BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỆT NAM
BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ KHÔNG DÂY CÓ ĐỊNH
HƯỚNG VÀO HỆ THỐNG KHAI THÁC SỬ DỤNG MÃ VẠCH TẠI CÁC
TRUNG TÂM CHIA CHỌN BƯU CHÍNH
Mã số: 58-11-KHKT-RD
Chủ trì đề tài: ThS. Nguyễn Tuệ Linh.
Cộng tác viên:
1 – Võ Mạnh Linh
2 – Nguyễn Trung Tâm
3 – Lê Thành Long
4 – Vương Toàn Dũng
5 – Đinh Vương Anh
Hà Nội, tháng 11/2011
2
2
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tên đề tài: Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ không dây có định hướng vào hệ
thống khai thác sử dụng mã vạch tại các trung tâm chia chọn bưu chính.
Mã số: 58-11-KHKT-RD.
Ngày 22/2/2011, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam và Văn phòng Bộ Thông tin và
Truyền thông đã ký Hợp đồng Khoa học công nghệ số 59/HĐ-KHCN về việc thực hiện đề
tài “Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ không dây có định hướng vào hệ thống khai
thác sử dụng mã vạch tại các trung tâm chia chọn bưu chính” – Mã số 58-11-KHKT-
RD gồm các nội dung chính như sau:
- Phân tích, đánh giá về công tác khai thác - chia chọn bưu gửi sử dụng mã vạch
hiện tại của Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam.
- Tóm tắt, đánh giá về công nghệ phát sóng không dây có định hướng và trang thiết
bị kỹ thuật đi kèm. Đánh giá ưu/nhược điểm của công nghệ này so với các công nghệ
Bưu phẩm, bưu kiện đến và đi và trong thời gian chia chọn sẽ không thường xuyên
ở một vị trí cố định. Hình dạng, kích thước, trọng lượng bưu gửi biến động trong một dải
rộng. Với những bưu kiện lớn, cồng kềnh thì việc sử dụng chủ yếu các thiết bị đọc mã
vạch dùng dây hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác, do vậy:
- Các thiết bị đọc mã vạch phải gọn, nhẹ, dễ dàng cầm bằng tay trong quá trình khai
thác, hoạt động trong vùng rộng của một sàn khai thác. Vì khi bưu phẩm, bưu kiện
về, thường được phân loại bằng thiết bị đọc mã vạch. Trong suốt quá trình khai
thác, thiết bị đọc mã vạch phải luôn luôn được kết nối với máy chủ, nếu sử dụng
cáp nối thì sẽ không đảm bảo sự linh hoạt trong khi di chuyển.
- Ngoài ra, nhu cầu thông tin liên lạc giữa những người khai thác là cả một vấn đề,
khi các vị trí khai thác là khác nhau và cách xa nhau thì có một sự thông tin liên lạc
giữa những người trong tổ là điều quan trọng. Hơn nữa, khi khai thác, độ ồn lớn thì
một hệ thống liên lạc chất lượng và ổn định là cần thiết.
1.2. Yêu cầu của hệ thống
Từ những đặc điểm đã phân tích đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống thiết bị
trên sàn khai thác như sau:
- Hệ thống trang thiết bị đọc mã vạch phải rất linh hoạt và cơ động. Có thể di chuyển
tới mọi vị trí của sàn khai thác.
- Đường truyền giữa thiết bị đọc tới máy chủ phải là đường truyền không dây điểm
tới đa điểm và ngược lại mới đảm bảo sự linh hoạt, cơ động và đảm bảo phạm vi sử
dụng rộng ở mọi vị trí trên sàn khai thác.
- Phạm vi hoạt động của thiết bị không dây phải đảm bảo phủ kín trong vùng khai
thác, không bị hạn chế bởi vấn đề một số thay đổi do hàng hoá tạo nên vùng che
khuất.
- Hỗ trợ cho việc di chuyển của người khai thác với tốc độ di chuyển đi bộ bình
thường.
- Đảm bảo tính sẵn sàng và hạn chế tối đa việc gián đoạn do sự cố thiết bị.
- Tin cậy trong việc trao đổi dữ liệu, tránh nguy cơ bị tấn công hoặc nghe trộm dữ
liệu trong quá trình khai thác.
- Dễ dàng và thuận lợi trong công tác triển khai, bảo trì.
- Sử dụng chuẩn N cùng với công nghệ về anten MIMO, cho phép hệ thống WiFi
tăng được đáng kể thông lượng đủ cho các dịch băng rộng thời gian thực, như:
• Tốc độ cực cao với phạm vi tín hiệu tốt và ít bị che khuất. Bổ sung công
nghệ anten MIMO giúp chống fading, nâng cao QoS. Tương tích ngược hoàn
toàn với các chuẩn a/b/g trước đó.
• Tốc độ truyền vật lý có thể lên tới 600Mbps (MIMO 4x4) – Cho phép hỗ trợ
các ứng dụng băng rộng kể cả theo thời gian thực.
- Sử dụng anten có định hướng, có thể kết hợp anten đẳng hướng, cho phép mạng
WLAN dùng WiFi có thể mở rộng vùng phủ sóng xa hơn và có định hướng, việc
này cho phép cải thiện đáng kể tỷ số S/N cho hệ thống.
- Với tính năng Roaming đã cho phép các thiết bị nhận tín hiệu WiFi có thể di chuyển
ở tốc độ cao tương đương như các phương tiện giao thông công cộng hiện nay. Như
vậy với yêu cầu cho khai thác bưu chính, người khai thác thực hiện di chuyển với
tốc độ của người đi bộ sẽ không bị ảnh hưởng bởi việc di chuyển; thời gian chuyển
đổi việc truy nhập của các thiết bị đầu cuối với các trạm phát sóng sẽ đảm bảo việc
khai thác số liệu liên tục (thời gian thực) và không bị gián đoạn.
- Sử dụng các công nghệ bảo mật WPA/2 và IEEE802.1x để bảo vệ tính toàn vẹn của
hệ thống và tránh được sự tấn công từ bên ngoài.
III. Đánh giá khả năng ứng dụng công nghệ phát sóng không dây vào hệ
thống mã vạch để triển khai dịch vụ logistics và cung cấp giá trị gia tăng cho khách
hàng.
Việc quét mã vạch đã giúp cho quá trình khai thác được thực hiện nhanh chóng,
chính xác, rút ngắn thời gian kiểm gạch thủ công đã thực hiện trước đây. Từ đó đã giúp cho
việc tăng năng suất và chất lượng khai thác dịch vụ. Trong hành trình đi của một bưu gửi
từ khi chấp nhận tại giao dịch đến tay người nhận trung bình thường qua các cấp bưu cục
5