Những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án ODA và các bài học kinh nghiệm từ các ban quản lý dự án - Pdf 13

Những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện
dự án ODA và bài học kinh nghiệm từ các Ban Quản lý dự
án.
1. CÁC THAM CHIẾU:
- Nghò đònh 17/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2001 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế
Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
- Hiệp đònh vay ADB-1273(SF) và các hướng dẫn của Nhà tài trợ.
- Nghò đònh 52/1999/NĐ-CP ngày 08/71999, Nghò đònh 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 và
Nghò đònh 07/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ về việc ban hành và sửa đổi, bổ
sung Quy chế Quản lý Đầu tư và xây dựng của Chính phủ.
- Nghò đònh 88/1999/NĐ- CP ngày 01/9/1999, Nghò đònh 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000
và Nghò đònh 66/NĐ-CP ngày 12/6/2003 của Chính phủ về việc ban hành và sửa đổi, bổ
sung Quy chế Đấu thầu.
- Quyết đònh số 18/2003/QĐ-BXD ngày 27/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc
ban hành Quy đònh quản lý chất lượng công trình xây dựng.
- Các Quyết đònh của cấp có thẩm quyền về việc phê duyệt hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn
đánh giá hồ sơ dự thầu, kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu và phê duyệt nội dung hợp đồng.
- Thư không phản đối hoặc phê duyệt của Nhà tài trợ.
- Các văn bản pháp luật khác và các quy đònh liên quan khác về đền bù giải toả (bao gồm
các quy đònh của các chủ sở hữu/ chủ quản lý công trình ngầm khác), thuế các loại, xuất
nhập khẩu, thông quan, thanh quyết toán, đào đường/ đảm bảo giao thông, môi trường,…
2. VỀ NGHỊ ĐỊNH 17/2001/NĐ-CP NGÀY 04/5/2001, ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ CÁC
QUY ĐỊNH LIÊN QUAN KHÁC:
2.1. Các khái niệm, đònh nghóa chung
Khái niệm hài hòa thủ tục (Điều 2- Những nguyên tắc cơ bản- NĐ17).
- Về khách quan: Do sự khác nhau của hệ thống luật lệ qui đònh của Việt Nam và các điều
ước quốc tế nên trong thực tế có xung đột pháp luật, không thể có sự thống nhất về các quy
đònh về đầu tư xây dựng giữa các quốc gia thành viên với nhà tài trợ, cũng như giữa các quốc
gia thành viên với nhau.
- Về chủ quan: Có ý chí chủ quan của người thừa hành, vận dụng các quy đònh pháp luật.
Các nguyên tắc và qui đònh của Chính phủ liên quan đến việc thực hiện những dự án có tài trợ

xét, trả lời các đề nghò của chủ dự án rất nhanh; trong khi đó, phía Việt Nam lại mất rất nhiều
thời gian cho việc thẩm duyệt. Do vậy, nếu có ý kiến khác nhau về kết quả đấu chọn thầu thì
hậu qủa rất khó khắc phục, sửa chữa. Cần có lộ trình gỉai quyết trường hợp có bất đồng về kết
quả đấu chọn thầu giữa chủ dự án, tư vấn, nhà tài trợ để Ban QLDA mạnh dạn, tự tin đề xuất
xử lý tình huống.
- Giải ngân: Cần phải thiết lập khung pháp lý phân đònh các nội dung trách nhiệm của các cơ
quan liên quan trong việc giải ngân trước khi thực hiện dự án, và thẩm quyền ra quyết đònh cần
được trao cho Cơ quan chủ quản và Ban QLDA đến mức có thể. Những chậm trễ trong việc
thanh toán cho nhà thầu cơ bản do thủ tục phức tạp, mất thời gian và cơ chế kiểm tra bắt buộc
từ cấp thành phố đến bộ ngành trung ương. Các thủ tục và cơ chế này cần được đơn giản hơn.
2
- Điều chỉnh dự án: Điều 31- Nghò đònh 17 quy đònh việc Điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nội
dung chương trình dự án ODA:Thực tế cho thấy, khâu thẩm duyệt của phía Việt Nam mất rất
nhiều thời gian. Đối với dự án ODA, cần tiếp cận cách thức xử lý của nhà tài trợ: giao cho
chuyên gia theo dõi dự án chòu trách nhiệm trình theo cơ chế cá nhân chuyên gia này hoàn
tòan chòu trách nhiệm và ra quyết đònh nhanh chóng.
- Cơ chế phối hợp giữa nhà tài trợ và Nhà nước Việt Nam: Trong quá trình thực hiện dự án
thường rất tốt trên bàn họp nhưng khi triển khai thực hiện thì nội bộ phía Việt Nam bắt buộc
phải triển khai theo đúng quy đònh trong nước, mất nhiều thời gian. Cần điều chỉnh, bổ sung
chức năng, quyền hạn của Ban Điều phối/ Chỉ đạo thực hiện dự án (PICC) theo hướng tăng
quyền hạn giải quyết các vấn đề nảy sinh, trở ngại của Dự án.
2.3. Qui trình theo dõi và đánh giá dự án
Thủ tục báo cáo, đánh giá dự án: Đã có nhiều báo cáo đánh giá lợi ích dự án (Project Benefit
Monitoring and Evaluation- PBME) theo thông lệ quốc tế và Báo cáo giám sát đánh giá đầu tư
theo quy đònh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư được lập và gửi đi các cơ quan có thẩm quyền. Các
báo cáo này tập trung rất nhiều thông tin dự án và ngoài dự án; chủ dự án huy động nhiều
nhân lực để thực hiện việc này. Nhưng trong thực tế, chủ dự án không có được bất kỳ thông tin
phản hồi nào về việc có hay không có lợi ích của dự án, thông qua việc đánh giá, giám sát
(chủ dự án tự đánh giá trước và sau đó- theo quy đònh- là đánh giá của các cơ quan có thẩm
quyền) dự án được đánh giá như thế nào, nếu đánh giá không tốt thì tiếp tục thực hiện ra sao,

thông qua hội thảo tập huấn trước khi thực hiện, nhất là khi Cơ quan chủ quản và nhân viên dự
án chưa có kinh nghiệm trong việc thực hiện dự án ODA, chưa quen với các trình tự thủ tục
chuẩn bò, thực hiện, kết thúc dự án, nhất là các thủ tục nghiệm thu, bàn giao, giải ngân, thanh
quyết toán, quản lý vốn, chi phí của dự án; công tác đấu thầu mua sắm.
2.5. Các vấn đề khác:
- Thực tế thực hiện Dự án cho thấy, Tư vấn chưa đáp ứng đầy đủ, kòp thời yêu cầu của Chủ
Đầu tư, tức yêu cầu phải tuân thủ cả các qui đònh, thủ tục theo thông lệ quốc tế và của Việt
Nam trong các vấn đề lập, trình duyệt thiết kế, khối lượng phát sinh, lập hồ sơ mời thầu, trình
duyệt kết quả đấu thầu, giải quyết tranh chấp với nhà thầu nước ngoài. Việc chọn hãng tư vấn
và chuyên gia, nhân viên có năng lực là vấn đề then chốt để thực hiện thành công dự án. Phải
rất ưu tiên cho việc chọn chuyên viên tư vấn, những người thành thạo với các nguyên tắc và
qui đònh trong nước và nước ngoài liên quan đến việc thực hiện dự án.
- Thời hạn thực hiện dự án cần phải được tính toán và xác đònh một cách cẩn thận, khả thi, cập
nhật trong quá trình lập, thẩm, duyệt; có tính đến việc tuân thủ những qui đònh của Chính phủ
đối với công việc chuẩn bò thiết kế chi tiết, đấu thầu, xét thầu; những thay đổi về phạm vi công
việc ; nếu quá chủ quan duy ý chí trong việc phải thực hiện dự án một cách nhanh chóng sẽ
làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, thậm chí phạm luật; và do xác đònh thời gian thực
hiện dự án quá ngắn, việc dự án bò cho là kéo dài là không tránh khỏi.
- Giải quyết tranh chấp: Nên có cơ chế tranh chấp “mềm” trên cơ sở hòa giải có sự tham gia
của nhiều bên có chuyên môn, kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp các dự án có yếu tố nước
ngoài. Bộ phận giải quyết tranh chấp phải chòu trách nhiệm khi đưa ra quyết đònh.
- Mất nhiều thời gian để chuẩn bò hồ sơ nghiệm thu, bàn giao, thanh toán với khối lượng lớn từ
tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại. Cần thiết phải sớm có một mẫu hợp đồng (song ngữ
Việt - Anh) về tư vấn, xây dựng, cung cấp, lắp đặt khả dó phù hợp với bối cảnh thực hiện của
Việt Nam, cập nhật và đáp ứng đủ các yêu cầu của Việt Nam và thông lệ quốc tế, có được sự
4
đồng thuận của các cơ quan liên quan của Việt Nam và của nhà tài trợ; hạn chế tối đa các
mục, các quy đònh thiếu đònh tính, đònh lượng; thiếu rõ ràng.
3. VỀ VIỆC ÁP DỤNG MẪU HP ĐỒNG FIDIC (FEDERATION INTERNATIONAL
DES INGENIEURS-CONSEILS- HIỆP HỘI QUỐC TẾ CÁC KỸ SƯ TƯ VẤN) VÀ CÁC

nhận của Công chứng về việc uỷ quyền.
5
(ii)- Cách thứ 2: Tương tự, nhưng thay vì xác nhận của Bộ Ngoại giao quốc gia nhà thầu về
chữ ký của đại diện Phòng Công nghiệp Thương mại quốc gia nhà thầu sẽ là xác nhận của
Tổng lãnh sự quán quốc gia nhà thầu tại Thành phố Hồ Chí Minh và thay vì Xác nhận của
Đại sứ quán Việt nam tại quốc gia nhà thầu về chữ ký của đại diện Bộ Ngoại giao quốc
gia nhà thầu sẽ là Xác nhận của Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh về chữ ký của đại
diện Tổng lãnh sự quán quốc gia nhà thầu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các thông tin cơ bản khác về nhà thầu như tình trạng tài chính, tranh chấp hợp đồng,…cũng
có thể cần được xác nhận lại từ các kênh thông tin như thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (nếu cần).
Các thông tin, xác nhận nói trên cần có đủ trước khi nội dung hợp đồng được cấp có thẩm
quyền phê duyệt theo quy đònh và tiến hành ký kết hợp đồng.
Bảo lãnh dự thầu: chỉ cần xem xét hiệu lực và điều kiện của Bảo lãnh này theo Hướng dẫn
các Nhà thầu (Instruction to Bidders) trong Hồ sơ mời thầu (Bidding Document).
3.2.2. Đơn thầu, Phụ lục đơn thầu và hồ sơ dự thầu
Thời hạn trách nhiệm pháp lý về sai sót: thời hạn này thường được Tư vấn đưa vào hồ sơ mời
thầu là 365 ngày. Tính chất của việc chòu trách nhiệm sai sót (Defects Liability) này tương tự
như quy đònh về bảo hành công trình xây dựng. BAN QLDA nên đề nghò điều chỉnh thời hạn
này tương đương như thời hạn bảo hành các công trình xây dựng được Bộ Xây dựng quy đònh
cho dự án thuộc nhóm A là 24 tháng.
3.2.3. Điều kiện chung hợp đồng (GCC) và Điều kiện áp dụng riêng hợp đồng (COPA)
Mẫu hợp đồng FIDIC được đưa vào hồ sơ mời thầu gồm 02 phần, Phần I- Điều kiện chung hợp
đồng và Phần II- Điều kiện áp dụng riêng hợp đồng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trở
thành văn kiện hợp đồng. Những điều chỉnh, thay đổi sẽ được các bên đưa vào các điều khoản
thuộc Phần II- Điều kiện áp dụng riêng hợp đồng. Đây là hai phần cốt lõi của hợp đồng ràng
buộc quyền lợi và nghóa vụ của 02 bên BAN QLDA và nhà thầu cùng trách nhiệm và quyền
hạn của KS.
3.2.4. Các điều khoản hợp đồng có thể gây bất lợi cho BAN QLDA, làm kéo dài việc thực
hiện hợp đồng và phát sinh chi phí :

Điều 52.1- Đònh giá những sự thay đổi,
Điều 52.2- Quyền của KS quyết đònh đơn giá,
Điều 52.3- Thay đổi vượt quá 5%,
Điều 65.3- Thiệt hại công trình do rủi ro đặc biệt gây ra,
Điều 69.4- Quyền nhà thầu được tạm ngưng công việc,
Điều 70.2- Thay đổi luật lệ;
Đặc biệt, việc xác đònh Đơn giá chưa có trong hợp đồng hay có đơn giá trong hợp đồng nhưng
do có khối lượng thực tế cho các công tác phát sinh như quy đònh tại Điều 52.2 hay một sự thay
đổi khối lượng chưa tiên lượng trong hợp đồng mà sự thay đổi này có ảnh hưởng đến kết cấu
hay công nghệ. Đây là một công việc mà BAN QLDA mất rất nhiều thời gian, công sức để lập
hồ sơ trình duyệt thay đổi và được sự thẩm đònh, phê duyệt từ cấp có thẩm quyền, các cơ quan
bộ ngành trung ương và thành phố; đặc biệt là các khối lượng phát sinh chưa có đơn giá. Trong
trường hợp có bất đồng ý kiến giữa BAN QLDA và KS hoặc trong trường hợp BAN QLDA
phải trình phê duyệt đơn giá/giá cả trong hạn đònh, KS có quyền xác đònh khối lượng, đơn giá
và giá phát sinh vào hợp đồng; và KS sẽ đưa khối lượng, đơn giá và giá bổ sung này vào hồ sơ
thanh toán theo Điều 60.1 để yêu cầu thanh toán. Việc này dẫn đến các hệ quả:
(i)- BAN QLDA thanh toán chậm và sẽ phải thanh toán lãi do trả chậm như quy đònh tại Điều
60.8 do phải chờ quyết đònh của cấp có thẩm quyền,
7
(ii)- Phát sinh lỗi của BAN QLDA theo Điều 69.4, đồng thời phát sinh quyền nhà thầu được
ngưng hoặc giãn tiến độ thực hiện theo hợp đồng,
(iii)- Phát sinh trách nhiệm trả tiền bồi thường chi phí kéo dài hợp đồng do lỗi của BAN QLDA
theo Điều 69.4.
3.2.4.2. Việc quyết đònh của KS trong trường hợp thử nghiệm vật liệu, máy móc thiết bò
không quy đònh trong hợp đồng
- Điều 37.4- Bác bỏ (không chấp nhận vật liệu, máy móc thiết bò- Rejection)
Cần quy đònh thời gian cụ thể, tránh nêu chung chung về thời gian giải quyết tranh chấp của
đôi bên vì điều này sẽ gây tốn kém thời gian và tiền bạc của nhau; nên dành một thời gian cho
việc trưng cầu giám đònh của tư vấn độc lập để kiểm tra vật liệu, máy móc thiết bò sau khi
được các bên thỏa thuận; sau đó mới quyết đònh có đem ra tranh chấp hay hoà giải.

Tương tự, Điều 60.8 quy đònh trong vòng 42 ngày, nếu KS chưa phát hành Xác nhận thanh
toán trả tiền tạm thời (Interrim Payment Certificate), BAN QLDA phải trả tiền theo đề nghò
của nhà thầu như thể hiện ở Biểu thanh toán hàng tháng (Monthly Statement) và đương nhiên
BAN QLDA còn phải trả lãi do thanh toán chậm (Interest for Late Payment). Trong trường hợp
này BAN QLDA cần có cơ chế chế tài KS để bồi hoàn khoản tiền này.
Cần xác đònh rõ việc chế tài Tư vấn, thể hiện trong hợp đồng tư vấn và hợp đồng với nhà
thầu.
Các điều phụ của Điều 60 quan hệ (in conjunction with) chặt chẽ với nhau. Điều đáng lưu ý là
thời hạn thanh toán hàng tháng khi nhà thầu hội đủ các điều kiện thanh toán như quy đònh tại
Các điều phụ của Điều 60.
Ví du:ï số ngày BAN QLDA phải thanh toán cho nhà thầu là trong vòng 42 ngày. Quá ngày
này, BAN QLDA phải trả lãi (thường là lãi kép) trên số tiền thanh toán chậm bao gồm:
- nội tệ : 15% của số tiền thanh toán chậm
- ngoại tệ : LIBOR cộng 2%
Theo chúng tôi, với hạn đònh thanh toán này, chắc chắn BAN QLDA - với điều kiện thanh toán
khách quan như quy đònh hiện hành của phía Việt Nam- sẽ phải trả lãi do thanh toán chậm một
cách liên tục, đồng thời phát sinh lỗi của BAN QLDA theo Điều 69.1 và phát sinh các chi phí
phải bồi thường cho nhà thầu theo Điều 69.4. Hơn nữa, nguồn vốn dự trù cho việc trả lãi do
BAN QLDA thanh toán chậm thường không được tiên liệu, do vậy, việc BAN QLDA phải xin
một cơ chế đặc biệt để thực hiện việc thanh toán lãi đúng hạn theo Điều 60.3 và Điều 60.8 là
rất khó khăn.
Nội bộ phía Việt Nam cần xác đònh rõ lộ trình xem xét hồ sơ giải ngân; xác đònh rõ thời hạn,
phạm vi trách nhiệm giải quyết, điều kiện chế tài (thưởng phạt) ở từng khâu. Cố gắng phấn
đấu tổng thời gian cho một chu trình thanh toán khoảng 80 ngày lòch và đưa thời hạn này vào
hợp đồng.
3.2.4.6. Giải quyết tranh chấp, trọng tài
- Điều 67- Luật về Trọng tài và Thủ tục Trọng tài (Rules of Procedure)
Cần có sự rõ ràng cho việc chọn luật nào sẽ áp dụng để tiến hành thủ tục trọng tài như nêu tại
Điều 67.1 của GCC. Nội dung mẫu hợp đồng do World Bank đề nghò có nhiều ưu điểm, tức
việc giải quyết tranh chấp sẽ do Ban Giải quyết tranh chấp (The Disputes Review Board) tiến

có thẩm quyền sẽ là cơ sở pháp lý để áp dụng trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Vì thực
chất đấu thầu xây lắp là đấu thầu đơn giá.
Phụ lục Hồ sơ mời thầu (Addenda), Làm rõ hồ sơ dự thầu (Bid Clarifications) và các Biên
bản đàm phán hợp đồng.
Biên bản đàm phán có liên quan đến Các Điều kiện của Hơp đồng được xem như một phần
của hợp đồng; tuy nhiên, tuỳ theo hướng dẫn của nhà tài trợ, thực chất đây là thủ tục hoàn
thiện hợp đồng.
Việc làm rõ hồ sơ dự thầu trong quá trình chuẩn bò nộp hồ sơ dự thầu có thể làm phát sinh
quyền lợi và nghóa vụ hợp đồng, nếu việc làm rõ làm phát sinh sự thay đổi cơ bản nội dung hồ
sơ mời thầu và/hoặc làm phát sinh chi phí, BAN QLDA nên chuyển những nội dung làm rõ
thành Phụ lục hồ sơ mời thầu và trình cơ quan thẩm quyền duyệt (pháp lý hoá) trở thành nội
dung hợp đồng.
PHẦN 2- ĐẶC TÍNH KỸ THUẬT VÀ CÁC BẢN VẼ
10
Đặc tính kỹ thuật (Specifications)
Đây là vấn đề khá khó khăn cho các BAN QLDA do năng lực kỹ thuật của lực lượng kỹ
thuật viên BAN QLDA, kể cả Tư vấn thẩm tra/thẩm đònh thiết kế, là có hạn; đặc biệt trong
những lónh vực áp dụng công nghệ mới; trong khi sự tiếp cận nói chung của trình độ khoa học
công nghệ nước ta chưa thể ngang bằng với các nước tiên tiến. Lónh vực này thường được phó
mặc cho KS và kết quả/ hậu quả trong lónh vực này thường phụ thuộc vào chất lượng tư vấn
thiết kế và KS giám sát. Đặc tính kỹ thuật nói chung, tiêu chuẩn áp dụng nói riêng càng đònh
lượng rõ càng tốt; giảm tối đa các quy đònh đònh tính; nên áp dụng một hệ quy chuẩn trong một
hợp đồng hay hạng mục công trình. Ví dụ: ISO hoặc AWWA, BS,…
Trường hợp đặc biệt cần áp dụng hệ tiêu chuẩn khác với hệ tiêu chuẩn chính, phải áp dụng hệ
tiêu chuẩn có quy đònh khắc khe hơn.
3.4. VÀI TÌNH HUỐNG CỤ THỂ MINH HOẠ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN THỂ CHẾ,
CHÍNH SÁCH ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VIỆC KÉO DÀI THỜI GIAN THỰC HIỆN
HP ĐỒNG VÀ CHẬM THANH TOÁN
3.4.1. Do vấn đề kỹ thuật:
+ Việc ống bêtông nòng thép dự ứng lực bò nứt phải chờ kết quả kiểm đònh của Viện Khoa học

4554/TCT/NV3 ngày 13/10/2000 của Tổng Cục thuế về việc xử lý thuế GTGT đối với hàng
nhập khẩu thuộc diện không chòu thuế GTGT mà Cục Hải quan Thành phố cho là “không có
hiệu lực thi hành” đối với cơ quan hải quan; Ban Quản lý dự án tiếp tục có văn bản số
923/PMU-KT ngày 24/11/2000 của về việc miễn thuế GTGT khâu nhập khẩu đối với thiết bò,
máy móc vật tư nhập khẩu thuộc Dự án báo cáo Bộ Tài chánh. Sau đó, Bộ Tài chánh có công
văn số 5443/TC/TCT ngày 05/12/2000 khẳng đònh cách giải quyết của Tổng Cục thuế là đúng;
song, Cục Hải quan Thành phố vẫn không áp dụng. Việc này gây thiệt hại kinh doanh cho đơn
vò nhập khẩu uỷ thác vì bò ngành Hải Quan cưỡng chế hoạt động kinh doanh trên toàn quốc.
May mà đơn vò uỷ thác- thông qua nhà thầu-ï không tiến hành kiện BAN QLDA việc này. Cuối
cùng, dù có cơ chế đặc biệt của Bộ Tài chánh nhưng cơ chế này vẫn không phát huy tác dụng,
Công ty Cấp nước- Chủ đầu tư vẫn phải đóng đủ thuế.
3.4.4. Do chậm bàn giao mặt bằng tại Nhà máy nước Thủ Đức do phải đảm bảo điều kiện vận
hành cung cấp nước của nhà máy làm phát sinh chi phí bồi thường thiệt hại cho nhà thầu.
3.4.5. Một số trường hợp thanh toán chậm của các cơ quan kiểm soát chi trong mối liên hệ với
việc xem xét thanh toán của các đơn vò và cấp có thẩm quyền khác.
3.5. KHUYẾN CÁO CHUNG VỀ TOÀN BỘ NỘI DUNG HP ĐỒNG (ÁP DỤNG MẪU
FIDIC):
Nội dung hợp đồng như phân tích trên đây chính là tài liệu hợp đồng được đưa vào hồ sơ
mời thầu trước đó đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Do vậy, các nội dung này phải được
xem xét cẩn trọng trước khi trình duyệt hồ sơ mời thầu.
Việc đàm phán để đạt được thoả thuận nhằm có sự công bằng về quyền lợi và nghóa vụ hai
bên trong giai đoạn đã thông báo trúng thầu là hết sức khó khăn bởi lẽ hầu hết các vấn đề liên
quan đã được BAN QLDA đưa vào hồ sơ mời thầu và sự đáp ứng từ phía nhà thầu là hồ sơ dự
thầu (tất cả nghóa vụ của nhà thầu đã được quy thành tiền thể hiện ở BOQ với các đơn giá tổng
hợp cho các loại công việc, khối lượng và như vừa nêu, kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu đã
được cấp thẩm quyền phê duyệt, việc điều chỉnh là không khả thi).
Dưới đây là các khuyến cáo về các điều khoản sẽ gây bất lợi cho phía BAN QLDA cần
được đưa vào hồ sơ mời thầu/ đàm phán- thương thảo hợp đồng/ đề nghò bổ sung vào hợp
12
đồng/ theo dõi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng một cách chặt chẽ, thận trọng và kiên

đủ các yêu cầu của Việt Nam nhưng tốt nhất là có hợp đồng dòch thuật với đơn vò có chức năng
cho cả quá trình thực hiện dự án để đảm bảo chất lượng dòch thuật và tính pháp lý, có được sự
đồng thuận của các cơ quan liên quan của Việt Nam và của nhà tài trợ.
- Hạn chế tối đa các vấn đề thiếu đònh lượng trong nội dung hợp đồng.
- Giải quyết tranh chấp: nên có cơ chế tranh chấp “mềm”, đa cấp trên cơ sở hòa giải có sự
tham gia của nhiều bên có chuyên môn, kinh nghiệm về tranh chấp dự án quốc tế. Cần có chi
phí cho việc cung cấp dòch vụ pháp lý để phòng ngừa sớm các tranh chấp từ giai đọan lập hồ
sơ mời thầu, đấu thầu và thực hiện hợp đồng.
- Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, các cán bộ Dư án ODA được giao nhiệm vụ, ngoài các
phẩm chất ở:
(i). Góc độ tổ chức- nhân sự.
13
(ii). Góc độ chuyên môn sâu trong các tất cả các khâu.
(iii). Sự tự tin, bản lónh.
(iv). Còn phải được trang bò và nắm vững:
- Tất cả các quy đònh như nêu ở Phần tham chiếu trên đây;
- Công cụ ngoại ngữ, vi tính,… là hết sức quan trọng, không thể thiếu được ở tất cả các
chức danh. Việc quản lý hợp đồng bằng công cụ công nghệ thông tin, cụ thể là các phần mềm
quản lý hết sức hữu hiệu, nhất là các trường hợp xảy ra tranh chấp hợp đồng.
Những yêu cầu trên đây hiện vẫn khó đạt được. Cần tăng cường tối đa năng lực các BAN
QLDA đến mức có thể được.
- Sự đáp ứng tích cực, nhanh chóng của BAN QLDA về bất kỳ đề nghò nào từ phía KS và
nhà thầu theo khuôn khổ hợp đồng là hết sức quan trọng vì theo nội dung hợp đồng, việc
không đáp ứng hay vi phạm bất kỳ nghóa vụ nào theo hợp đồng cũng làm phát sinh chi phí
bồi thường do làm chậm tiến độ thực hiện và phát sinh việc gia hạn thời gian thực hiện.
7. Các vấn đề khác:
- Tư vấn chưa đáp ứng đầy đủ, kòp thời yêu cầu của Chủ Đầu tư, tức yêu cầu phải tuân thủ cả
các qui đònh, thủ tục theo thông lệ quốc tế và của Việt Nam trong các vấn đề lập, trình duyệt
khối lượng phát sinh, xác đònh đơn giá phát sinh, xác đònh các thiệt hại cho nhà thầu khi có
trượt giá, có thay đổi luật lệ, giải quyết tranh chấp với nhà thầu nước ngoài,…. Việc chọn hãng

Khi Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty Cấp nước- Chủ đầu tư vay lại,
lãi suất vay (đã điều chỉnh giảm) là 6,7% năm tính trên VN đồng; tính đến 31/12/2003, lãi vay
đã trả là 178.579.169.392 VNĐ, tổng nợ gốc phải trả là 787.247.292.320 VNĐ; ngoài ra, Công
ty Cấp nước phải trả nợ gốc và lãi vay cho Ủy ban Nhân dân thành phố trong vòng 20 năm,
chia thành 40 bán niên đều nhau với lãi suất 6,7% năm, kết quả là sau 20 năm, Công ty Cấp
nước phải trả số lãi vay cho Ủy ban Nhân dân thành phố là 527.383.431.650 VNĐ.
4.1.2. Về chính sách thuế (đối với dự án):
- Về thuế GTGT: không có sự nhất quán, chưa xác đònh rõ ràng mức thuế suất khi các thông
tư hướng dẫn còn có những quy đònh chồng chéo.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: cần có những quy đònh rõ ràng để tránh đánh thuế hai lần đối
với nhà thầu nước ngoài.
- Thuế thu nhập cá nhân: cần có những quy đònh rõ ràng để tránh đánh thuế hai lần đối với
chuyên gia nước ngoài.
- Quy đònh rõ ràng về thuế cho hàng hoá tạm nhập tái xuất, tránh trường hợp không có chủ
thể nhận tái xuất như việc tạm nhập tái xuất xe các loại phục vụ dự án.
4.2. Về quy chế đấu thầu
Đấu thầu: trong thực tế, việc đấu thầu đối với chương trình dự án ODA vẫn phải tuân thủ theo
quy đònh của pháp luật Việt Nam. Trong khi đó, theo quy đònh của nhà tài trợ là sau khi có kết
quả đánh giá hồ sơ dự thầu, chủ dự án phải báo cáo ngay cho bên vay và họ xem xét, trả lời
các đề nghò của chủ dự án rất nhanh; trong khi đó, phía Việt Nam lại mất rất nhiều thời gian
cho việc thẩm duyệt. Do vậy, nếu có ý kiến khác nhau về kết quả đấu chọn thầu thì hậu qủa
rất khó khắc phục, sửa chữa. Vì vậy, cần có lộ trình gỉai quyết trường hợp có bất đồng về kết
quả đấu chọn thầu giữa chủ dự án, tư vấn, nhà tài trợ để Ban QLDA mạnh dạn, tự tin đề xuất
xử lý tình huống.
Tóm lại, việc thực hiện chậm trễ dự án so với tiến độ có liên quan đến:
- Việc tuân thủ hai hệ thống luật lệ qui đònh của Việt Nam và theo thông lệ quốc tế; Việc tiếp
tục cải cách thể chế một cách đồng bộ về sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), về
quản lý đầu tư xây dựng, quản lý đấu thầu,…là cần thiết để việc thực hiện các dự án ODA được
hiệu quả.
- Vấn đề năng lực của BAN QLDA và các cơ quan có liên quan, chưa đáp ứng yêu cầu của thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status