BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----
-----
CHÂU VĨNH NGHIÊM
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO QUÁ TRÌNH TỰ
DO HOÁ TÀI KHOẢN VỐN CỦA VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh Tế Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số 60.31.12
Châu Vĩnh Nghiêm LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Mọi
số liệu, dữ liệu và các trích dẫn đều mang tính trung thực và có ghi chú nguồn
gốc rõ ràng.
Tác Giả Luận Văn
Châu Vĩnh Nghiêm
MỤC LỤC
Trang
Mục lục i
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
Danh mục chữ viết tắt vii
Mở đầu : Giới thiệu đề tài nghiên cứu
1. Lý do nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
của một số quốc gia. 20
1.9.1 Trung Quốc 20
1.9.2 Ấn Độ 22
1.9.3 Thailand 25
1.9.4 Hàn Quốc 26
1.10 Một số cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ tự do hoá tài khoản vốn 28
1.10.1 Mexico 1994 28
1.10.2 Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. 28
1.10.3 Khủng hoảng tại Nga và Brazil 1998. 29
1.11 Bài học rút ra từ tự do hoá tài khoản vốn. 30
Kết Luận Chương 1 32
Chương 2 : Tự do hoá tài khoản vốn của Việt Nam và một số
vấn đề đặt ra cho tiến trình tự do hoá tài khoản vốn.
2.1 Một số kết quả chung về quá trình tự do hoá tài chính của Việt Nam. 33
2.2 Phân tích và đánh giá quá trình tự do hoá tài khoản vốn của Việt Nam. 35
2.2.1 Về mặt chính sách nhà nước đối với tự do hóa tài khoản vốn 35
2.2.2 Tài khoản vốn của Việt Nam. 37
2.2.3 Phân tích xu hướng dòng vốn đi vào và đi ra. 38
2.3 Một số chính sách ảnh hưởng đến tự do hóa tài khoản vốn 48
2.3.1 Lãi suất 48
2.3.2 Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái 50
2.3.3 Dự trữ ngoại hối của Việt Nam. 52
2.3.4 Tính chuyển đổi của đồng Việt Nam trên tài khoản vốn 54
2.3.5 Thị trường vốn của Việt Nam 56
2.4 Những vấn đề đặt ra cho quá trình tự do hoá tài khoản vốn của Việt Nam. 58
2.4.1 Một số đánh giá về tình hình dòng vốn vào và ra của Việt Nam. 58
2.4.2 Những vấn đề đặt ra khi dòng vốn vào đảo chiều. 59
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 87 DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1 : Tác động củacác biện pháp kiểm soát vốn và chỉ số Quinn.
Bảng 1-2 : Những thay đổi trong chính sách quản lý FPI
Bảng 1-3: Những giới hạn của FPI & FDI theo lĩnh vực trên thị trường giao ngay
(spot market):
Bảng 1-4 : Hàn Quốc – tự do hoá các dòng vốn ở giai đoạn 1985 – 1996
Bảng 2-1 : Một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam .
Bảng 2-2: Tài khoản vốn của Việt Nam trong giai đoạn từ 2000 đến 2008.
Bảng 2-3: Tổng hợp nguồn vốn FDI từ khi bắt đầu đến nay
Bảng 2-4: Dòng vốn vay của Việt Nam giai đoạn 2000-2008
Bảng 2-5: Nợ của Việt Nam trong thời gian qua từ 2003 đến 2007
Bảng 2-6: Dự trữ ngoại hối của việt Nam trong những năm gần đây.
Bảng 2-7 : Thống kê các ý kiến thăm dò về tự do và kiểm soát
Bảng 3-1: Kết quả kiểm định mức độ tự do hoá tài khoản vốn của Việt Nam
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa tự do hoá tài khoản vốn với nền kinh tế quốc gia
Hình 2-1: Vốn đăng ký FDI trong những năm gần đây:
Hình 2-2: Tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết
Hình 2-3: Cam kết và giải ngân ODA của Việt Nam từ 1993 - 2008
Hình 2-4: Từ trần lãi suất đến lãi suất cơ bản rồi tự do hóa lãi suất, 1998-2002
MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Lý do nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa, chu chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia tăng mạnh
cả về qui mô và tốc độ, mỗi quốc gia cần có chính sách và biện pháp đối phó thích
hợp nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Đặc biệt là,
cần xác định rõ liều lượng, lộ trình và thời điểm áp dụng chính sách, trước hết cần
dựa trên mục tiêu kinh tế của nước thụ hưởng, cơ chế tỉ giá, các qui định về thể
chế. Trong đó, cần xác định được động cơ và nguyên nhân của luồng vốn vào, cơ
cấu luồng vốn, tác động của nó đến nền kinh tế và hệ thống tài chính. Nếu luồng
vốn vào do cầu tiền trong nước tăng lên, giá chứng khoán và bất động sản giảm,
dẫn đến điều chỉnh danh mục đầu tư và không cần can thiệp vì việc mở rộng tiền
sẽ không gây áp lực lạm phát. Trái lại, khi luồng vốn vào do lãi suất thế giới thấp
hơn, giá của tài sản tài chính và bất động sản tăng lên, trường hợp này cần có biện
pháp điều chỉnh.
Luồng vốn vào quá nhiều đòi hỏi phải can thiệp nhằm giảm áp lực tăng M2, nhưng
rất tốn kém, hiệu quả của biện pháp này tùy thuộc vào trình độ phát triển thị
trường tài chính trong nước, thậm chí có thể làm nguồn vốn vào tăng trở lại, gây
khó khăn cho các nhà tạo lập chính sách, việc điều hành CSTT trở nên khó khăn
nếu đồng thời phải thực hiện mục tiêu ổn định tỉ giá, duy trì CSTT độc lập và tài
khoản vốn mở.
Tự do hóa tài khoản vốn có lẽ là điều không thể tránh khỏi cho Việt Nam trong
tương lai, khi nền kinh tế phát triển cao hơn, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế
giới và để đáp ứng theo yêu cầu hội nhập của WTO. Khái niệm tự do hoá tài
khoản vốn còn khá xa lạ với Việt Nam và Việt Nam đang theo đuổi một cơ chế
kiểm soát vốn khá chặc chẽ, điều này sẽ bị dỡ bỏ khi chúng ta hội nhập sâu hơn
3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nội dung chính của nghiên cứu là tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam nên
những nhân tố liên quan đều được xem xét dưới góc độ có liên quan về tài khoản
vốn. Do không có điều kiện thu thập dữ liệu nên không thể sử dụng để so sánh
chéo với một số quốc gia nên trong phân tích định lượng chỉ giới hạn đối với Việt
Nam và do nguồn dữ liệu không hoàn chỉnh, độ tin cậy không thể kiểm chứng và
được chọn lọc từ nhiều cơ quan khác nhau nên những nghiên cứu, phân tích định
lượng về Việt Nam chỉ mang tính tương đối, tuy nhiên nó vẫn phản ánh được xu
hướng đã và đang xảy ra. Các số liệu nghiên cứu được lấy chủ yếu từ IMF, ADB,
Tổng cục thống kê, ngân hàng nhà nước, bộ tài chính, bộ kế hoạch và đầu tư, các
ấn phẩm được công bố chính thức, một số nguồn số liệu được lấy từ Internet, báo
chí …(sẽ được chỉ rõ).
Có nhiều mô hình, chỉ tiêu để đánh giá về mức độ tự do hoá tài khoản vốn và
nhiều yếu tố ảnh hưởng nhưng đề tài nghiên cứu chỉ sử dụng ngang giá lãi suất để
thực hiện đánh giá kinh tế lượng.
5. Đối tượng và nội dung nghiên cứu
Đối tượng chính trong nghiên cứu này là nền kinh tế Việt Nam, bên cạnh đó có
xem xét một số quốc gia khác về lĩnh vực có liên quan để thấy được những thành
công và thất bại của họ trong việc xây dựng tự do hóa tài khoản vốn, qua đó sẽ rút
ra những bài học cho Việt Nam.
Nội dung tự do hóa tài khoản vốn rất rộng, có liên quan đến nhiều yếu tố, lĩnh vực
khác nhau nhưng trong luận văn này chủ yếu nghiên cứu những nhân tố chính ảnh
hưởng đến như: hệ thống luật, chính sách nhà nước ảnh hưởng đến, dòng vốn vào,
vốn ra và thông qua số liệu thu thập sẽ phân tích định lượng nhằm thấy rõ hơn
mức độ tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam. Từ đó sẽ đề xuất một số biện pháp
để nhằm khắc phục những yếu kém, thực hiện tốt hơn quá trình tự do hóa tài
LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TỰ DO
HOÁ TÀI KHOẢN VỐN
1.1 Khái niệm.
Tự do hoá tài khoản vốn là việc cho các chủ thể được tự do tiến hành chuyển đổi
các tài sản tài chính trong nước thành tài sản tài chính nước ngoài và ngược lại
theo tỷ giá hối đoái do thị trường quy định. Hay nói cách khác thì tự do hoá tài
khoản vốn tức là tự do hoá các nguồn vốn vào và các nguồn vốn ra khỏi một quốc
gia. Tháo dỡ những ràng buộc:
- Đối với người không cư trú đầu tư vào thị trường tài chính trong nước.
- Đối với người cư trú đầu tư ra thị trường quốc tế.
Tự do hóa tài khoản vốn cho phép họ thực hiện các hoạt động ở nước ngoài như
mở tài khoản ngân hàng, tham gia hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi nhuận cao. Các
doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hữu những công ty khác, các dòng vốn được
tự do lưu chuyển .
1.2 Lý luận của trường phái cổ điển về sự di chuyển của dòng vốn.
Lập luận ban đầu cổ vũ cho sự di chuyển của vốn là của trường phái cổ điển. Các
nhà kinh tế của trường phái này cho rằng việc để dòng vốn quốc tế tự do di chuyển
khiến cho các quốc gia có mức tiết kiệm thấp có thể thu hút được nguồn tài trợ cho
các dự án trong nước vốn có năng suất cao, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội đa dạng
hoá danh mục đầu tư và do vậy rủi ro sẽ được trãi đều trên một phạm vi rộng hơn.
Khi nguồn vốn tự do di chuyển sẽ khuyến khích thương mại vượt thời gian
(interemporal trade) trao đổi hàng hoá hiện tại với hàng hoá trong tương lai. Tác
động cụ thể của việc tư do di chuyển vốn được miêu tả như là (Barry Eichegreen
et al, 1999):
- Giúp cho hộ gia đình, doanh nghiệp và thậm chí là quốc gia có thể giải quyết
nhu cầu về tiêu dùng bằng việc vay mượn bên ngoài khi thu nhập tại quốc gia đó
6
+ Tăng trưởng sản lượng tăng đột biến, sau đó trở lại như cũ
+ Quá trình đó tạo một cú hích, đẩy mức sản lượng trên mỗi lao động lên một mức
cao hơn và tác động này kéo dài theo thời gian
Quan điểm về tự do hoá tài khoản vốn hiện nay – trong “thời đại hội nhập, toàn
cầu hoá” trở nên phổ biến và thành trào lưu kinh tế, tuy vậy, bên cạnh đó vẫn có
những quan điểm trái ngược, cổ vũ cho việc kiểm soát vốn trên các giao dịch được
ghi chép vào tài khoản vốn của quốc gia.
1.4 Những lợi ích đạt được từ tự do hoá tài khoản vốn
Lợi ích tĩnh: Tái phân bổ vốn đầu tư từ nước giàu về vốn nhưng có suất sinh lợi
thấp sang nước nghèo về vốn nhưng có suất sinh lợi cao.
Lợi ích động: Tạo ra cơ hội đa dạng hóa rủi ro (tài sản trong nước có thể được kết
hợp trong một danh mục đầu tư quốc tế rộng lớn), từ đó giảm chi phí vốn cho các
doanh nghiệp trong nước.
Ngoài ra, tự do hóa tài khoản vốn thường đi kèm với việc nhập khẩu các dịch vụ
tài chính nước ngoài và tăng hiệu quả của hệ thống tài chính trong nước.
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa tự do hoá tài khoản vốn với nền kinh tế quốc gia
- Tạo ra cơ hội cho việc tiếp cận các dòng vốn
- Chi phí vốn thấp có ảnh hưởng tích cực đến đầu tư và sản lượng.
- Giúp cho quá trình công nghiệp hoá nhanh hơn
1.4.1 Thúc đẩy tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
Tính lưu động của vốn tạo ra những cơ hội cho việc đa dạng hoá đầu tư, chia sẽ rủi
ro. Các chủ thể có thể đi vay khi thu nhập thấp và hoàn trả khi thu nhập cao, nhờ
đó cân bằng được tiêu dùng. Bằng cách nắm giữ các công cụ tài chính nước ngoài,
các chủ thể có thể phân tán rủi ro gắn với những tình huống rối loạn mà chỉ ảnh
hưởng trong phạm vi quốc gia. Các công ty có thể tự bảo vệ mình trước những cú
sốc chi phí và năng suất bằng cách đầu tư vào những chi nhánh ở nhiều nước mà
trên những đơn vị đó có các cú sốc không hoàn hảo. Từ đó tính lưu động của vốn
có thể cho phép các nhà đầu tư đạt được các mức sinh lời cao hơn, đã điều chỉnh
theo rủi ro. Mức thu nhập ở những nước tiếp nhận cũng sẽ tăng lên như là kết quả
của các dòng vốn vào. Lợi suất cao hơn có thể khuyến khích tiết kiệm và đầu tư để
đem lại tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. Một số nước sẽ thấy rằng nhập khẩu
các dịch vụ tài chính thì đạt hiệu quả cao hơn là sản xuất chúng, đổi lại họ xuất
khẩu các dịch vụ và hàng hoá khác. Tự do hoá tài khoản vốn cũng có thể thúc đẩy
hiệu quả năng động của khu vực tài chính. Cạnh tranh quốc tế tăng lên trong việc
cung cấp các dịch vụ tài chính có thể buộc các nhà sản xuất nội địa phải trở nên
hiệu quả hơn, kích thích đổi mới và cải thiện năng suất.
1.4.2 Thúc đẩy cải cách ở các thị trường mới nổi và cải thiện chất lượng tăng
trưởng.
Đối với những thị trường mới nổi thì lợi thế do việc tiếp cận các nguồn vốn quốc
tế đem lại càng rõ ràng. Các nước thị trường mới nổi gần như là luôn luôn là địa
chỉ của những cơ hội đầu tư cao. Sự tiếp cận tới các thị trường tài chính toàn cầu
9
đã giảm chi phí tài trợ và cho phép các công ty ở thị trường mới nổi tận dụng tốt
không cân xứng (suy cho cùng, có liên quan chặc chẽ với các lý lẽ nhằm bảo vệ
cho các quan điểm kiểm soát vốn) cũng là vấn đề được nêu ra nhằm cảnh báo cho
xu thế tự do hoá và phần nào chống lại các lý thuyết về tự do hoá. Một khi thị
trường không hoàn hảo và một trong hai bên giao dịch có ít thông tin hơn thì sự
lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại sẽ làm tổn hại đến thị trường với nhiều mức độ,
trong đó nhẹ nhất là tính kém hiệu quả và nặng nề hơn là có thể dẫn đến khủng
hoảng tài chính.
Các nhà kinh tế học tin rằng vấn đề này đang tràn ngập trên thị trường tài chính và
nó làm nảy sinh các lựa chọn bất lợi, tâm lý ỷ lại cũng như các hành vi bầy đàn
(herding behaviour). Những tác động này làm cho thị trường mất ổn định và kém
hiệu quả. Trường hợp nghiêm trọng hơn là người cho vay sẽ có tâm lý đánh cược
– tức là thực hiện đầu tư mang tính mạo hiểm cao nhưng khả năng thành công là
rất thấp. Theo thời gian, người cho vay sẽ buộc phải cho vay nhưng số tiền cho
vay sẽ ít hơn số tiền hiệu quả đứng trên quan điểm kinh tế.
Tính bất cân xứng thông tin là phổ biến, do vậy câu hỏi liệu việc tự do hoá tài
khoản vốn có thực sự mang lại hiệu quả trong phân bổ nguồn lực? Câu trả lời là có
rất nhiều khả năng nhưng việc tự do hoá dòng vốn di chuyển – như tất cả các quá
trình tự do khác – chỉ mang lại hiệu quả khi được đi kèm với một hệ thống chính
sách hạn chế được tâm lý ỷ lại, lựa chọn bất lợi, tâm lý bầy đàn và những vấn đề
liên quan khác nhằm hạn chế hành vi quá nhiều rủi ro của những người tham gia
thị trường vốn quốc tế và những nhiễu loạn thị trường xuất phát từ hệ thống.
Ngoài ra, các nỗ lực nhằm hướng tới các chuẩn mực chung phải được thực thi
nhằm tăng cường mức độ mạnh mẽ của hệ thống quy định khống chế và hỗ trợ thị
trường, bảo vệ nhà đầu tư, người cho vay trước những hành vi không công bằng
(Barry Eichengreen et al, 1999).
1.5.2 Tự do hóa tài khoản vốn và bất ổn định kinh tế vĩ mô
Tự do hóa tài khoản vốn ở nhiều nước thường đi liền với, nếu không muốn nói là
gây ra, khủng hoảng tài chính. Như đã trình bày, thị trường tài chính chịu sự bất
11
12
phái sinh, nó có thể làm tăng khó khăn của việc đánh giá các bảng cân đối kế toán
của ngân hàng và thách thức năng lực của các nhà quản lý trong việc giám sát,
đánh giá và hạn chế rủi ro.
Tự do hoá tài chính đối ngoại thực hiện qua những kênh song song, có khuynh
hướng, thậm chí còn rõ rệt hơn nhiều, khuyếch đại những hiệu ứng của những méo
mó chính sách và các vấn đề đại diện. Bằng cách cho phép sự gia nhập của các
ngân hàng nước ngoài, tự do hoá bên ngoài, cũng như quá trình đó trong nội địa,
có thể thu hẹp biên lãi ròng và loại bỏ cái đệm của các ngân hàng trong nước trước
việc mất các khoản vay. Cũng giống như tự do hoá tài chính nội địa, nó có thể trao
quyền tiếp cận tới nguồn vốn bên ngoài được cung cấp một cách co giãn bằng
cách cho phép tiếp cận tới những khoản đầu tư nước ngoài rủi ro.
Đây là tất cả các kênh dẫn mà thông qua đó bất đối xứng thông tin và những méo
mó chính sách có thể dẫn tới những cuộc khủng hoảng.
1.6 Tự do hoá tài khoản vốn và sự can thiệp của nhà nước nhìn từ góc độ
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay.
Trường phái tự do hoá (biến thể hiện đại của nó là chủ nghĩa tân tự do) cho rằng
đời sống kinh tế phải do thị trường điều tiết, sự can thiệp của nhà nước càng ít
càng tốt; tự do hoá mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế từ thương mại, đầu tư đến vốn.
Từ các năm 1980, trường phái này thắng thế và ảnh hưởng lớn đến chính sách
kinh tế của hầu hết các nước phát triển và đang phát triển. Mỹ, và nhất là Đảng
Cộng Hoà, theo trường phái này triệt để nhất, thậm chí đi đến thái quá, nhưng khi
cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra hiện nay, đã phải can thiệp mạnh mẽ để cứu hệ
thống tài chính ngân hàng và làm cho người ta nghi ngờ thuyết tự do hoá đã sụp
đổ .
Trường phái can thiệp cho rằng nhà nước phải can thiệp vào đời sống kinh tế. Biến
thể cực đoan nhất của trường phái này thể hiện ở hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ
điển, nơi nhà nước can thiệp không những vào mọi hoạt động kinh tế mà vào mọi
độ kiểm soát vốn) bắt đầu bằng ý tưởng đưa ra các thước đo bằng số liệu đối chiếu
14
giữa các quốc gia. Các thước đo được thiết kế ở hai dạng: chỉ số và mô hình định
lượng.
1.7.1 Các phương pháp chỉ số :
a. Chỉ số SHARE
Chỉ số này đo lường mức độ tự do hay kiểm soát tài khoản vốn đơn giản nhất được
xây dựng dựa trên báo cáo hàng năm của IMF về chính sách và các tác động hạn
chế hối đoái ở từng quốc gia (AREAER). Quan điểm xây dựng chỉ số này cho
rằng thấy sự hiện diện của các điều khoản pháp lý hay những hạn chế khác nhằm
ngăn chặn dòng vốn vận động qua biên giới quốc gia hoặc nhằm phân biệt đối xử
giữa người cư trú và không cư trú chính là sự thể hiện của kiểm soát vốn. Xét
trong một khoảng thời gian nào đó, chỉ số này được cải tiến thành chỉ số SHARE –
đây chính là chỉ số được áp dụng chính thức từ năm 1967. Trong khoảng thời gian
được xem xét, số năm mà quốc gia đã tháo bỏ các biện pháp ngăn chặn vốn tự do
di chuyển sẽ quyết định SHARE lớn hay nhỏ. Ví dụ nếu như quốc gia còn kiểm
soát tài khoản vốn trong toàn bộ khoảng thời gian cho trước thì SHARE = 0.
Tuy chỉ số này là dễ tính toán nhưng lại hàm chứa rất nhiều hạn chế. Nó có ý
nghĩa khi SHARE = 1 (quốc gia chưa từng kiểm soát vốn) hoặc khi SHARE = 0 là
quốc gia luôn áp đặt giới hạn nhằm kiểm soát tài khoản vốn. Trong khoảng 0 <
SHARE <1 thì không thể đánh giá được giữa quốc gia hiện đang tự do hoá hay đã
từng tự do hoá và bây giờ quay trở lại áp đặt các giới hạn lên dòng vốn luân
chuyển.
b. Chỉ số Quinn
Hạn chế cơ bản của chỉ số SHARE như đã đề cập được cải thiện thông qua chỉ số
Quinn do Dennis Quinn công bố trên tạp chí American Political Science Review
năm 1977. Chỉ số này cơ bản cũng dựa trên dữ liệu của SHARE nhưng các biện