Luận cứ khoa học cho công tác thông tin tuyên truyền về điện hạt nhân giai đoạn 2011-2020 - Pdf 13

CHUYÊN ĐỀ
TỔNG HỢP CÁC LUẬN CỨ KHOA HỌC CHO CÔNG TÁC THÔNG
TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ ĐIỆN HẠT NHÂN GIAI ĐOẠN 2011-2020
I. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ SỰ CHẤP THUẬN CỦA CÔNG
CHÚNG (PA) LIÊN QUAN ĐẾN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐIỆN
HẠT NHÂN CỦA MỘT QUỐC GIA
1. Quan điểm của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA):
Trong tài liệu hướng dẫn về cơ sở hạ tầng điện hạt nhân, IAEA đã nhấn mạnh
vai trò quan trọng của công chúng trong chương trình phát triển điện hạt nhân như
sau: Các bên liên quan ở đây được hiểu là những người có thể đưa ra các vấn đề
hoặc đưa ra quyết định. Nhóm này bao gồm cả công chúng. Thông thường có hai
loại liên quan bao gồm: liên quan nội tại và liên quan bên ngoài. Liên quan nội tại
là những người tham gia vào quá trình ra quyết định, trong khi những liên quan
bên ngoài là những người có thể bị ảnh hưởng bởi kết quả của dự án. Sự tham gia
của cả hai loại liên quan có thể tác động tới việc thành công của dự án và có thể chi
phối sự an toàn của nhà máy ĐHN.
Tại sao sự chấp thuận của công chúng là cần thiết?
Hầu hết các chương trình quốc gia về phát triển điện hạt nhân thường được
bắt đầu với một bài kiểm tra trong đó các câu hỏi về kinh tế, kỹ thuật và khoa học
cần phải được trả lời để củng cố niềm tin rằng các lò phản ứng hạt nhân sẽ được
xây dựng và vận hành an toàn, hiệu quả. Những lo âu của công chúng về vấn đề
xây dựng và vận hành các nhà máy điện hạt nhân trong nhiều trường hợp đã dẫn
đến sự trì hoãn hay thất bại để bắt đầu hay để mở rộng các chương trình điện hạt
nhân, và thậm chí trong một vài trường hợp còn gây nên sự thu hẹp các chương
trình hiện có. Trong tư tưởng của công chúng, những rủi ro phát sinh từ quá
trìnhvận hành của các nhà máy điện hạt nhân và từ các chất thải phóng xạ là rất
cao. Rất nhiều quốc gia, các tổ chức và các hiệp hội ngành công nghiệp đã thực thi
các chương trình tương tác với công chúng nhằm mục đích nâng cao hiểu biết của
công chúng về điện hạt nhân, từ đó cho phép các chương trình điện hạt nhân được
thực thi và mở rộng như một nhu cầu cấp thiết.
Những thách thức về truyền thông trong việc phát triển và thực thi một

kết với nhau để nghiên cứu về công nghệ, độ an toàn của lò phản ứng hạt nhân.
Đồng thời, họ cũng rất coi trọng việc đào tạo. Hiện Pháp đã có một đội ngũ kỹ
thuật viên cũng như kỹ sư ở trình độ cao để làm việc trong lĩnh vực hạt nhân.
Theo kinh nghiệm của Pháp, sự chấp nhận công chúng là một trong những
yếu tố cơ bản nhất khi xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Việc này có nghĩa là
chúng ta phải làm như thế nào để chia sẻ những hiểu biết của mình với công chúng
về điện hạt nhân để họ đồng thuận với mình. Ví dụ như công chúng phải hiểu được
những điểm mạnh và những bất cập của năng lượng hạt nhân, những công nghệ
cũng như ảnh hưởng của năng lượng hạt nhân đến với nền kinh tế và môi trường
xung quanh. Pháp đã tiến hành tuyên truyền cho cộng đồng ở nhiều cấp độ khác
nhau, một ví dụ điển hình là hoạt động tranh luận công chúng. Quá trình tổ chức
tranh luận phải được thực hiện minh bạch và sau quá trình đó, công chúng đã chấp
nhận, đồng thuận đối với vấn đề xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Bên cạnh đó,
điều quan trọng khiến công chúng, dư luận đồng thuận là nước này đã có một bộ
luật riêng về điện hạt nhân từ năm 2006. Luật này quy định những vấn đề lớn,
chẳng hạn như vấn đề xử lí chất thải hạt nhân.
- Nhật Bản:
Sự tin cậy, tín nhiệm vào những người liên quan đến hạt nhân và các tổ chức
của họ là yếu tố cần thiết để hiểu về điện hạt nhân. Người lãnh đạo, quản lý tổ
chức, cơ quan, chính phủ phải có được sự tin cậy của công chúng. Khi đó, kể cả
những người dân chưa có nhiều kiến thức cũng sẽ sẵn sàng chào đón, tiếp nhận
những lĩnh vực, kỹ thuật phức tạp.
Nhật Bản hiện có 10 công ty điện lực, sở hữu và vận hành các nhà máy điện
trên 4 đảo lớn nhất của Nhật Bản là Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và tỉnh
Okinawa. Trên 4 đảo này đều có các nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động.
Các công ty điện lực có nhà máy điện hạt nhân đều thực hiện chính sách
truyền thông với cộng đồng địa phương để nhận được sự chấp nhận của công
chúng tại địa phương sẽ thực hiện dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đang có
nhà máy điện hạt nhân hoặc nơi chôn cất, xử lý chất thải phóng xạ. Các công ty
điện lực coi mình như là một thành viên của địa phương, vì vậy tham gia vào rất

máy điện hạt nhân và các thông tin khác nhau mà dân chúng địa phương quan. Đối
với các triển lãm nhà máy điện hạt nhân: cần có nhiều hiện vật triển lãm hấp dẫn,
các câu chuyện vui về cơ chế hoạt động và an toàn sản xuất điện hạt nhân và bức
xạ trong khi khách tham quan thưởng thức các giới thiệu, các trình diễn sinh động
các mô hình có kích thước thực tế của lò phản ứng hạt nhân…
- Trung Quốc:
Trong khoảng thời gian từ khi Trung Quốc bắt đầu chương trình ĐHN vào
cuối những năm 1970 đến khi khởi công xây dựng tổ máy ĐHN đầu tiên
QUISHAN-I tháng 3/1981 và đưa tổ máy này vào vận hành thương mại tháng
4/1994 trên thế giới xảy ra hai tai nạn hạt nhân lớn nhất tại nhà máy điện hạt nhân
Three Miles Island (Mỹ) năm 1979 và Checnobyl (Nga) năm 1986. Các tai nạn này
đã gây ảnh hưởng tiêu cực cho ngành công nghiệp ĐHN thế giới.
Chính vì vậy Trung Quốc rất chú trọng đến công tác thông tin tuyên truyền về
ĐHN để dành được sự ủng hộ cao trong dân chúng. Công tác này được tiến hành ở
mọi cấp với sự tham gia của nhiều bộ, ngành liên quan, đặc biệt là sự quan tâm ủng
hộ của Chính phủ. Các hoạt động chính mà Trung Quốc chú trọng là xây dựng và
duy trì quan hệ tích cực với giới truyền thông, tổ chức cho công chúng tham quan
NMĐHN, tổ chức triển lãm, xuất bản ấn phẩm, hỗ trợ cộng đồng địa phương nơi
có NMĐHN trong các lĩnh vực phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi
trường, giữ vững an ninh xã hội, tiến hành các cuộc điều tra khảo sát và đánh giá
độc lập của một bên thứ ba thông qua Web site, phỏng vấn bằng điện thoại, gửi
phiếu điều tra, trên đài phát thanh và truyền hình...
Có thể nói, với hệ thống chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Trung Quốc, cùng với những thành công và hiệu quả của công tác thông tin
tuyên truyền, Trung Quốc đã nhận được sự ủng hộ của công chúng đối với kế
hoạch phát triển ĐHN của mình.
- Hàn Quốc:
Song song với những thay đổi về mặt chính trị xã hội thì sự quan tâm của
công chúng đối với điện hạt nhân cũng đã tăng mạnh, với phong trào chống đối hạt
nhân cũng đang được phát triển bởi các nhóm bảo vệ môi trường. Mặc dù sự cần

công chúng về sự cần thiết của các nhà máy điện hạt nhân cũng như độ an toàn của
nó.
- Thái Lan
Theo Kế hoạch phát triển năng lượng của đất nước từ năm 2010 đến năm
2030, Thái Lan sẽ có 5 lò phản ứng hạt nhân công suất 1000MWe được đưa vào
vận hành thương mại từ năm 2020, theo đó phần đóng góp của năng lượng hạt
nhân sẽ lên tới 10% sản lượng điện của Thái Lan. Việc xây dựng và vận hành cụm
nhà máy hạt nhân đầu tiên này sẽ thuộc trách nhiêm của Cục Phát triển điện lực
Thái Lan (EGAT).
Việc tìm kiếm sự ủng hộ của dân chúng được coi là thách thức lớn nhất đối
với chương trình phát triển năng lượng hạt nhân của Thái Lan. Nhận thức của dân
chúng về năng lượng hạt nhân và sự thiếu hiểu biết về cách thức sản xuất điện đã
dẫn tới một số cuộc biểu tình chống năng lượng hạt nhân ở một số khu vực có tiềm
năng trong năm ngoái.
Thái Lan không phải là nước duy nhất đối mặt với sự phản đối từ dân chúng
khi chuẩn bị phát triển năng lượng hạt nhân. Các nước khác đang dự kiến phát triển
năng lượng hạt nhận như Malaixia, Indonêxia và Philíppin cũng phải đương đầu
với tình huống tương tự với dân cư của họ.
Qua bài học của một số quốc gia có điện hạt nhân phát triển như Pháp,
Nhật Bản, Hàn Quốc,… cho thấy họ rất quan tâm đến việc nghiên cứu các vấn đề
kinh tế, xã hội, chính trị liên quan đến sự chấp nhận của công chúng đối với điện
hạt nhân, từ đó có chiến lược, mục tiêu, giải pháp phù hợp và hiệu quả cho hoạt
động thông tin tuyên truyền nhằm đạt được sự chia sẻ, đồng thuận cao nhất cho
chương trình phát triển điện hạt nhân của mỗi nước.
II. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC THÔNG
TIN TUYÊN TRUYỀN VỀ ĐIỆN HẠT NHÂN Ở VIỆT NAM
1. Nhu cầu phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam:
Theo dự báo của Bộ Công Thương, nhu cầu điện sản xuất ở Việt Nam đến
năm 2020 vào khoảng 294 tỷ kWh và đến năm 2030 khoảng 562 tỷ kWh. Trong
khi đó, khả năng cung cấp nhiên liệu từ các nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status