều này dẫn đến người dân không mặn mà với BH và số lượng tham gia rất khiêm tốn ngoại trừ các
đối tượng hộ nghèo và hộ cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ lần lượt 100%, 90% phí đóng. Nhưng các đối
tượng bình thường mới có diện tích trồng lúa lớn, tức là khi họ không tham gia BH thì diện tích lúa được
BH sẽ quá ít và do đó không tuân thủ quy tắc số đông bù số ít.
Bảng 3: Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia BH cây lúa (tính đến hết 30-4-2013)
ST
T
Tỉnh Lượt hộ tham gia Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận
nghèo tham gia BH (%)
Tổng Hộ nghèo Hộ cận
nghèo
Hộ khác
189.797 161.239 22.036 6.522 96,56
vậy, những người có khả năng tổn thất thấp sẽ thấy thiệt thòi nếu tham gia BH, còn những người có khả
năng tổn thất cao sẽ thấy quá lợi nếu tham gia. Dần dần, DNBH chỉ còn BH cho những người có rủi ro cao
cùng với những khoản bồi thường lớn.
3.3. Xuất phát từ DNBH
3.3.1. Quy trình kinh doanh
Rủi ro đều có thể xuất hiện ở 4 khâu cơ bản trong triển khai nghiệp vụ BH:
i. Khai thác: nhân viên thiếu trình độ chuyên môn (không nắm vững nghiệp vụ), thiếu kinh nghiệm để
xử lý các tình huống. Điều này dẫn tới việc kiểm tra, xác định, đánh giá đối tượng được BH, rủi ro
BH gặp nhiều khó khăn, khó thuyết phục người dân tham gia bảo hiểm và công tác tuyên truyền tới
người dân cũng sẽ không đạt hiệu quả cao. Trong giai đoạn thí điểm thì đây không phải là 1 vấn đề
quá nghiêm trọng vì đơn vị được BH là xã, thôn hoặc HTX chứ không phải là từng hộ dân, cán bộ xã
đứng ra làm chủ hợp đồng cũng được tập huấn về sản phẩm, đặc biệt là không có sự cạnh tranh giữa
các DNBH (mỗi tỉnh tham gia thí điểm chỉ có 1 DNBH triển khai sản phẩm). Nhưng sẽ là vấn đề rất
lớn nếu trong tương lai có sự cạnh tranh giữa các DNBH, hay việc mở rộng đơn vị được BH là từng
hộ dân và ảnh hưởng tới quyết định có chấp nhận BH hay không.
ii. Đề phòng, hạn chế tổn thất: thiếu lực lượng có đủ khả năng giám sát đối tượng được bảo hiểm, giám
sát việc tuân thủ các quy trình, tiêu chuẩn sản xuất, canh tác của người dân.
iii. Giám định tổn thất: thiếu các chuyên gia về giám định, xác định loại dịch bệnh, xác nhận dịch bệnh,
xác định mức độ thiệt hại,… do đó khó xác định tổn thất là do nguyên nhân thuộc phạm vi BH hay
do trục lợi, nếu mời các chuyên gia bên ngoài thì có thể dẫn đến thời gian giải quyết bị kéo dài ngoài
thời hạn cho phép.
iv. Bồi thường: DNBH có thể không kịp huy động nguồn lực tài chính để chi trả đầy đủ, kịp thời
3.3.2. Rủi ro đạo đức
Nhân viên khai thác hoặc đại lý của DN có thể thiếu trách nhiệm trong công việc: biết nhưng không
giải thích đầy đủ cho khách hàng hay cố tình quảng cáo sai về sản phẩm (phạm vi BH, quy trình bồi thường,
…). Hiện tại, quá trình triển khai chưa thấy xuất hiện.
Thứ hai có thể xuất phát từ phía lãnh đạo của DN theo kiểu chỉ đạo trực tiếp hoặc không quan tâm
tới cấp dưới làm gì. Điều này đã xảy ra tại Bảo Minh Cà Mau trong bảo hiểm thủy sản (tôm) gây bức xúc
cho người dân và chính quyền (dù người dân đã nộp đủ hồ sơ yêu cầu bồi thường mà 4 tháng, 6 tháng sau
vẫn không được nhận bồi thường trong khi quy định chỉ là 1 tháng; hay việc ép người dân “thương lượng”
3.4.1. Đối thủ cạnh tranh
Hiện tại là không có nhưng trong tương lai việc phải cạnh tranh với các đối thủ khác là không thể
tránh khỏi khi sản phẩm được thương mại hóa, do những DNBH vào sau không được nhiều người biết đến
và uy tín kinh doanh ở sản phẩm này là chưa có nên họ có thể sử dụng cách hạ phí thấp hơn phí thuần để
tăng cường khả năng thu hút khách hàng.
3.4.2. Môi trường chính trị - pháp luật
BHBV triển khai sản phẩm BH cây lúa là theo chỉ định của Nhà nước, việc thực hiện như thế nào
cũng là dưới sự chỉ đạo từ phía Nhà nước. Do vậy, việc ban hành các văn bản hướng dẫn (Quyết định,
Thông tư) có thể là hỗ trợ hoặc không hỗ trợ cho DN, tạo thuận lợi hoặc bất lợi, làm khó cho DN. Nhiều
quyết định, yêu cầu đề xuất và kiến nghị của các cơ quan quản lý các cấp không phù hợp thực tế kinh doanh
và thông lệ của bảo hiểm, ví dụ: yêu cầu mở rộng rủi ro điều kiện bảo hiểm, giảm phí bảo hiểm không dựa
trên cơ sở thực tiễn và tính toán với căn cứ khoa học làm cho các DNBH rất lúng túng, bị động và rất khó
khăn khi thu xếp tái bảo hiểm và/hoặc thuyết phục các nhà nhận tái bảo hiểm thay đổi các điều kiện/điều
khoản đã ký kết từ đầu. Hay không có hỗ trợ tài chính cho DN nếu kinh doanh thua lỗ. Việc giải ngân tiền
hỗ trợ phí đóng BH cho người dân diễn ra chậm chạp khiến DN gặp khó khăn trong việc giải quyết bồi
thường. Trung ương có yêu cầu các cấp chính quyền địa phương nơi triển khai thí điểm phải phối hợp và hỗ
trợ DN nhưng họ thực hiện tới đâu với mức độ như thế nào thì không thể biết trước được. Nhà nước cũng
không có các chế tài xử phạt để ngăn chặn việc trục lợi BH, do đó nguy cơ trục lợi BH là rất cao.
Đất nông nghiệp ở Việt Nam do Chính phủ quản lý. Việc quản lý này đi đôi với việc quy định về
mục đích sử dụng đất. Điều đó có nghĩa là đất được giao để trồng một loại cây nào đó (chẳng hạn lúa) thì
không được sử dụng để trồng các loại cây trồng khác. Vì thế, có một dạng rủi ro luôn tiềm ẩn đối với nông
13
dân là ruộng đất của họ có thể bị phân chia lại hoặc được giao trồng một loại cây khác mà họ không có kinh
nghiệm.
Quản lý nguồn nước: Tình trạng thiếu nước và quản lý nguồn nước không tốt thường khiến cho
các kế hoạch về mùa vụ không đảm bảo tính chắc chắn trong quá trình thực hiện (chẳng hạn quy mô gieo
trồng 2 hay 3 vụ thâm canh…). Do thiếu cả về cơ sở hạ tầng và trình độ quản lý các công trình thủy lợi nên
rất dễ dẫn tới tình trạng ngập lụt do hệ thống tiêu nước kém hoặc tràn nước từ các kênh rạch và các con
sông. Mặt khác, việc cung cấp nước từ hệ thống tưới tiêu không đảm bảo có thể gây thiệt hại cho các loại
cây trồng vào mùa khô. Trận lũ lịch sử năm 2013 vừa qua đã gây thiệt hại khá nặng cho tỉnh Quảng Nam với
chung và về BH cây lúa nói riêng để người dân chủ động tham gia vào quá trình đề phòng, hạn chế
tổn thất. Thiếu sự hợp tác của người dân thì sẽ rất khó để triển khai sản phẩm, DNBH sẽ không thể
cắn răng chịu lỗ mãi được. Tấm gương điển hình là sự thất bại của Bảo Việt giai đoạn 1993-1998,
đến 1999 phải dừng triển khai và của Groupama Việt Nam - là tập đoàn BH lớn về nông nghiệp và
có nhiều kinh nghiệm trên thị trường quốc tế, dù đã mất nhiều năm nghiên cứu thị trường BHNN
14
Việt Nam và rút kinh nghiệm từ Bảo Việt, nhưng khi triển khai giai đoạn 2001-2005 vẫn không thể
tránh khỏi kết cục buồn, năm 2006, Groupama đã ngừng hoạt động BHNN cho các nông hộ sản xuất
nhỏ lẻ.
ii. Nên có chính sách hỗ trợ tài chính cho DNBH tham gia thực hiện BHNN. Rõ ràng, BHNN là 1 chủ
trương, chính sách lớn của Nhà nước nhằm khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất và góp phần to lớn
trong việc xóa đói giảm nghèo bền vững khu vực nông thôn. Từ đó, góp phần phát triển kinh tế địa
phương cũng như KT-XH của cả nước. Nhưng gánh nặng tài chính lại đặt lên vai của các DNBH,
điều này sẽ dẫn đến sự nản chí, không muốn tham gia hoặc là làm không có hiệu quả, như vậy thì
cũng đâu có ý nghĩa gì.
iii. Tiến hành tái cấu trúc, hiện đại hóa ngành Nông nghiệp để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển,
giá trị sản xuất gia tăng góp phần nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống của người dân, góp phần
thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của người dân. Có tiền thì người dân mới mạnh dạn
nghĩ tới nhu cầu về BH, đó là 1 sự thật hiển nhiên bởi vì hiện nay nông dân vùng lúa, đóng vai trò
chính đưa Việt Nam từ nước thiếu đói đến cường quốc xuất khẩu gạo, lại đang nghèo, sản xuất thua
lỗ, ngán ngẩm với cây lúa. Thứ nữa là công tác dồn điền đổi thửa, thực hiện mô hình cánh đồng mẫu
lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để sản xuất gặp rất nhiều khó khăn do không biết chuyển
hướng cho người nông dân làm gì, vì họ chỉ biết trồng lúa. Lực lượng LĐ của Việt Nam là trên 51
triệu người (Điều tra Lao động - Việc làm năm 2010, Tổng cục Thống kê), gần 13 triệu người trong
số đó là nông dân trồng lúa, trong khi DT lúa chỉ có khoảng 7 triệu ha. Vậy thì đất ở đâu để người
nông dân có thể sản xuất lớn?
iv. Tích cực tuyên truyền khuyến cáo mọi người dân tham gia bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý,
kiểm tra các ngành nghề, đối tượng gây ô nhiễm môi trường, nâng mức xử phạt các hành vi cố ý vi
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Làm điều này để làm gì? Tất nhiên đây là 1 biện pháp vô cùng
dài hạn, và phải cần sự chung tay của cả thế giới, không chỉ riêng tại Việt Nam. Nhưng nếu chúng ta
nông dân”.
ii. Có ý thức bảo vệ môi trường: sử dụng thuốc trừ sâu, trừ bệnh, phân bón đúng hướng dẫn, không vứt
các vỏ thuốc trừ sâu bừa bãi ngoài ruộng gây ô nhiễm nguồn nước,…
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 1: Rủi ro trong kênh phân phối sản phẩm BH cây lúa của BV
i. Kênh trực tiếp: kênh bán BH trong đó khách hàng mua sản phẩm trực tiếp từ DN thông qua việc gửi
phản hồi từ các hình thức quảng cáo (truyền hình, phát thanh, pano, báo viết, tạp chí, tờ rơi, internet,
…) hoặc mời chào qua điện thoại, fax, email, đường bưu điện. Rủi ro ở đây là khách hàng – những
người nông dân thiếu kiến thức về BH, không đủ khả năng tài chính có thể tham gia BH, họ sẽ không
quan tâm hoặc là không hiểu những thông tin mà DN truyền tải thông qua quảng cáo hay mời chào,
do đó sẽ không sẵn sàng tham gia BH. Hiện nay, kênh phân phối này được sử dụng với mục đích
tuyên truyền là chính dưới dạng kết hợp với chính quyền địa phương tổ chức các cuộc gặp mặt với
người dân để giải đáp thắc mắc và giải thích điều khoản hợp đồng.
ii. Kênh gián tiếp: BV không sử dụng môi giới, mà chỉ sử dụng đại lý. Theo thông tư 121/2011/TT-
BTC, đại lý BHNN phải được đào tạo tối thiểu là 8 giờ. Việc tổ chức đào tạo, thi và cấp chứng chỉ
đào tạo đại lý bảo hiểm thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Như vậy, rủi ro có thể là
những đại lý hiện tại ở các tỉnh triển khai thí điểm không muốn bán BHNN, do lợi nhuận thấp, công
sức phải bỏ ra lớn (việc thuyết phục người dân mua BH là rất khó) rồi còn phải học lớp đào tạo tối
thiểu là 8 tiếng hoặc là họ làm thiếu trách nhiệm, chỉ quan tâm tới doanh số, mà không chú trọng giải
thích cho người dân. Ngoài ra BV còn phối hợp với Sở NN-PTNT ở các tỉnh triển khai thí điểm tổ
chức các lớp đào tạo về đại lý bảo hiểm đến các khóm ấp trong huyện, điều này có thể mất nhiều thời
gian, công sức mà kết quả đạt được không mấy khả quan. Điển hình là ở Đồng Tháp, hết năm 2012,
BV đã đào tạo và cấp chứng chỉ được 155 đại lý tại 3 huyện, gồm Tháp Mười 76 đại lý, Tân Hồng 46
đại lý và Châu Thành 33 đại lý, nhưng số hộ thường tham gia vẫn không có nhiều thay đổi, tỷ lệ DT
lúa được BH chỉ đạt 1,25%, thấp hơn rất nhiều so với mức kỳ vọng là 5%. Hiện nay, các cấp của hội
nông dân chưa có sự tham gia vào quá trình triển khai BHNN.
Câu 2: So sánh BH cây lúa sử dụng phương pháp chỉ số với BH cây lúa theo phương pháp truyền thống
i. Bảo hiểm theo phương pháp truyền thống là bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường là lấy thiệt hại, tổn
thất của từng cá nhân hoặc từng tổ chức (dưới đây gọi chung là cá nhân) làm căn cứ để xét bồi
thường. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành giám định để xác định mức độ thiệt hại của từng cá nhân, và
4. Bản tin Bảo Việt số 3_2013 trang 26
5. Thông tin hoạt động PTI ngày 16-4-2013: />6. />cung-Vietnam-Airlines/19/3395/MediaCenterDetail/
7. Báo cáo phát triển bền vững 2012 của Tập đoàn Bảo Việt trang 6, trang 7
8. Báo cáo thường niên 2012 của Tập đoàn Bảo Việt trang 148, trang 149
9. Tham luận của BHBV và tham luận của BM, tham luận của Vinare tại: “Hội nghị tổng kết BHNN tính
đến hết 30-4-2013”
10. Danh mục các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm của Cục quản lý, giám sát bảo
hiểm
11. Bài “Ba giải pháp cấp bách cho thị trường bảo hiểm Việt Nam” (2012) trên Báo Đầu tư – Cơ quan của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
12. Bài “Thị trường Bảo hiểm Phi nhân thọ Việt Nam: Những vấn đề và tồn tại sau nửa đầu năm 2011” trên
báo Năng lượng mới (petrotimes.vn)
13. Bài “Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp bảo hiểm” trên tinbaohiem.vn (10-11-2013)
17
14. Bài “Bảo hiểm nông nghiệp: Khó đủ đường” trên baocongthuong.com.vn (27-11-2013)
15. Cơ sở dữ liệu nông nghiệp nông thôn các tỉnh năm 2012 của Vụ kế hoạch – Bộ NN&PTNT
16. Bảng tổng hợp kết quả thí điểm BHNN tính đến hết 30-4-2013 của BTC
17. Bài “Giảm 2 triệu ha lúa, nông dân sẽ giàu lên” trên báo Tuổi trẻ ( />ArticleID=557913)
18