Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức của doanh nghiệp việt nam trên trường quốc tế - Pdf 13

Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
1. Các nguyên tắc áp dụng trong quan hệ kinh tế quốc tế 3
1.1. Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) 3
1.2. Chế độ đối xử quốc gia (NT) 4
1.3. Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) 5
2. Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam trước
ngưỡng cửa hội nhập quốc tế 8
2.1. Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam 8
2.1.1 Thành công 8
2.1.2 Hạn chế 12
2.2. Đặc điểm các doanh nghiệp Việt Nam 14
2.2.1 Thành công 14
2.2.2 Hạn chế 16
3. Cơ hội và thách thức khi Việt Nam thực thi đầy đủ các nguyên tắc sau
khi gia nhập WTO 19
3.1 Thách thức 20
3.2 Cơ hội 22
4. Các giải pháp để nắm bắt cơ hội và loại trừ những khó khăn thách thức
24
Lời kết 28
Tài liệu tham khảo 29
1
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại,
Việt Nam đã và đang dần dần từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
thế giới thể hiện qua việc gia nhập WTO. Quá trình hội nhập đó đòi hỏi việc xây

chế độ thương mại thuận lợi nhất mà quốc gia sở tại có thể dành cho hàng hoá
nhập khẩu đối tác thương mại của mình. Quy chế này mang tính chất có đi có
lại. Nói cách khác đó là "chế độ đối xử bình đẳng giữa những thực thể được ưu
đãi".
Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại hiện đại, quy chế Tối huệ quốc mang
ý nghĩa chuẩn mực của sự đối xử ưu đãi mà một quốc gia phải dành cho các đối
tác thương mại của mình. Nói cách khác, quốc gia phải bảo đảm dành cho tất cả
các quốc gia đối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi như nhau. Năm
1948, quy chế này chính thức được GATT (Hiệp định chung về thuế quan và
mậu dịch) đưa vào điều 1 của GATT, nay tổ chức này đổi tên là Tổ chức mậu
dịch quốc tế (WTO), coi đây là cơ sở quan trọng kêu gọi các nước hội viên cho
nhau hưởng chế độ tối huệ quốc để thúc đẩy buôn bán giữa các nước hội
viên.Trong các điều ước quốc tế về thương mại cũng như luật thương mại quốc
gia, đãi ngộ tối huệ quốc thường được thể hiện dưới dạng quy định yêu cầu các
sản phẩm hàng hoá dịch vụ có xuất xứ từ một quốc gia đối tác được hưởng chế
độ thương mại "không kém ưu đãi hơn chế độ ưu đãi nhất" mà quốc gia sở tại
dành cho các những sản phẩm hàng hoá dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia
nào khác. Với sự tồn tại của chế độ đãi ngộ tối huệ quốc, các quốc gia sẽ được
bảo đảm rằng quốc gia đối tác thương mại của mình sẽ không dành cho quốc gia
khác chế độ thương mại ưu đãi hơn, qua đó triệt tiêu lợi thế cạnh tranh tự nhiên
của họ đối với sản phẩm hàng hoá dịch vụ cụ thể trong cạnh tranh với các quốc
gia liên quan đó.
• Định nghĩa
Nguyên tắc Tối huệ quốc (Most Favourde Nation Rule-MFN) là nguyên tắc
truyền thống trong quan hệ kinh tế quốc tế và phổ biến nhất trong lĩnh vực
thương mại. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản được áp dụng đối với
quan hệ thương mại hàng hoá, quan hệ thương mại dịch vụ, quan hệ đầu tư, việc
tạo thuận lợi cho kinh doanh.
3
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức

cho nước khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện ràng buộc nào
cả.
1.2.Chế độ đối xử quốc gia (NT)
• Định nghĩa
Là nguyên tắc quan trọng được quy định trong nhiều hiệp định thương mại
song phương và đa phương, cùng với nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN)
tạo nên nguyên tắc cơ bản không phân biệt đối xử của WTO.
4
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
Nguyên tắc này đòi hỏi những sản phẩm nước ngoài và nhiều khi cả các
nhà cung cấp nước ngoài được đối xử trên thị trương nội địa không kém ưu đãi
hơn (ngang bằng) so với sản phẩm nội địa cùng loại và các nhà cung cấp nội địa.
• Bản chất
Nguyên tắc đối xử quốc gia được hiểu là sự đối xử bình đẳng giữa các đối
tượng trong nước với các đối tượng tương tự của nước thành viên khác. Nguyên
tắc đối xử quốc gia áp dụng trong thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và
sở hữu trí tuệ.
• Cơ chế thực thi
Nguyên tắc đối xử quốc gia chỉ được áp dụng một khi một sản phẩm, dịch
vụ hay quyền sở hữu trí tuệ nào đó đã vào thị trường nội địa. Chính vì thế, việc
đánh thuế quan đối với một loại hàng nhập khẩu không được coi là vi phạm
nguyên tắc này cho dù các sản phẩm sản xuất trong nước không phải chịu loại
thuế tương đương nghĩa là bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua
biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào
thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn)
với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước.
1.3.Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP)
• Lịch sử hình thành và phát triển
GSP là hệ thống ưu đãi về thuế quan do các nước công nghiệp phát triển

- Tạo điều kiện để các nước đang phát triển thấy được khả năng tiềm tàng
về mở rộng buôn bán phát sinh từ chế độ GSP và tăng cường khả năng sử dụng
chế độ này.
- Tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước được hưởng.
- Thúc đẩy công nghiệp hoá của các nước này.
- Đẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế của những nước này.
- Phổ biến thông tin về các quy định và thủ tục điều chỉnh buôn bán theo
chế độ này.
- Giúp đỡ các nước được hưởng thiết lập những điểm trọng tâm trong nước
để tăng cường sử dụng GSP.
- Cung cấp thông tin về các quy định liên quan đến thương mại như thuế
chống phá giá và chống bù giá, các quy định hải quan, thủ tục giấy phép nhập
khẩu, và pháp luật thương mại khác quy định các điều kiện thâm nhập thị trường
các nước cho hưởng.
Chế độ ưu đãi phổ cập mới không có giới hạn ưu đãi. Các hạn ngạch trước
kia, khối lượng xác định được miễn thuế hoặc các mức trần hạn chế khối lượng
hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi đã được loại bỏ. Miễn giảm thuế được điều
chỉnh theo mức độ nhạy cảm của sản phẩm mà đã được chia làm bốn loại sau:
- Các sản phẩm rất nhạy cảm: ví dụ như dệt may, quần áo
- Các sản phẩm nhạy cảm: ví dụ như sản phẩm da, giày dép
- Các sản phẩm bán nhạy cảm: đồ trang sức, hàng điện tử và một số hàng
da
- Các sản phẩm không nhạy cảm: nội thất bằng gỗ, đồ chơi, trò chơi, hàng
thể thao.
• Cơ chế thực thi
6
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
Nước cho hưởng ưu đãi GSP:
Những nước đang có chế độ ưu đãi phổ cập:

biến ở những nước xuất khẩu được hưởng.
Một mục đích nữa là những sản phẩm xuất xứ ở một nước thứ ba, ví dụ là
một nước không được hưởng, chỉ quá cảnh qua, hoặc đã chỉ trải qua một giai
đoạn chế biến không đáng kể hoặc không ảnh hưởng tới thành phần, bản chất
7
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
của sản phẩm tại một nước được hưởng ưu đãi, sẽ không được hưởng ưu đãi từ
chế độ thuế quan GSP.
Điều kiện vận tải:
Quy định bắt buộc sản phẩm có xuất xứ phải được vận chuyển thẳng từ
nước được hưởng đến nước cho hưởng là một vấn đề quan trọng phổ biến của
tất cả các quy tắc xuất xứ GSP trừ của Úc. Mục đích của quy định này là cho
phép cơ quan hải quan nước cho hưởng nhập khẩu bảo đảm rằng sản phẩm nhập
khẩu chính là những sản phẩm từ nước được hưởng, có nghĩa là chúng không bị
tác động, thay thế, gia công chế biến thêm hoặc được đưa vào buôn bán tại bất
kỳ nước thứ ba trung gian nào.
Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ:
Việc đòi ưu đãi từ chế độ GSP phải được chứng minh bằng chứng từ phù
hợp về xuất xứ và vận tải
Mức độ ưu đãi
Các nước cho hưởng ưu đãi quy định thuế suất ưu đãi cho chế độ GSP dựa
trên mức thuế suất của chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN).
Nhìn chung, thuế suất ưu đãi theo chế độ GSP ở mức thấp khoảng vài phần
trăm hoặc được miễn hoàn toàn.
Cơ chế bảo vệ
Với ưu đãi thuế quan GSP được hưởng, hàng hoá của các nước được hưởng
sẽ có thêm ưu thế trong thị trường nứơc nhập khẩu. Tuy nhiên, hàng hoá này sẽ
tạm thời không được hưởng ưu đãi thuế quan GSP nữa trong một số trường hợp
nhất định. Khi một hàng hoá nhập khẩu theo GSP ảnh hưởng đến công nghiệp

hóa của Việt Nam đã thâm nhập tốt hơn, đứng vững hơn trong các thị trường lớn
như Hoa Kỳ, EU,
• Do việc điều chỉnh chính sách kinh tế theo các cam kết quốc tế, môi
trường kinh doanh và đầu tư trở nên thông thoáng và minh bạch hơn, dẫn đến
việc gia tăng luồng vốn FDI vào Việt Nam. Năm 2007, Việt Nam đã thu hút
trên 20,3 tỷ USD, tăng 69,2% so với năm 2006. Sang năm 2008, dù tình hình
kinh tế thế giới xấu đi, nhưng vốn FDI cam kết đã đạt hơn 64 tỷ USD, gấp gần
ba lần năm 2007. Ðiều này phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào
tiến trình hội nhập, mở cửa thị trường, cũng như vào triển vọng và tiềm năng
phát triển kinh tế của Việt Nam, tin tưởng vào sự ổn định chính trị, xã hội và
những quyết sách tích cực và hiệu quả của Chính phủ Việt Nam trong việc đối
phó với cơn khủng hoảng tài chính hiện nay. Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm 2008, nhưng GDP vẫn đạt mức tăng trưởng
khoảng 6,5%, tuy có giảm hơn so với năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài tăng
rất mạnh trong năm 2007, năm 2008, số vốn đăng kí đạt gần 64 tỉ USD.
• Việc mở cửa thị trường dịch vụ theo cam kết WTO góp phần phát triển
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nâng cao trình độ công nghệ cho các nhà sản xuất, dẫn
tới việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Mặt khác, thông qua việc liên
doanh, hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cũng được tăng
cường thêm về vốn, trình độ quản lý, nhân sự và phát triển công nghệ.
• Ngành công nghiệp Việt Nam đã phát triển theo hướng tích cực, sản xuất
công nghiệp đạt năng suất tương đối cao: Năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp
đạt trên 574 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với 2006; Năm 2008 ước đạt 650
nghìn tỷ đồng tăng 14,6% so với năm 2007; Các ngành sản xuất sử dụng nhiều
lao động như thủy sản, may mặc, giày dép, đồ nội thất, thủ công cũng có tốc độ
tăng trưởng cao.
9
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
• Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm

Nam thuận lợi hơn trong các vụ kiện do ta có thể phối hợp với các nước thành
viên WTO khác có chung lợi ích để có tiếng nói chung.
Sự gia tăng nhập khẩu cũng là một tác động của việc gia nhập WTO, tổng
kim ngạch nhập khẩu năm 2007 đạt 62,68 tỷ USD, tăng 39,6% so với năm 2006;
năm 2008 đạt 79,9 tỷ USD, tăng 27,5% so với năm 2007. Nhập khẩu tăng mạnh
do tăng trưởng cao, nhu cầu đầu tư lớn, nguồn vốn FDI nhiều và bản thân cơ cấu
kinh tế (như đòi hỏi đầu vào nhập khẩu lớn cho xuất khẩu và sản xuất nói
chung) và giá quốc tế các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu trên thị trường thế giới
tăng cao.
10
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
Trong một nền kinh tế hiện đại, dịch vụ ngày càng trở nên một thành phần
quan trọng. Từ năm 2000-2008, dịch vụ đã đóng góp trung bình 38,3% vào
GDP. Mở cửa thị trường dịch vụ, Việt Nam cải cách thể chế đem lại môi trường
thuận lợi hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ, đem lại cơ sở hạ tầng kỹ thuật, công
nghệ cao hơn cho các nhà sản xuất, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Ngày
càng có nhiều nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tham gia vào thị trường Việt
Nam sẽ mang đến nhiều cơ hội hợp tác hơn cho các doanh nghiệp, nên các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ vốn, nhân sự và công nghệ thông
qua việc hợp tác này. Việt Nam cũng phát huy được lợi thế trong các ngành dịch
vụ sử dụng trình độ kỹ thuật và chuyên môn cao. Tuy nhiên, cam kết mở cửa thị
trường ở một số ngành dịch vụ có thể ảnh hưởng đến thu nhập và việc làm của
người lao động. Các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, đặc biệt các hộ gia đình
kinh doanh bán lẻ, có thể sẽ bị các tập đoàn bán lẻ cạnh tranh.
• Tác động vào lĩnh vực công nghiệp khi tham gia vào WTO là chính sách
quản lý kinh tế của Việt Nam trở nên minh bạch hơn, giảm phân biệt đối xử giữa
các thành phần kinh tế, làm cho lĩnh vực công nghiệp đạt tỷ lệ tăng trưởng cao,
đóng góp 8,48% vào GDP năm 2007, cao hơn năm 2006 và đứng thứ 2 khu vực
Đông Nam Á. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã xoá bỏ các biện pháp

đạt được những chỉ tiêu kinh tế đáng khích lệ. Hoạt động xuất nhập khẩu vẫn
tiếp tục khởi sắc, duy trì tăng trưởng cao, năm 2008 dự kiến xuất khẩu xấp xỉ 63
tỉ USD, tăng trên 29,5% so với 2007, nhập khẩu ước đạt 79,9 tỉ USD, tăng
27,5% so với 2007. 10 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch trên 1 tỉ
USD như: Dệt may, cà phê, cao su, thủy sản, dầu thô, giầy dép, điện tử và linh
kiện điện tử, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, tiếp tục được giữ vững;
đồng thời mặt hàng dây điện và cáp điện cũng có khả năng trở thành thành viên
của “câu lạc bộ 1 tỉ USD” này.
2.1.2. Hạn chế
Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới đã tác động lớn đến kinh tế-xã
hội của Việt Nam, đem lại những kết quả như mong muốn: tăng GDP, tăng
trưởng xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành dịch vụ. Tuy nhiên,
bên cạnh những thành tựu này còn có những mặt tồn tại, hạn chế buộc chúng ta
phải xem xét một cách đầy đủ hơn.
• Về năng lực thể chế đã có những chuyển biến tích cực nhưng cần phải
tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho phù hợp với cam kết gia nhập WTO
và các chuẩn mực kinh tế thị trường, một số văn bản phát luật hướng dẫn thực
hiện các cam kết gia nhập WTO chưa được ban hành kịp thời, chưa rõ ràng
khiến cho việc thực hiện các cam kết còn khó khăn. Các yếu tố này đã gây khó
khăn nhất định cho cơ quan quản lý, cấp phép đầu tư cũng như một số doanh
nghiệp, nhà đầu tư muốn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Sự phối hợp giữa
các bộ, ngành nhiều khi còn chưa chặt chẽ, nhất quán và kịp thời; Lạm phát cao,
nhập siêu lớn và sự xuất hiện những dấu hiệu dễ bị tổn thương của hệ thống tài
chính-ngân hàng là những vấn đề phức tạp nước ta đang phải đối phó. Vấn đề
bất ổn kinh tế vĩ mô đang trở thành đòi hỏi cấp thiết.
• Ngành công nghiệp chủ yếu vẫn là sơ chế, gia công với giá trị gia tăng
chưa cao và còn phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu. Chủng loại hàng hoá
còn đơn điệu, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn yếu. Năng
suất lao động trong nông nghiệp còn thấp vì sự dư thừa lao động do chuyển dịch
lao động sang công nghiệp và dịch vụ chưa mạnh mẽ. Đời sống người nông dân

USD/tấn; giá gạo và giá cao su của chúng ta cũng trong tình trạng tương tự. Giá
gạo của Việt Nam năm 1998 là 289 USD/tấn trong khi giá gạo của Thái Lan là
393,3 USD/tấn cao hơn mức giá chung của thế giới là 347 USD/tấn. Điều này, là
do khâu chế biến và tiếp thị sản phẩm của chúng ta còn yếu kém. Chính sự yếu
kém trong các khâu này dẫn đến sự thua thiệt không đáng có của hàng hoá Việt
Nam.
• Việt Nam hội nhập nền kinh tế thế giới trong làn sóng cuối cùng của thế
kỷ XX, chính yếu tố thời gian này đã đặt ra một thách thức lớn. Đó là chúng ta
phải cùng lúc tham gia hai quá trình cạnh tranh: cạnh tranh với các nước phát
triển và cạnh tranh với các nước đang phát triển. Nếu các thập kỷ trước, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singgapore, Hồng Công tham gia hội nhập mà ít phải
tính đến các yếu tố cạnh tranh với các nước đang phát triển (điều này đã giúp họ
trong việc tận dụng ưu thế về nguồn lao động rẻ mạt, cần cù, năng suất lao động
cao để đánh bại hàng hoá của các nước phát triển vốn phải thuê lao động tương
đương, thậm chí là kém hơn), đồng thời các nước này có thể sử dụng mạnh mẽ
các hàng rào bảo hộ thuế quan và phi thuế quan để phát triển nền công nghiệp
trong nước thì đến đợt hội nhập lần này, chúng ta gặp phải khó khăn hơn gấp
13
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
nhiều lần. Việt Nam phải tham gia vòng xoáy cạnh tranh "song trùng", lại phải
dỡ bỏ trong một thời gian ngắn các rào cản thương mại. Trước mắt, đến năm
2006, hàng rào thuế quan của nước ta với các nước ASEAN đối với hàng công
nghiệp chế biến sẽ giảm xuống còn 5%, hàng rào phi thuế quan sẽ bãi bỏ. Hiệp
định Thương mại Việt - Mỹ được Quốc hội hai bên thông qua quy định các hàng
rào thương mại và đầu tư sẽ phải giảm thiểu trong vòng 10 năm tới. Điều này
tạo sức ép không nhỏ cho hàng hoá Việt Nam khi hàng hoá từ các nước đang
phát triển tràn vào. Hơn nữa, khả năng cạnh tranh của Việt Nam thấp hơn nhiều
so với một số nước đang phát triển trong cùng khu vực (Thái Lan, Malaixia,
Philippin). Do vậy, các ngành sản xuất của ta cần chú trọng đến việc chiếm lĩnh

Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
2007. Nhìn chung, xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc các ngành hàng đều
tăng rõ rệt.
- Hàng hóa của Việt Nam có cơ hội thâm nhập được thị trường các nước
thành viên WTO thuận lợi hơn do thị trường được mở rộng và không bị phân
biệt đối xử; có điều kiện tiếp cận với các nguồn tín dụng, công nghệ hiện đại,
các loại hình dịch vụ, vật tư, nguyên liệu.
- Môi trường kinh doanh trong nước đã được cải thiện theo hướng thuận lợi
và minh bạch hơn. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính đã có tác động tích cực
đối với phát triển các doanh nghiệp mới ở hầu hết các ngành hàng. Việc phát
triển hệ thống ngân hàng và bảo hiểm cũng như mở ra các kênh tài chính tạo cơ
hội lựa chọn tiếp, cận tài chính tốt hơn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu, các
doanh nghiệp thuộc các ngành ưu tiên như đóng tàu hay phát triển năng lượng
mới.
- Việc mở cửa thị trường nội địa, cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế đối
với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đã tạo điều kiện
cho nhiều mặt hàng đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với
mức giá hợp lý hơn, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ được cung cấp
nguồn lực tốt hơn.
Cơ hội đối với Việt Nam khi gia nhập WTO cơ bản đã nhìn thấy rõ. Đó là
mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế-thương mại,
tăng thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài; là cơ hội cho các doanh nghiệp
Việt Nam tham gia vào sân chơi chung toàn cầu vừa là động lực và áp lực buộc
doanh nghiệp phải thích nghi và phát triển
Giải thưởng Sao Vàng đất Việt được xét trao tặng hàng năm cho các
thương hiệu, sản phẩm tiêu biểu của Việt Nam có thể so sánh và cạnh tranh với
thế giới, qua đó Vinh danh các doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu khuyến khích,
động viên và định hướng cho các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến công tác

biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là
các DN hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu
kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát
triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin. Một số chủ DN mở
công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức
và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại.
Thứ hai: năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các DNVVN. So sánh giữa sản phẩm trong
nước với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, thì các
sản phẩm sản xuất của các DN Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25
lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu
vực.
Thứ ba: Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém. Quy mô vốn
và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của nhiều
DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. Số lượng DN
nhỏ và vô cùng nhỏ chiếm tỷ lệ khá cao. Việt Nam có hơn 72. 000 DN đang
hoạt động, số lượng có tăng lên nhưng quy mô chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ. Số
DN có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 44,1%, quy mô lao động dưới 10 người
chiếm 46,6%. Nếu so sánh năm 2004 với năm 2000, số vốn và số lượng lao
động bình quân trong mỗi DN đã giảm từ 26 tỷ đồng và 84 lao động xuống còn
24 tỷ đồng và 72 lao động (theo số liệu của Tổng cục Thống kê).
16
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
Thứ tư: Nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế. Một số khá lớn
DNVVN còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt
là các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá
và sở hữu công nghiệp. Tình trạng các DNVVN bị các cơ quan chức năng phàn
nàn, xử phạt vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ biến. Nguyên nhân
của tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc nhận thức,

hiện tại là một dịch vụ đem nhiều lợi nhuận lớn lao. Vì cánh và đùi gà Mỹ giá
rất rẽ $0.2/bls ( vì người Mỹ không thích ăn) , khi nhập vào VN có thể bán ra
$1,5/kg.
17
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
- Các kỹ nghệ đơn giản khác như xe đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội thất
sẽ không còn khả năng cạnh tranh với hàng TQ nếu chưa nói đến các nhà sản
xuất lớn như ở HK, Pháp, Ý Những mặt hàng rất bắt mắt và được người VN
ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lý ưa chuộng hàng ngoại quốc của người VN sẽ
giết chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi chung. Và mặt trái
của WTO có thể biến VN thành một thị trường tiêu thụ của quốc tế hơn là một
thị trường sản xuất.
Quy mô của doanh nghiệp chủ yếu là vừa và nhỏ, năng lực tài chính còn
yếu kém, kỹ năng và kiến thức chuyên sâu về quản lý trong môi trường cạnh
tranh quốc tế còn có hạn, thiếu sự liên kết và chỉ tham gia được vào các khâu có
giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với hầu hết các ngành
hàng, nên phải lệ thuộc nhiều vào các trung gian thương mại nước ngoài. Năng
lực nghiên cứu và thiết kế, khả năng đổi mới công nghệ của hầu hết các doanh
nghiệp còn rất hạn chế, lực lượng lao động có trình độ cao không đủ đáp ứng
nhu cầu phát triển. Theo bà Phạm Chi Lan, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ
tướng cho biết từ một cuộc khảo sát mới đây diễn ra ngay tại TPHCM, trung tâm
kinh tế lớn nhất nước cho thấy: 95% DN được hỏi nói rằng họ không biết WTO
là gì! Số còn lại phần lớn đều chỉ hiểu một cách rất mơ hồ.
Các doanh nghiệp phải đối mặt với các quy định về thực thi quyền sở hữu
trí tuệ, tuân thủ các quy định về nhãn mác và xuất xứ hàng hóa, bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Mặc dù các hàng rào phi thuế quan được cắt giảm đối với một số mặt
hàng và một số thị trường như hạn ngạch xuất khẩu ngành dệt may vào thị
trường Hoa Kỳ và EU…, nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với các hàng rào kỹ
thuật mới ngày càng tinh vi hơn theo quy định riêng của một số nước. Các mặt

càng được cải thiện.
Ba là, gia nhập WTO, Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thành
viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội đấu
tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều
kiện bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp.
Bốn là, việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc
đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của Việt Nam
đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.
Năm là, cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi
mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều
kiện cho Việt Nam triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại.
Về những thách thức, gồm bốn vấn đề lớn
Một là, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên
bình diện rộng hơn, sâu hơn.
Hai là, trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng
đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi
quốc gia sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được
hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ
phá sản một phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá
giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh
xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ chương của Đảng:
“Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.
Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên.Trong điều kiện tiềm lực đất nước có
19
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị
trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ.

chưa cao, khả năng cạnh tranh thấp. Công nghệ sản xuất ở mức trung bình thấp,
các doanh nghiệp chỉ đầu tư công nghệ, trang thiết bị theo từng giai đoạn nên
chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất
khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3.1.Thách thức
Nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tự vệ.
20
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
Việc gia nhập WTO một mặt làm tăng cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt
là sang các thị trường đang áp dụng các hạn ngạch đối với Việt Nam, nhưng một
mặt cũng kèm theo nguy cơ bị các thành viên, đặc biệt là các thành viên lớn như
Hoa Kỳ, EU áp dụng biện pháp tự vệ.
Trung Quốc là một bài học về vấn đề này. Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt
may Trung Quốc – nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới – đang bị ảnh
hưởng mạnh do Hoa Kỳ và EU đã và sẽ áp đặt hạn ngạch hoặc tái áp đặt hạn
ngạch đối với nhiều mã hàng theo điều khoản tự vệ Trung Quốc đã nhân nhượng
khi gia nhập WTO. Theo ước tính, những biện pháp hạn chế của Hoa Kỳ trong
thời gian gần đây đã làm giảm tới 30% xuất khẩu của Trung Quốc vào thị
trường này và Trung Quốc đang bị giảm thị phần tại Hoa Kỳ đối với nhiều mã
hàng. Mặc dù so với Trung Quốc, ngành dệt may Việt Nam có năng lực chỉ
bằng 1/50 và hiện chỉ chiếm 3% thị phần hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ.
Mặt khác, Việt Nam đa phần chỉ xuất khẩu hàng may sẵn nên không ảnh hưởng
đến ngành công nghiệp dệt của Hoa Kỳ. Tuy nhiên không loại trừ khả năng khi
lượng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh sau khi gia nhập, Hoa
Kỳ và một số thành viên khác sẽ áp dụng biện pháp tự vệ với hàng dệt may Việt
Nam, từ đó có khả năng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao và ảnh hưởng xấu tới ngành
dệt may do đặc thù của ngành là thời gian từ khi ký kết hợp đồng – thu xếp vải,
nguyên phụ liệu – sản xuất, giao hàng kéo dài từ 4-5 tháng. Việc các nước nhập
khẩu có quyền áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng dệt may vào bất cứ

Chính phủ, do đó sẽ bị ảnh hưởng sau khi Việt Nam gia nhập. Tuy nhiên, mức
độ ảnh hưởng cụ thể còn tùy thuộc vào khả năng chủ động, lường trước khó
khăn và chủ động điều chỉnh chính sách sản xuất và xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp.
3.2.Cơ hội
Mở rộng thị trường, tăng quy mô sản xuất từ đó hưởng tính lợi ích kinh tế nhờ
quy mô
Khi Việt nam gia nhập WTO, các thành viên WTO sẽ phải bãi bỏ hạn
ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam (đây là một yêu cầu của WTO như đã
được phân tích ở trên). Hoa Kỳ hiện đang là một thị trường xuất khẩu lớn nhất
của Việt Nam về mặt hàng này (chiếm hơn 50%) thị phần nhưng lại đang áp đặt
hạn ngạch với ta. Khi ta gia nhập, thị trường lớn nhất này sẽ buộc phải bãi bỏ
hạn ngạch, do đó, ta có nhiều cơ hội đẩy mạnh lượng hàng xuất khẩu sang thị
trường này. Thêm vào đó, các thị trường khác như EU sẽ không có cơ hội áp đặt
hạn ngạch như đã làm trước đây, từ đó đảm bảo tính ổn định hơn cho thị trường
dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, việc tăng này cũng có khả năng đi kèm với nguy
cơ bị kiện bán phá giá và viện dẫn áp đặt tự vệ như đã trình bày ở trên.
Giảm chi phí xuất khẩu gắn với việc phân bổ hạn ngạch, từ đó làm tăng khả
năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu
Theo tính toán, việc phân bổ hạn ngạch dệt may theo Hiệp định ATC đã
làm tăng chi phí xuất khẩu cho doanh nghiệp. Chi phí này chiếm một tỷ trọng
đáng kể trong tổng chi phí xuất khẩu và đối với Việt nam, chi phí do hạn ngạch
sinh ra đối với mặt hàng dệt xuất khẩu sang US/Canada chiếm 6.9% tổng chi
phí, đối với mặt hàng may mặc vào 2 thị trường này là 7.1% và chi phí do hạn
ngạch sinh ra khi xuất khẩu sang EU đã là 7.5% đối với mặt hàng dệt và 7.2%
đối với mặt hàng may mặc. Như vậy, khi gia nhập WTO, với việc các thành viên
WTO phải bỏ hạn ngạch đối với Việt Nam, hàng dệt may xuất khẩu của Việt
Nam sẽ có điều kiện giảm giá xuất khẩu do không phải mất chi phí do việc cấp
hạn ngạch gây ra.
22

Các doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi hơn trong thủ tục xuất khẩu, từ đó tăng
kim ngạch xuất khẩu
Cơ chế hạn ngạch làm nảy sinh những vấn đề xã hội như nạn tham nhũng,
tiêu cực và sách nhiễu doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp
có năng lực sản xuất và chất lượng hàng hóa tốt lại không có cơ hội xuất khẩu
do không có hạn ngạch. Việc xóa bỏ hạn ngạch của các nước đối với Việt Nam
khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ góp phần giải quyết dứt điểm tình trạng này, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trong việc xuất khẩu hàng
dệt may và góp phần nâng cao uy tín về chất lượng hàng dệt may trên thị trường
thế giới.
Hệ thống luật pháp trở nên thuận lợi hơn đối với các hoạt động kinh doanh và
doanh nghiệp dệt may được bảo vệ bởi các công cụ giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế
23
Các giải pháp để loại trừ và nắm bắt những khó khăn thách thức
của các Doanh nghiệp Việt Nam
Theo nguyên tắc minh bạch hóa chính sách, trong quá trình gia nhập WTO,
Việt Nam phải minh bạch hoá toàn bộ các chính sách liên quan đến thương mại
của mình và thông báo các kế hoạch hành động để tuân thủ dần dần các nguyên
tắc của WTO. Thông qua quá trình này, khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về
ngành dệt may sẽ minh bạch hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế tạo môi trường
kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh và khuyến khích thương mại, đầu tư
cũng như hợp tác về các vấn đề khác với cộng đồng quốc tế.
Khi Việt nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp có khả năng phải đối mặt
nhiều hơn với các vụ kiện chống bán phá giá. Tuy nhiên, việc gia nhập sẽ giúp
các doanh nghiệp được giải quyết thỏa đảng hơn theo cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO, hạn chế tình trạng áp đặt đơn phương như hiện nay.
Tạo điều kiện thuận lợi hơn để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh
thuận lợi, và nhờ đó, sẽ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực

các quy định về quản lý ngoại hối; cải cách hệ thống kế toán ngân hàng phù hợp
chuẩn mực kế toán quốc tế; hoàn thiện các quy định về thanh toán không dùng
tiền mặt; quy định về các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng mới (quản lý tài sản
tài chính, quản lý danh mục đầu tư, các dịch vụ uỷ thác, dịch vụ ngân hàng điện
tử, dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, cung cấp và xử lý thông tin tài
chính, tư vấn về đầu tư và danh mục đầu tư, về mua lại và tái cơ cấu doanh
nghiệp…)
Thứ hai, nâng cao năng lực của ngân hàng nhà nước về điều hành chính
sách tiền tệ; tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành các công cụ chính sách tiền tệ,
nhất là các công cụ gián tiếp; gắn điều hành tỷ giá với lãi suất theo cơ chế thị
trường; xác định trách nhiệm của ngân hàng nhà nước trong điều hành chính
sách tiền tệ, nâng cao tính công khai, minh bạch trong điều hành chính sách tiền
tệ
Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại: lành
mạnh hoá và nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng thương mại, xử lý
xong về căn bản nợ đọng của các ngân hàng thương mại nhà nước; tăng vốn tự
có theo các phương án đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt; tiến hành cổ
phần hoá ngân hàng ngoại thương và ngân hàng nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long
và các ngân hàng thương mại khác; phát triển nguồn nhân lực; hiện đại hoá công
nghệ; nâng cao hiệu lực quản lý và tăng cườn năng lực quản trị rủi ro, mở rộng
và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác phổ biến thông tin, tuyên truyền về hội nhập
kinh tế quốc tế, nhất là cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực dịch
vụ ngân hàng, thông qua các hình thức khác nhau như tổ chức các buổi họp báo,
thuyết trình, cung cấp thông tin cho báo chí và định kỳ công bố các chương
trình, kế hoạch hành động của các ngành liên quan việc thực thi các cam kết
song phương và đa phương.
Hướng tới chuẩn mực quốc tế
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang hướng các sản phẩm của
mình tới tiêu chuẩn quốc tế bằng cách đổi mới công nghệ, áp dụng phương thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status