Những điểm mới của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi - Pdf 11


TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
—íàoCQoểi—
KHOA
LUẬN TỐT NGHIỆP
Nhãng điếm mới của Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm 2005 và những vấn
đề
đặt ra trong quá trình thực thỉ
Sinh
viên
thực
hiện
:
Nguyễn Ngọc Hà
Lớp
:
Pháp
2
-

/lổn cô đã huyền f/w em nhiều /tiên thức /tể ích nề /nà/, về ftỉt(f<ỉ>
/i/táịi nự/iiên cứu /i/wa /loe cũng như tvỉùêỉ /utyêĩ fì<ma rêíiỹ méc
n/tữttỹ yên f<> /ìỉứmọ tỉiê //liêu đũi nứt' rôìuỵ méc rủa em ban này.
,
J
Ằ'in cảm tín ỹ/'a rĩ!nít nà /lan /tè, Ii/tữiiỹ iưỵưỉ/i đã <//ìiưỵ HÍP.
ựiúýi đừ tôi /tết íènự Aon(jr Airâí tỉùỉi ạian <Ịiia.
jVỳiứli niết,
•ẦytM/ễn j¥<jọc -Vía
MỤC LỤC
Lời nói đầu:
Chương
ì:
Giới thiệu
chung về
pháp
luật
thương mại
Việt
Nam và
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
2005.
ì. Những
nét chung về
pháp
luật
thương

Hoàn
cảnh
ra
đòi của
Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm
2005
]
1.
Luật
Thương
mại
năm
1997:
những
đóng góp và
hạn chế
]
2.
Sự
cần
thiết
phải
sửa
đổi
Luật
Thương

Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm
2005
2
1.

lược
các
điều khoản

sự
thay
đổi
2
2.
Về bị
cục của
Luật
2
li.
Những
điểm
mới về những quy
định
chung
2
Ì.

5.Mịi quan hệ
giữa
Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm
2005
với
các
luật

liên
quan
A
IU.
Những
điểm
mới liên
quan
đến
nội
dung của
Luật
Thương mại
Việt
Nam
2005
4
Ì.

6. Về chế
tài
trong
thương mại và
giải
quyết
tranh
chấp
trong
thương
mại
6
Chương
ni:
Những
vấn
đề
đặt ra
trong
quá trình
thực
thi
Luật
Thương
mại
năm
2005

giải
pháp để

Luật
Thương
mại
năm
2005
7
2.
Những
vấn
để
phát
sinh khi
thực
thi
Luật
Thương
mại
năm
2005
trong việc
giải
quyết
mối
quan
hệ
giữa Luật với
các
luật
khác


4.
Những
vấn
đề
phát
sinh trong khi
thực
thi
Luật
Thương
mại
năm
2005
liên
quan
đến mối
quan
hệ giữa Luật
với
các văn
bản dưới
luật
8
5.
Những vấn đề
đặt ra khi
áp
dụng
các quy định liên
quan

phía Nhà nước 9
2.
Nhóm
giải
pháp
về
phía các thương nhãn 9
3.
Nhóm
giải
pháp khác 9
Kết
luận
9
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ
VIẾT
TẮT
TRONG
KHOA
LUẬN
CISG
:
Công ước Viên năm
1980 của
Liên
Hiệp
Quốc về
Hợp
đổng

huệ quốc
NT
:
Đối
xử
quốc
gia
PICC
:
Các nguyên
tắc
về Hợp đổng Thương mại
quốc tế
SGDHH
:
sở
giao
địch
hàng hoa
ucc
:
Bộ
luật
Thương mại
thống nhất
Hoa
Kỳ
UNIDROIT
:
Viện

vượt
bậc
của
nền thương mại
Việt
Nam nói
chung
và của pháp
luật
thương mại nước
ta
nói
riêng.
Lấn đầu
tiên
trong lịch
sử
lập
pháp
Việt
Nam, Quốc
hội
khoa
IX,
kỳ họp
thứ
11 đã
thông qua
Luật
Thương mại (ngày 10 tháng 5 năm

quy định
của
Luật
này.
Sau
bảy năm
thừc
thi,
những
đóng góp của
Luật
Thương mại năm 1997
cho
sừ phát
triển
của
nền thương mại nước
ta

không
thể
phủ
nhận.
Tuy
vậy,
trong
bối
cảnh
Việt
Nam

thế
giới
(WTO),
những
quy định
của
Luật
Thương mại năm 1997 ở
nhiều
điểm
tỏ ra
không còn
phù hợp mà nếu vẫn cứ
giữ
nguyên
thì
chúng
sẽ cản
trở
mạnh
mẽ đến sừ phát
triển
của
cả hệ
thống
thương mại
Việt
Nam
cũng
như

trở
thành một đòi
hỏi
bức
thiết,
không
thể
trì
hoãn. Nhận
thức
được
tầm
quan
trọng
của vấn đề
này,
Quốc
hội
Việt
Nam
khoa
XI
tại
kỳ họp
thứ
7 (ngày
14/06/2005)
đã thông qua
Luật
Thương mại

Luật
Thương mại năm
2005
chính
thức

hiệu
lừc
- những
điểm
mới đó
sẽ
được áp
dụng
vào các
hoạt
động thương
mại.
Liệu
những
điểm
mới
đó có
thật
sừ
là những
đóng góp mới mẻ góp
phần
xây
dừng

những
vấn đề nào sẽ
-2-
nảy
sinh
cần
được
giải
quyết
để
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
2005
thực
sự
đi vào
cuộc sống,
thật
sự
tạo thuận
lợi
để các
hoạt
động thương mại cùa
Việt
Nam phát
triển,
góp

"Những điểm mới của Luật Thương mại
Việt
Nam năm
2005 và những vấn đê
đặt ra
trong
quá
trình
thực
thi"
làm đề tài
khoa
luận
tốt
nghiệp
của
mình.
2.
Mấc đích nghiên cứu.
- Làm rõ
những
điểm
mới cơ bản của
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
2005
so
với Luật

thi

hiệu
quả
Luật
Thương mại năm
2005
trong
thực
tế
ngay
khi
Luật

hiệu
lực
(tức

từ
ngày
01/01/2006).
3.
Đối
tượng
và phạm
vi
nghiên
cứu.
- Đối
tượng nghiên

đến thương mại và của một số
điều
ước
quốc
tế
cũng
như một
số
văn bản
dưới
luật
có liên
quan.
- Phạm
vi
nghiên
cứu của đề
tài:
Phạm
vi
nghiên cứu
của
đề
tài
giới
hạn

việc
phân tích
những

Luật
Thương mại năm
2005
vói các
Luật

liên
quan;
mua bán hàng
hoa; cung
ứng
dịch
vấ;
các
loại
hình
dịch
vấ mới được đưa vào
(dịch
vấ
logistics,
quá
cảnh
hàng hoa qua lãnh
thổ Việt
Nam và
dịch
vấ quá
cảnh
hàng

lịch
sử.

tưởng
Hồ Chí
Minh

đường
lối,
quan
điểm
chỉ
đạo
của Đảng,
Nhà nước
ta
vẻ phát
triển
kinh
tế,
xây
dằng
nhà nước
pháp
quyền
XHCN

hội
nhập quốc
tế

với Luật
Thương mại năm 1997 để nêu
ra
những
điểm
mới
của
Luật
Thương mại
2005.
Đồng
thời
người
viết
cũng sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khác như
luận
giải,
phân
tích,
thống
kê,
hệ
thống
hoa
5.
Bô cục của
khoa
luận.
Ngoài

2005.
Chương
li:
Những
điểm
mới chủ yếu của
Luật
Thương mại
Việt
Nam
năm
2005.
Chương
in:
Những vấn đề
đạt ra
trong
quá trình
thằc
thi
Luật
Thương
mại
năm
2005

những
giải
pháp để
thằc

nét
chung
về
pháp
luật
thương
mại
Việt
Nam.
Pháp
luật
thương mại
(droit
commercial)
được
hiểu
là một ngành
luật

bao
gồm
các quy phạm pháp
luật
điều
chỉnh
hoạt
động cùa các thương nhân
và các hành
vi
thương

bản thân nhà
sản xuẩt

nhằm
mục
đích buôn bán
để
thu
lợi
nhuận.
Hàng hoa được tiêu dùng không chỉ
trong
phạm
vi
hẹp

nhờ vào các thương
nhân,
chúng đã được
mang
đi
xa để buôn
bán,
trao
đổi
và nhờ đó đã hình thành
những
kênh phân
phối rộng
khắp.

điều
chỉnh
những
mối
quan
hệ đó bàng cách ban hành các đạo
luật
về thương
mại, trong
đó
quy định
cụ
thể
về
các
hoạt
động thương mại
cũng
như về
thương
nhân.
Năm
1807, thế
giới
ghi
nhận
Bộ
luật
Thương mại đầu
tiên,

nước mình.
Mặc

rẩt
muộn
nhưng
Việt
Nam
cũng
không
nằm
ngoài quy
luật
đó.
Cùng vói chủ trương
đổi
mới toàn
diện
của
Đảng,
cùng
với
quá
trình hình
thành của nền
kinh tế thị
trường định
hướng
XHCN có
sự

mại
Việt
Nam
Ì997
phù hợp
với pháp
luật

lập quán thương
mại
quốc
tể,
Nxb

luận
chính
trị.

Nội
2005,
tr.70
-5-
cái nhìn toàn
diện
hom về pháp
luật
thương mại
Việt
Nam,
cần phải chia

hải
trong điều kiện Việt
Nam
hội
nhập
kinh
tế"
do
GS.TS.
Nguyớn
Thị Mơ làm chủ
biên,
tập thể
tác
giả
đã
chia
sự phát
triển
của pháp
luật
thương mại
Việt
Nam
từ
năm 1945 đến nay thành
hai
thời
kỳ
lớn: từ

điểm
ra đời
của đạo
luật
đẩu tiên
điều
chỉnh
các "hành
vi
thương
mại"

Việt
Nam, giúp
chuyển
nền thương
nghiệp
nước
ta từ
một nền thương
nghiệp
kế
hoạch
hoa, phi thị
trường,
phát
triển
manh
mún,
không đúng

triển
của pháp
luật
thương
mại Việt
Nam
theo
cách
chia
thời
kỳ như
trên.
l.Pháp
luật
thương mại
Việt
Nam
thời
kỳ trước năm 1997.
Để việc
phân tích và đánh giá được
thuận
lợi,
thời
kỳ này sẽ được
chia
thành
hai
giai
đoạn:

ta
tiến
hành công
cuộc
đổi
mới
đất
nước.
Đặc trưng của
giai
đoạn
này là nền
kinh tế tự
cung,
tự cấp,
bao
cấp,
kế
hoạch
hoa
tập trung.
Mọi
hoạt
động sản
xuất từ trung
ương đến địa phương
đều
được Nhà nước
giao chỉ
tiêu,

đoạn
này không được
quan
tâm một cách đúng mức, chưa được
phát
triển
thành một ngành
kinh tế
thực
sự.
Bản
chất
của
hoạt
động thương
mại là
nhằm mục đích
thu
lợi
nhuận,
nhưng
từ
"lợi
nhuận"
đối với
các nhà sản
-6-
xuất, đối
vói
người

người
khinh rẻ,
bị xã
hội
lên
án.
Nói cách
khác,
hoạt
động thương mại,
cũng tức

hoạt
động làm giàu cho bản thân mình chưa được xã
hội chấp
nhận,
chưa được pháp
luật
công
nhận
như một
quyền
hợp pháp
của
mọi
người
dân
Vói
những
"rào

trong
các chương trình làm
việc
cùa Quốc
hội
nước
ta.
Nếu cố
gắng
tìm
kiếm
những
văn bản
luật
quy định về thương
mại,
chúng
ta
cũng

thậ thấy
được một số văn bản như: sắc
lệnh
quy định
thành
lập
các công
ty
công tư hợp
doanh (ban

ngày
30/4/75);
Pháp
lệnh
của Hội
đồng
Bộ trưởng số 197-HĐBT ngày 14 tháng 12 năm 1982 ban hành
Điều
lệ
về
nhãn
hiệu
hàng
hoa Nội dung
của các văn bản này chỉ
điều chỉnh
các
hoạt
động
gọi

hoạt
động thương
nghiệp
phi
lợi
nhuận. Trong những
vãn bản
đó,
chưa

có đường
lối
đổi mới của
Đảng cho đến
khi
ban hành
Luật
Thương mại năm 1997
(từ
1987 đến
1997).
Đây

thời
kỳ nền
kinh tế
nước
ta
chuyận
từ
quan
liên bao
cấp,
kế
hoạch
hoa
tập trung
sang
nền
kinh tế thị

kinh tế
nước
ta.
1
Xem
PGS.TS.
Nguyền Thị Mơ,
Hoàn
thiện pháp luật
về
thương
mại

hàng
hài
trong điểu kiện Việt
Nam
hội
nhập kinh
le,
Nxb Chính
trị
quà:
gia,

Nội
2002,
lr.70
-7-
Đây

a.
Những
thành
tựu:

thể
nói,
trong
giai
đoạn
này, pháp
luật
thương mại
Việt
Nam đã có
những
thành
tựu
đáng
ghi
nhận,
đó
là:
Thứ
nhất,
đã
từng
bước hình thành một hệ
thống
pháp

nhận
sự
tồn tại
khách
quan
của cơ
chế
thị
trường,

chế
đảm bảo cho các
hoạt
động
thương mại được hình thành và phát
triển
như một
trong
những
hoạt
động
kinh
tế
chủ
yếu của nền
kinh
tế.
Điều
này được
thể hiện


ca Nhà
nước, theo định
hướng xã
hội
ch
nghĩa
".
Rồi
điều
21 đã công
nhận quyền
tự
do
sản
xuất,
kinh
doanh
không hạn
chế
vẻ
quy
mô của thành
phần
kinh
tế

thể,
kinh
tế

3
Như
thế,
đây là cơ sở pháp lý
vững
vàng,
chắc chấn
cho
sự phát
triển
của nền thương
mại.
Dựa trên cơ sở pháp lý đó, hàng
loạt
những
luật,
văn bản
dưới
luật
đã được ban hành nhằm
điều chỉnh
các
hoạt
động
thương mại ở
Việt
Nam như:
Luật
đẩu tư nước ngoài
tại

Bộ
luật
Hàng
hải
năm
1990;
Luật
phá
sản
doanh
nghiệp
năm
1993;
Bộ
luật
Dân sự năm
1995;
Pháp
lệnh
Hợp đồng
kinh
tế
năm
1989;
Pháp
lệnh chất
lượng
hàng hoa năm
1990;
Phấp

Báo cáo chuyền để vé các
lỉnh
vực dĩa khung pháp
luật
kinh tế
tại
Việt Nam,
lập í,
Hà Nôi.
3/1998.
lr.79.80.
-8-
Mặc dù
đối
tượng
và phạm
vi
điều
chinh
của các văn bản
luật
này là
khác
nhau
nhưng chúng đều
hướng
tới
một mục đích
chung
là công

Nam
cũng
đã
tham
gia,

kết rất
nhiều
các
điều
ước
quốc
tế
về thương
mại,
một
bằng
chỚng
cho sự mở
rộng
các
quan
hệ
kinh
tế
thương mại
giữa Việt
Nam và các nước khác trên
thế
giới

bang
ĐỚc
(1990),
Indonexia
(1990),
Singapore
(1992),
Thúy
Điển
(1993),
New
Zealand
(1995)
Như
thế, tất
cả các văn bản kể trên đã bước đầu góp phán hình thành một
hệ
thống
pháp
luật
thương mại tương
đối
phù hợp
với
tình hình thương mại ờ
trong
nước lúc bấy
giờ, tạo
điểu
kiện

Việt
Nam.
Một
điều
chắc
chắn

ai
cũng

thể
nhân
thấy là
pháp
luật
thương mại
Việt
Nam
giai
đoạn
này đã góp
phẩn
tích cực
trong
quá trình
chuyển
từ việc
mua bán hàng hoa
theo


thị
trường
tỚc
là cho phép mọi
người
làm giàu một
cách chính đáng, đã
khuyến
khích mọi
người
làm giàu một cách hợp pháp
trong
khuôn khổ
của
pháp
luật.
Dân giàu
thì
nước mới
mạnh,

hội
mới công
bằng,
văn
minh.
Đó
là chủ
trương,
đường

mới
trong

chế
quản
lý thương
mại.
Nhờ hệ
thống
pháp
luật
thương mại mới ban
hành,
nhờ sự
thay
đổi trong
đường
lối
phát
triển
kinh
tế,
Nhà nước đã dẩn
phải
chấm
dỚt
sự độc
5
Xem
PGS.TS.

Điều
Ì
Luật
công
ty
năm 1990
quy
định:
"Công dân
Việt
Nam đủ 18
tuổi,
tố
chức
kinh
tế
Việt
Nam có tư
cách pháp nhân
thuộc
các
thành
phẩn
kinh
tế,
tố
chức xã
hội
có quyền góp
vốn đẩu

"Nhà nước bảo hộ và khuyến
khích
tổ
chức,
công
dân
Việt
Nam,
người Việt
Nam
định
cư ờ
nước ngoài, người
nước
ngoài
cu
trú
lâu dài

Việt
Nam đầu
tư vào
các
lĩnh
vực
kinh
tế
-

hội

trò độc
quyền
trong
phân
phối
hàng
hoa, trong
xuất
nhập
khẩu
hàng
hoa.
Nhà nước lúc này đóng
vai
[rò là
người
quản


mô đưa
ra
các chính
sách,
đường
lối
phát
triỉn
kinh tế
chung,
tạo

trường,
góp
phần
vào
sự
phát
triỉn
chung của
đất
nước.
b.
Những hạn
chế.
Bên
cạnh
những
đóng góp đáng
ghi
nhận
kỉ
trên,
pháp
luật
thương mại
Việt
Nam
giai
đoạn
này còn khá
nhiều

đã
có sự phát
triỉn
mạnh
nhưng vẫn
chỉ

những
hoạt
động manh mún, nhỏ
lẻ,
chưa mang tính
tổng
thỉ,
toàn
diện.
Điều
này
cũng
đổng
thời
gây khó khăn
cho
cóng tác
quản

thị
trường,
làm phát
sinh

hành,
nhưng vẫn
thiếu
những
quy
định cơ bản đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế
thị
trường
trong
nền
kinh
tế
hàng hoa
nhiều
thành
phần

Việt
Nam. Các chế định
"tự
do
kinh
doanh
thương
mại"
và "bình đẳng
trước
pháp
luật"
tuy

phần
kinh
tế
cũng
như chính sách
đối
vói
hoạt
động
thương
mại
ở các
địa
bàn khó khăn như vùng
núi,
nông
thôn,
biển
đảo
- Pháp
luật
thương mại
Việt
Nam còn
mang
tính
tản
mạn,
chắp
vá,

mại: Luật
công
ty
điều
chỉnh
hoạt
động của các công
ty

nhân,
Luật
doanh
nghiệp
nhà nước
điều
chỉnh
hoạt
động của các
doanh
nghiệp
nhà
nước,
Luật
đẩu tư nước ngoài
tại
Việt
Nam
điều
chỉnh
hoạt

về thương mại ngày càng
trở
nên cấp
thiết.
2.
Pháp
luật
thương mại
Việt
Nam từ
khi
ban hành
Luật
Thương
mại
năm
1997 đến nay.
Năm
1989,
Nhà nước có chủ trương
soạn
thảo
Pháp
lệnh
thương mại.
Nhưng
nhận
thấy
để
điều

ra quyết
định
số 192/HĐBT
giao
cho Bộ Thương mại và Du
lịch
(nay
là Bộ Thương
mại)
chù
trì
việc
soạn
thảo Luật
Thương
mại
6
.
Sau
quá trình hơn năm năm
tiến
hành
điều
tra
tình hình
thị
trường,
nghiên cứu
luật
thương mại cùa

Thương mại
(ban
hành ngày
23/10/1997
và có
hiệu
lỳc
ngày
1/1/1998).
Luật
được
ban hành
với
6 chương và 264
điều
đã
trở
thành một
trong
những
công
cụ
hữu
hiệu
để Nhà nước
điều
tiết
hoạt
động thương mại để
hoạt

Luật
Thương mại
năm
1997 được ban hành nhằm ba
mục
tiêu
chính,
đó
là:
- Thể
chế hoa
đường
lối,
chính
sách,

chế
quản
lý thương mại
trong

ngoài nước được đề
ra
trong
các Văn
kiện
Đại hội
Đảng
lần VI, VII
và VUI;

chế
những
tiêu
cọc,
mặt
trái
của nền
kinh tế thị
trường.
-
Đảm
bảo cho mọi công dân có
quyển
tọ
do
hoạt
động thương mại
theo
quy
định của pháp
luật,
bảo hộ sản
xuất,
bảo vệ
lợi
ích của
người
tiêu dùng
cũng
như

trường
trong
nền
kinh
tế
hàng hoa
nhiều
thành
phần,

sọ
quản
lý cùa Nhà
nước
theo
định
hướng
XHCN.
Đổng
thời
nêu
lên định hướng
XHCN
của
hoạt
động thương
mại
và các chính sách phát
triển
thương mại

chế
quản

đối với
thương mại
trong
và ngoài
nước,
trong
đó yêu
cầu
đăng

kinh
doanh
trở
thành một
nghĩa
vụ
bắt
buộc
của thương nhân
nhằm giúp Nhà nước
thọc
hiện
được
chức
năng
quản
lý cùa mình

điều
này
đã
tạo
nên một bước
ngoặt
trong
quá trình phát
triển
của
pháp
luật
thương mại
Việt
Nam
thời
kỳ này.
Sau khi
Luật
Thương mại
năm
1997

hiệu
lọc,
hàng
loạt
những
văn
bản

nhất,
cụ
thể:
7
Dọ
án
V1E/94/003,
Búi)
cảo
chuyên
để về các
lĩnh
vực của
khung pháp luật kình
tế
tại
Việt
Nam,
tạp
1.

Nội.
3/1998.
tr.84,
85.
-12-
Về
luật,
ta


sản
(sửa đổi
-
2003), Luật
Cạnh
tranh (2004)
Về các văn bản dưới
luật,
bao gồm: Pháp
lệnh
bảo vệ
người
tiêu dùng
(1999),
Pháp
lệnh
Du
lịch (1999),
Pháp
lệnh chất
lượng
hàng hoa
(2000),
Pháp
lệnh
Thương
phiếu (2000),
Pháp
lệnh
Phí và

các
điều
ước quốc
tế: trong
thời
kỳ này
quan
trộng nhất phải
kể đến

Hiệp
định Thương mại
Việt
Nam - Hoa Kỳ
(2000).
Hiệp
định này đã mờ
ra

hội giao
thương
rất
lớn
cho doanh
nghiệp hai
nước,
tạo

hội
thúc đẩy

riêng

quyết
tâm
hội
nhập quốc
tế
của
Việt
Nam nói
chung.
Bên
cạnh đó,
Việt
Nam đã ký
rất nhiều
các
hiệp
định thương
mại với
các nước khác trên
thế
giới
8
cũng
như đã ký
kết

tham
gia

động thương mại nhằm mục đích
thu
lợi
nhuận
cho mình nói
riêng
và làm giàu cho
đất
nước nói
chung.
li.
Hoàn
cảnh
ra đời
của
Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm
2005.
1.
Luật
Thương
mại
1997:
những
đóng góp và
hạn chế.
LI. Những đóng góp của Luật Thương mại

thương mại nước
ta từ khi
giành được độc
lập
đến nay.
Những đóng góp
to lớn
của
đạo
luật
này được
thể hiện

những
điểm
sau:
8
Tính đến
thòi
điểm
31/09/2005.
Việt
Nam đã ký
kết
Hiệp
định thương
mại song
phương \Á
51 quốc
gia


bốn
điểm
sau:
-
Luật
Thương mại năm 1997 đã công
nhận
quyền
bình đẳng trước pháp
luật
của
các
tổ
chức,
cá nhân
kinh
doanh
thuộc
mấi thành
phần
kinh tế
9
.
-
Luật
Thương mại năm 1997 đã
thể
hiện
xu

nguyên
tắc
"không cấm",
nghĩa
là nếu
trước
đây các thương nhân
chỉ
được phép
kinh
doanh
trên các
lĩnh
vực mà Nhà
nước
cho phép
thì
nay hấ đã được phép
kinh
doanh

tất
cả các
lĩnh
vực không
bị
Nhà nước cấm. Từ đây cho phép các thương nhân tìm ra
những
lĩnh
vực

diễn
ra
một cách
thuận
lợi,
tạo ra

hội giao
thương
lớn
giúp các thương nhãn
Việt
Nam mở
rộng
hoạt
động
sang
các
thị
trường nước ngoài đẩy
tiềm
năng. Không chỉ vậy,
thương nhân nước ngoài còn được pháp
luật
Việt
Nam cho phép
hoạt
động
trên lãnh
thổ

thương
mại.

thể nói,
đạo
luật
này là sự cụ
thể
hoa
Hiến
pháp năm
1992
về
hoạt
động thương
mại.
Trong
Luật, ta
thấy
chế
định về thương nhân
lần
đầu tiên được nêu
ra với
20
điều
khoản
(từ
điều
17 đến

vụ thương mại
cũng
đã được
Luật
quy định khá cụ
thể
chi
tiết
tại
chương
li
(chương
lớn
nhất
với
174
điều
luật
quy định về
hoạt
9
Điểu 7 Luật Thương mại năm 1997: "Nhà nước bảo dăm quyển bình đẳng trước pháp luật của các thương nhân thuộc
các thành phán kinh lể nong hoạt động
IhitơỊig
mại".
10
Điều
6
Luật
Thương mại năm

Luật
Thương
mại
năm
1997:
"Thương nhản
chỉ
được hoại động thương
mại
với
nước ngoài liều
có đù tác
điểu
kiện
do
Chính
phủ quy
định
sau
khi

đãng

với
cơqimn
Nhà
nước

thẩm quyền."
12


giải
quyết
các
tranh
chấp
trong
thương
mại. Tất
cả
các quy định đó dã
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
hoạt
động mua bán hàng hoa
trên
thị
trường.
Thứ
hai,
Luật
Thương mại đã góp
phần
thúc đẩy sự phát
triển
của các

nhau.
Thực
hiện tự
do hoa
thương mại làm cho hàng hoa được lưu thông một cách dễ dàng
giữa
các vùng
miền.
Điều
đó góp
phần
vào
việc khai
thác
thế
mạnh
của
từng
địa phương,
từng
doanh
nghiệp
trong
quá trình đầu
tư,
phát
triển.
Hơn
nữa,
quá trình tích

Phòng, cần Thơ
-
Tham
gia
vào
hoạt
động thương mại đã có đầy đủ các thành
phần
kinh
tế
từ
nhà nước đến tư
nhân,
từ trong
nước đến nước ngoài. Các
doanh
nghiệp
Nhà nước
chi phối
70-75%
khâu bán
buôn,
song
chố
chiếm
20-21%
trong
tổng
mức lưu
chuyển

núi
song
hoạt
động
chố
ở mức
rất
khiêm
tốn,
chiếm
trên
dưới
1%
tổng
mức bán
lẻ
trên
thị
trường.
Còn khu vực tư nhân
hiện
vẫn đang
chiếm
ưu
thế trong
kháu bán
lẻ,
với
tỷ
trọng

bất
đầu
tham
gia
vào
thị
trường
nội
địa
với
tỷ
trọng
khoảng
3%
trong
tổng
mức lưu
chuyển
hàng hoa bán
lẻ
13
.
13
Thực
trạng

giải
pháp phát
triển
thị

Năm
Tổng
sổ
Quốc
doanh
Tập
thể
Tư nhân
Năm
Tổng
sổ
Tồng
sổ
Tỳ
trọng
(%)
Tổng
số
Tỷ
trọng
(%)
Tổng
sổ
Tỳ
trọng
(%)
1990
19031,2
5788,7
30,4

27367,0
23,6
1060,0
0,9
91475,8
75,5
1996 145874,0
31123,0
23,3
1358,0
0,9
110572,5
75,8
1997 181899,7
32369,2
22,0 1244,6
0,8
124986,6 77,2
1998 185598,7
36093,8
19,4 1212,6
0,7
148293,4
79,9
1999 200923,7
37500,0
18,6
1400,0
0,7
162145,4

Nam &
thế
giới
2003-2004
-
Thị
trường
trong
nước
bắt
đẩu
có sự
thông thương
với thị
trường
quốc
tế.
Điểu
này
được
thể
hiện

nhạt
qua sự tăng trưởng
nhanh
chóng của
hoạt
động
xuạt

44,9
tỷ,
tức
gạp 2,16
lần
so
với
năm
1997
(xem
bảng
2).
Đó
là con số tăng trưởng
đẩy ạn
tượng chưa
từng

trong
lịch
sử.

điều
này
chỉ

được nhờ đường
lối
đổi
mới,

năm
1997 đến nay.
Năm
ĐVT
Tống
KNXK
Kim ngạch
xuất
khẩu
Kim ngạch
nhập
khẩu
1997 20.777,3
9.185,0
11.592,0
1998
20.856,0
9.361,0
11.495,0
1999
23.159,0
11.523,0
11.636,0
2000
triệu
USD
30.119,2
14.482,7
15.636,5
2001

thế
giới
đã có
những
tác động đến
thị
trường
trong
nước,
nghĩa
là sự suy thoái hay tăng
trưởng
của
thị
trường
thế
giói đã ảnh hưởng đến
tốc
độ tăng trưởng của nền
kinh tế trong
nước.
Điều
này
vừa là
điều
kiện
thuận
lợi
cũng
như

quốc
tế
của
Việt
Nam đã có bước phát
triển
cả về
chất
và về
lượng.
Trong
những
năm gần
đây,
thị
trường
quốc
tế của
nước
ta
đã phát
triển
với
tốc
độ
cao.
Chính sách mở cửa nền
kinh
tế,
phương châm đa phương hoa,

khẩu
đến gần 200
nước,
nhập
khẩu
từ
151
nước;
có 151 nước mà
Việt
Nam
xuất
siêu,
70 nước
Việt
Nam
nhập
siêu.
Kim
ngạch
xuất
khẩu
bình quân đẩu
người
tăng
nhanh
từ
186,6
USD/ngưòi lên
246,4

khẩu
được đến
những
thị
trường đích và
nhập
khẩu
được
từ
thị
trường
nguồn.
Thứ
ba, Luật
Thương mại năm 1997 đã góp
phẩn
tích cực
trong việc
hình thành và phát
triển
hệ
thống
pháp
luật
thương mại
Việt
Nam. Như đã
phân tích ở
phần
1.2 ở

những
hoạt
động thương mại cụ
thể.

thể
nói đây là
giai
đoạn
"nở
rộ"
những
văn bản
luật
về thương
mại.
Chính
điều
này đã
tạo
nên một hệ
thống
pháp
luật
thương mại tương
đối
đấy đủ và khá toàn
diện.
Thứ
tu,

14
Bọ trưởng Ngoại giao Ngu\ển Dy Niên: Vị the
clìa
Việt Nam trên trường quốc lê'ngày càng dược Háng can.
tại
www.mofa.gov.vn/vi/cs_doingoai/pb]đ/ns050822143833
15
Thực trạng và
giãi
pháp phải
triển
thị
trường hàng
hoa,
dịch vụ ờ
Việt
Nam,
tại
www.na.gov.vn
- 17-
Trước
khi
ban hành
Luật
Thương
mại,
các
doanh
nghiệp
Việt

tế
năm 1989 và Bằ
luật
Dân sự
năm
1995,
nhưng phía thương nhân nước ngoài không công
nhận
đó là
những
văn bản pháp
luật
thương mại
trong
khi
những
tranh
chấp
phát
sinh
từ
những
hợp
đồng mua bán
quốc
tế
đó
lại
phải
được

quyết
tranh
chấp,
gây cho các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
rất
nhiều
thiệt
thòi.
Chính vì
thế,
vói sự
ra đời
của
Luật
Thương mại
1997,
trong
đó có mằt
chương quy định về các chế tài
trong
thương mại và
giải
quyết
tranh
chấp
trong

Thực
tế từ
năm 1999 đến
nay,
hấu
hết
các hợp đổng mua bán
hàng hoa
giữa
Việt
Nam và phía nước ngoài đã có
điều
khoản
luật
áp
dụng

có đến 80%
lựa
chọn
Luật
Thương mại
Việt
Nam làm
luật
áp
dụng"'.
Không
chỉ
các

này làm
luật
áp
dụng
khi
các bên
trong
tranh
chấp
không
nhất
trí được
việc
chọn
luật.
Điểu
7
khoản
2 Pháp
lệnh
Trọng
tài
thương mại năm
2003
quy
định:
"Đối
với
tranh
chấp có yếu

hợp
các bèn không
lựa
chọn được pháp
luật
đế
giải quyết tranh
chấp
thì
Hội đồng
Trọng
tài
quyết đạnh
".
Như
thế,
theo
quy định
tại
khoản
này, nếu các bên
không
lựa
chọn
Hằi đồng
Trọng
tài có
thể
chọn
Luật

lìiKơiìg
mại quốc
té.
Nxb Lý
luận
chính
in.

Nằi 2005,
lr.25
——.
THƯVi-NỊ
'
a.
f
'Nc.
-
«ạrl
NGÓ,"
TiJ'."
r
-l
-18-
quyết
các
tranh
chấp
thương mại ngày càng
nhiều
khi

kể
đến là:
Một
là,
Luật
Thương mại năm 1997 có phạm
vi
điều
chỉnh
quá
hẹp.
Luật
này
điều
chỉnh
các hành
vi
thương mại và
theo
liệt

của
điều
45
thì chỉ
có 14
hành
vi
thương mại
thuộc

thị
trường không được
Luật
này
coi
là hành
vi
thương mại như: bảo
hiểm,
ngân hàng, vận
tải,
bưu chính
viễn
thông, Rõ ràng,
điều
này sẽ cản
trở
đến sự phát
triển
của các
hoạt
động
thương mại vốn có bản
chất
thương mại
những
không được
Luật
điều
chỉnh cũng

luật
khác. Chẳng
hạn,
khái
niệm
thương mại được quy định
trong
Luật
không tương thích
với
khái
niệm
thương mại
trong
Pháp
lệnh
Trọng
tài thương mại năm
2003.
Luật
Thương
mại
1997,
tại
điều
5
khoản
2 định
nghĩa:
"hoạt

quy
định:
"Hoạt động thương mại là
việc
thực hiện một hay nhiều hành vi
thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoa,
cung ứng dịch
vụ,
phân
phối,
đại
diện,
đại lý thương mại, kỹ
gửi,
thuê,
cho
thuê,
thuê mua, xây dựng, tư
vấn,
kỹ
thuật, li-xăng,
đầu
tư,
tài
chính,
ngân
hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai
thác,
vận chuyển hàng hoa, hành khách bằng
đường hàng không, đường

doanh
nghiệp
sẽ
xoay
sở như
thế
nào
khi
chọn
Luật
Thương mại năm 1997 làm
luật
áp
dụng
để
giải
quyết
tranh
chấp
khi

kết
các hợp đồng mua bán đồng
thời
lại
chọn
trọng
tài thương mại
Việt
Nam


hành
vi
thương mại
theo
Pháp
lệnh
này?
Hai
là,
những
quy định về thương nhãn
trong
Luật
Thương mại năm
1997
không đủ chính xác và cụ
thể
để giúp cho
việc
xác định được rõ
ai

thương nhân,
ai
không
phải
là thương nhân.
Điều
5

thuộc
trong
các văn bản
luật
của
Việt
Nam. Tuy
nhiên,
chính cách
liệt
kê này
lại
làm cho
người
nghiên cứu có cảm
giác vừa
thiếu
lại
vừa
thừa:
thiếu

chỗ
sẽ có
những
chủ
thể
trong kinh
doanh
không được

nhân,
nghĩa là
loại
hình công
ty
này không
phải
là thương
nhân);
thừa
là ở chỗ
tổ
hợp tác
theo
quy định của
Luật
hợp tác xã
không
phải
đăng ký
kinh
doanh, nghĩa
là họ không
thể

thương nhân nhưng
lại
được
liệt


cho mọi
người
rất
khó xác định
ai

thương nhân.
Ba
là,
chế
định
về hợp đổng
trong
Luật
Thương mại năm 1997 còn
nhiều
bất
cập.
Những
bất
cập
đó
thể
hiện

những
điểm
sau:
- Họp đồng được quy định
trong

hai
loại
hợp đồng
trên.
Hơn
nữa,
tính đến
hết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status