Luận văn thạc sỹ kỹ thuật - Đề tài nghiên cứu biện pháp móng Top - Base xử lý nền đất yếu dưới móng tường chắn đất thuộc dự án đường bờ kè sông Cái - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

***

BẠCH VĂN SỸ

Đề tài: “Nghiên cứu biện pháp móng Top – Base xử lý nền đất yếu dưới móng
tường chắn đất thuộc dự án đường Bờ Kè sông Cái – thành phố Nha Trang –
Khánh Hòa”.
CHUYÊN NGÀNH: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố
Mã số : 60.58.30

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ THẾ SƠN
Năm 2013
1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

2

1. 3. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là các kết quả nghiên cứu của luận văn hoàn toàn
có thể áp dụng để thiết kế xử lý nền đất yếu dưới đáy móng công trình bằng biện pháp
móng Top – Base nhằm mang lại hiệu quả về xử lý nền cũng như hiệu quả về kinh tế.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nền đất yếu bão hòa nước thuộc địa chất khu
vực ven sông Cái và biện pháp cải tạo đất yếu bằng phương pháp móng Top – Base dựa
trên các tiêu chuẩn xây dựng hiện hành.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Biện pháp móng Top – Base là một biện pháp cải tạo đất yếu mới đưa vào áp dụng
tại Việt Nam từ những năm 2008 và chủ yếu là xử lý nền đất yếu dưới móng của các
công trình nhà dân dụng và công nghiệp. Tuy nhiên, ở đây luận văn nghiên cứu biện pháp
cải tạo này áp dụng cho kết cấu tường chắn đất ven sông thuộc dự án đường Bờ Kè sông
Cái – thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh hòa.
4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của luận án nhằm giới thiệu một cách tổng quát các phương pháp xử lý
nền đất yếu khi tiến hành xây dựng công trình trên nền đất yếu. Trong đó biện pháp cải
tạo đất yếu bằng móng Top – Base sẽ được xem xét, phân tích và tính toán một cách kỹ
lưỡng, chi tiết hơn. Qua đó giúp cho người kỹ sư thiết kế cũng như nhà quản lý có cơ sở
để lựa chọn và tìm ra giải pháp thiết kế một cách hiệu quả nhất.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với phương pháp
chuyên gia. Dựa trên những tài liệu có sẵn và bằng những tư duy logic để rút ra những
kết luận khoa học cần thiết. Từ những kết luận đó kết hợp với bài toán thực tiễn để đánh
giá và rút ra những kết luận đầy đủ và chính xác về đối tượng nghiên cứu.
6. Những hạn chế của luận văn và độ tin cậy của các số liệu:
6. 1. Những hạn chế của luận văn:
Luận văn đã nghiên cứu khá chi tiết về phương pháp gia cố nền đất yếu mới đó là

sông, đồng thời so sánh với giải pháp thiết kế hiện hữu là sử dụng cọc bê tông cốt thép.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị. Trình bày những kết luận và kiến nghị của tác
giả khi nghiên cứu về biện pháp xử lý nền đất yếu bằng móng Top – Base.
4

CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU
1.1. Khái niệm về đất yếu:
Đất yếu là những loại đất có khả năng chịu lực thấp (0.5 – 1 kG/cm
2
), hầu như
hoàn toàn bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (thường e >1), hệ số nén lún lớn, modul biến
dạng bé (E
0
< 50kG/cm
2
)
[18]
. Giá trị sức chống cắt không đáng kể. Công trình xây dựng
trên nền đất yếu phải có biện pháp xử lý, nếu không thì sau khi xây dựng công trình khó
có khả năng đứng vững trong suốt thời kỳ khai thác.
Theo quy trình khảo sát thiết kế nền đường ô tô đắp trên đất yếu 22TCN 262-2000
thì đất yếu có nguồn góc chủ yếu từ khoáng vật và nguồn gốc hữu cơ.
 Loại có nguồn gốc khoáng vật thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở
ven biển, vùng vịnh, đầm hồ…; loại này có thể lẫn hữu cơ trong quá trình trầm tích (hàm
lượng hữu cơ có thể tới 10 - 12 %) nên có thể có màu nâu đen, xám đen, có mùi. Đối với
loại này, được xác định là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên, độ ẩm của chúng gần bằng
hoặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số rỗng lớn (sét e ≥ 1.5, á sét e ≥1), lực dính C theo kết
quả cắt nhanh không thoát nước từ 0,15 daN/cm
2

suốt quá trình thi công cũng như khai thác.
 Đảm bảo yêu cầu về độ lún: phải tính toán được độ lún của nền cũng như
của công trình để từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.
1.2.2. Các phương pháp gia cố nền đất yếu:
1.2.2.1. Phương pháp thay đất đệm cát:
a. Phạm vi áp dụng.
Thay đất là biện pháp thay nền đất yếu bằng các loại vật liệu có cường độ chống
cắt lớn như cát, cát sỏi, đất tốt… lớp đệm cát sử dụng hiệu quả nhất khi lớp đất yếu là đất
sét bão hòa nước và có chiều dày nhỏ hơn 3m. Việc thay đất bằng đệm cát thường có tấc
dụng chính sau đây:
 Giảm độ lún của nền công trình và độ lún không đều, đồng thời làm tăng
nhanh quá trình cố kết của đất nền (vì cát có hệ số thấm lớn).
 Làm tăng khả năng ổn định của công trình kể cả khi có tải trọng ngang tác
dụng vì cát được nén chặt sẽ tăng lực ma sát và tăng khả năng chống trượt.
 Kích thước kết cấu móng, nền đắp và chiều sâu chôn móng giảm do sức chịu
tải của nền đất tăng lên.
 Thi công đơn giản, không đòi hỏi thiết bị nhiều nên được sử dụng tương đối
rộng rãi ở nước ta.
Với ưu điểm tăng độ ổn định của nền đất, giảm lún. Tuy nhiên, việc thay đất bằng đệm
cát cũng có những hạn chế nhất định và thường không sử dụng trong các trương hợp sau:
 Lớp đất yếu cần thay thế quá dày, chiều dày trên 3m. Vì khi đó thi công khó
khăn, chi thi công phí lớn.
6

 Mực nước ngầm cao và nước có áp, vì cần phải hạ thấp mực nước ngầm và
tầng đệm cát sẽ không ổn định do dễ xuất hiện hiện tượng xói ngầm và hóa
lỏng của cát.
b. Nguyên lý tính toán thiết kế.
Việc tính toán thiết kế lớp đệm cát , yêu cầu phải đảm bảo các điều kiện sau:
 Lớp đệm cát ổn định dưới tác dụng của tải trọng công trình

2
- ứng suất do tải trọng công trình gây ra trên mặt lớp đất yếu dưới
đáy lớp đệm cát.
R
tc
– áp lực tiêu chuẩn ở trên mặt lớp đất yếu dưới đáy lớp đệm cát,
được xác định theo công thức của quy phạm.
 
 
cDhhBbAR
tbdmmq
tc



Với: A, B, D - hệ số không thứ nguyên phụ thuộc vào góc ma sát trong φ của đất
b
mq
– chiều rộng móng quy ước.
γ
tb
– trọng lượng thể tích trung bình của các lớp đất từ mặt đất tự nhiên đến đáy
lớp đệm cát, có xét tới áp lực đẩy nổi của nước.
c – cường độ lực dính của đất
h
d
– chiều dày lớp đệm cát
 Độ lún S dưới móng công trình:
Được xác định theo biểu thức sau: S = S1 + S2 < [S]
Trong đó: S1 – độ lún của đệm cát

 Làm tăng nhanh quá trình thoát nước lỗ rỗng, dẫn đến quá trình cố kết của
nền đất yếu được nhanh hơn, làm cho độ lún của nền đất nhanh đạt tới trạng
thái ổn định.
 Đất được nén chặt thêm, độ rỗng của đất giảm và cường độ của nền phức
hợp (gồm cọc cát và đất giữa cọc cát) được tăng lên.
 Thi công đơn giản bằng các vật liệu rẻ tiền như cát thô, sỏi sạn nên chi phí
thấp hơn so với đệm cát và các loại móng cọc. Cọc cát dùng để gia cố nền
đất yếu có chiều dày lớn hơn 3m.
Cọc cát có ưu điểm là làm tăng nhanh quá trình cố kết của nền đất. Tuy nhiên, cọc
cát không nên dùng với trường hợp nền đất yếu quá nhão và khi chiều dày lớp đất yếu
mỏng.
b. Nguyên lý tính toán:
 Xác định hệ số rỗng thiết kế e
tk
:
Độ lèn chặt của đất được đánh giá bằng độ giảm hệ số rỗng Δe:
Δe = e
0
– e
tk

Trong đó: e
0
– hệ số rỗng tự nhiên của đất.
e
tk
– hệ số rỗng của đất nền khi lèn chặt, nó phụ thuộc vào loại đất
nền.
 Với nền đất cát :
).(

n
= (b +2c)(l+2c)
9

Trong đó: b, l – bề rộng và chiều dai móng
c = 0.1b nhưng không nhỏ hơn 0.5m
 Diện tích tiết diện cọc cát trong 1m2 diện tích nền:
0
0
1 e
ee
F
F
tk
n
c



, với Fc – tổng diện tích các tiết diện cọc cát, Fn – diện tích
nền.
 Số lượng cọc trong nền: xác định theo công thức:
c
n
f
F
N


, fc – diện tích mặt cắt ngang cọc cát

của ống mở ra và cát tụt xuống. Sau đó rút ống lên dần dần với vận tốc đều, vừa rút vừa
rung cho cát được làm chặt.
Sau khi thi công xong cọc cát cần kiểm tra lại bằng phương pháp xuyên tiêu
chuẩn, thử bàn nén tĩnh hoặc khoan lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu cơ lý của đất sau khi
lèn chặt bằng cọc cát.

10

1.2.2.3. Phương pháp gia tải nén trước:
Khi tiến hành xây dựng công trình trên nền đất yếu bão hòa nước như bùn, than
bùn, sét, á sét dẻo vv… thì áp dụng biện pháp cọc cát đơn thuần ít có tác dụng vì đất dính
bão hòa nước là loại đất có đặc điểm là cố kết kéo dài theo thời gian. Vì vậy, muốn quá
trình cố kết diễn ra nhanh chóng, nền đất nhanh đạt sức chịu tải thiết kế thì cần phải có hệ
thống nén trước để đẩy nhanh quá trình cố kết nói trên.
Phương pháp gia tải nén trước được sử dụng nhằm mục đích:
 Làm tăng sức chịu tải của đất nền.
 Tăng nhanh thời gian cố kết, làm cho độ lún nhanh đạt tới độ ổn định.
Muốn đạt được điều đó cần phải tiến hành chất tải trọng bằng hoặc lớn hơn tải
trọng công trình dự định thiết kế lê nền đất yếu đê nền chịu tải và lún trước khi tiến hành
xây dựng thực. Hiện nay để tăng nhanh tốc độ cố kết thoát nước người ta sử dụng kết hợp
gia tải với cọc cát, giếng cát hoặc bấc thấm.

Phương pháp nén trước không dùng giếng thoát nước:
Phương pháp này sử dụng khi cấu tạo địa chất tự nhiên ở vùng xây dựng đã có các
lớp thoát nước cho lớp đất yếu cần gia cố. Để đảm bảo điều kiện thoát nước tốt thì tốt
nhất chiều dày tầng đất yếu không nên vượt quá 3m, còn áp lực nén trước sinh ra do chất
tải thì nên lấy bằng hoặc lớn hơn khoảng 20% tải trọng thiết kế vì nếu chọn quá lớn thì
nền đất yếu sẽ dễ phát sinh biến dạng trượt, gây nên sự phá hoại không cần thiết.
Quá trình gia tải có thể tiến hành theo hai cách sau đây:
 Chất tải trọng nén trước ngay trên mặt đất, tại vị trí sẽ xây móng sau này.

giảm thời gian chờ lún cố kết của nền đất, từ đó giảm thời gian thi công của
công trình.
b. Nguyên lý thiết kế:
Đất xử lý trộn sâu được thiết kế sao cho công trình xây dựng đạt các yêu cầu về
tính khả thi, tính kinh tế và ổn định lâu dài, chịu được các tác động cũng như các ảnh
hưởng trong quá trình thi công và sử dụng, tức là thõa mãn các điều kiện về trạng thái
giới hạn cường độ và trạng thái giới hạn sử dụng.
12

Công tác thiết kế thường sử dụng phương pháp lặp, trong đó kết quả của các
phương pháp thí nghiệm, kiểm tra là rất quan trọng. Thiết kế sơ bộ dựa trên kết quả thí
nghiệm mẫu trộn trong phòng, tương quan cường độ nén không nở hông giữa mẫu thân
trụ ở hiện trường và mẫu trộn trong phòng thí nghiệm có thể chọn theo kinh nghiệm từ
0.2 – 0.5 tùy theo loại đất và tỷ lệ trộn. Nếu kết quả thí nghiệm hiện trường không đáp
ứng yêu cầu thì cần phải điều chỉnh thiết kế công nghệ và khi cần thiết có thể điều chỉnh
cả thiết kế chức năng.
Quy trình thiết kế có thể thực hiện theo trình tự sau:
 Khảo sát địa chất khu vực đất yếu cần gia cố, thí nghiệm xác định hàm
lượng chất kết dính xi măng/vôi thích hợp trong phòng thí nghiệm.
 Thiết kế sơ bộ nền gia cố theo điều kiện tải trọng tác dụng của kết cấu bên
trên.
 Thi công trụ thử bằng thiết bị dự kiến sử dụng
 Tiến hành thí nghiệm kiểm tra (xuyên tĩnh, nén tĩnh, lấy mẫu, xuyên cánh
vv…)
 So sánh lại với các kết quả thí nghiệm trong phòng, đánh giá lại các chỉ tiêu
cần thiết.
 Điều chỉnh thiết kế (hàm lượng chất gia cố, chiều dài cọc, khoảng cách giữa
các cọc …)
 Thi công đại trà theo công nghệ đã đạt yêu cầu và kiểm tra chất lượng để
tiến hành nghiệm thu.

kiện là mỗi chổ nối tiếp phải đảm bảo kín tuyệt đối vì nếu mối nối hở thì sẽ mất áp lực
chân không nên nước sẽ không được thoát ra ngoài.
Ưu điểm chính của phương pháp này là giảm được thời gian chờ cố kết xuống đến
mức ít nhất, tùy thuộc vào năng lực bơm hút đồng thời đảm bảo không xảy ra hiện tượng
lún khi đưa công trình vào khai thác.
Bên cạnh những ưu điểm thì nó có những nhược điểm sau:
 Chiều cao đắp phía trên chỉ được có 4m tương đương với áp lực 80kPa hay
nói cách khác năng lực bơm hút bị hạn chế, thời gian bơm hút hoàn toàn
dựa vào thiết bị thi công
 Chi phí tốn kém
 Rủi ro thường bị rò rỉ khí chổ nối tiếp hoặc do màng phủ không đảm bảo đủ
kín
 Chỉ áp dụng được ở những nơi đất rất yếu và không thể gia tải phía trên. 14

1.2.2.6. Phương pháp móng Top – Base.
Phương pháp Top - Base được sử dụng lần đầu tiên tại Nhật Bản vào những năm
80 của thế kỷ XX. Trong thời gian đầu thì giải pháp này không được quan tâm nghiên
cứu và phát triển. Sau trận động đất lớn ở Chiba Nhật Bản vào năm 1987, người Nhật
nhận thấy sự bền vững của những công trình được sử dụng phương pháp Top - Base. Từ
đó họ bắt đầu tập trung nghiên cứu và phát triển chúng.
Top - Base đã trở thành một thuật ngữ quốc tế dưới tên gọi Phương pháp móng
cọc đài phễu (Top - Base Method). Với việc chế tạo hàng loạt những Top-Block bằng bê
tông trong nhà máy, Phương pháp Top - Base dễ dàng được sử dụng trong nhiều công
trình tại Nhật Bản. Tuy nhiên, mỗi Top-Block nặng khoảng 75kg, việc vận chuyển chúng
đến công trường rất phức tạp và đòi hỏi thi công bằng các thiết bị lớn.
Nhận thấy tính ưu việt của Phương pháp Top - Base, các kỹ sư Hàn Quốc nhanh
chóng nghiên cứu, ứng dụng và cải tiến mạnh mẽ công nghệ này. Thay cho việc đúc sẵn

Ngày nay, trong xây dựng đặc biệt là xây dựng cầu đường với đặc điểm là công
trình trải dài theo tuyến nên việc đi qua vùng địa chất yếu là vấn đề thường gặp. Vấn đề ở
chổ là phải biết nhìn nhận và đánh giá những ưu nhược điểm của phương pháp để lựa
chọn ra một giải pháp gia cố hợp lý với điều kiện cụ thể của công trình.
1.4. Lựa chọn nội dung nghiên cứu:
1.4.1. Đặt vấn đề nghiên cứu:
Phương pháp móng Top – Base là phương pháp cải tạo nền đất yếu được sử dụng
rất lâu trên thế giới, đặc biệt là ở Nhật Bản và Hàn Quốc, ở Việt Nam mới bắt đầu sử
dụng từ năm 2008. Đến nay thì đã có rất nhiều công trình áp dụng phương pháp này ở
nước ta, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và công nghiệp. Còn trong lĩnh cầu
đường thì hiện nay còn phải nghiên cứu và có đánh giá cụ thể. Phương pháp đã được áp
dụng tại một số công trình cụ thể nhưng phương pháp lại chưa có một hướng dẫn thiết kế
và thi công rõ ràng. Do đó để có được đánh giá cụ thể về phương pháp chúng ta cần phải
giải quyết một số nội dung sau:
 Kiểm tra tính ứng dụng của phương pháp trong điều kiện địa chất ở nước
ta.
 Đánh giá mức độ hợp lý của phương pháp khi áp dụng vào một công trình
cụ thể có tính chất trải dài theo tuyến.
16

 Tiến tới ban hành những hướng dẫn cụ thể về thiết kế và thi công móng
Top – Base.
1.4.2. Lựa chọn nội dung nghiên cứu:
Phương pháp này đã được chuyển giao cho công ty Tadits tại Việt Nam vào năm
2008. Tuy nhiên những tài liệu cụ thể về tính toán thiết kế và thi công lưu hành còn rất ít.
Vì vậy, để nghiên cứu và áp dụng phương pháp này một cách có hiệu quả về kỹ thuật lẫn
kinh tế thì cần phải có nhiều thời gian và cần phải kết hợp với tính toán trong phòng và
kiểm tra thông qua kết quả thí nghiệm hiện trường, đồng thời cần có những tập hợp, đánh
giá qua những công trình đã hoàn thiện thi công.
Trong khuôn khổ của luận án này tôi chỉ nghiên cứu các vấn đề về nguyên lý thiết

2.2. Phạm vi áp dụng:
18

2.2.1. Tình hình áp dụng trên thế giới:
Công nghệ Top-Base vốn được coi là một bước đột phá về công nghệ xây dựng ,
đã được hoàn thiện và áp dụng thành công trên nền đất yếu hơn 30 năm ở Nhật Bản, Hàn
Quốc. Công nghệ Top-Base được phát minh tại Nhật Bản vào những năm 1980, trong
thời gian này công nghệ mới Top –Base đã dành được sự tín nhiệm rất cao của các kỹ sư
xây dựng và được ứng dụng rộng rãi tại Nhật Bản với hơn 6000 công trình được xây
dựng trên nền đất Top-Base. Các công trình xây dựng trên nền Top- Base đã qua được các
trận động đất khủng khiếp tại Chiba năm 1987 và Kobe năm 1995 mà hầu như không bị hư
hại gì. Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã được tiến hành để lý giải hiệu quả của
phương pháp và đã được công bố trên các tạp chí Địa kỹ thuật của Nhật bản cũng như tại các
hội thảo quốc tế về xử lý nền.
Đầu những năm 1990 công nghệ được nghiên cứu ứng dụng tại Hàn Quốc và đã
có nhiều phát minh quan trọng kể từ đó, đặc biệt trong lĩnh vực thi công. Các cải tiến của
Hàn Quốc đã làm cho Top-Base trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn trong thi công,
thân thiện với môi trường và đặc biệt giá thành hạ một cách thuyết phục . Với hơn 2000
công trình ở Hàn Quốc được xây dựng trên nền Top- Base vào những năm 1990, riêng
năm 2007 đã có hơn 8 triệu khối bê tông Top-Block được sử dụng tương đương với 2
triệu m2 đất nền được gia cố. Nền Top-Base được sử dụng cho nền đất yếu để tăng cường
khả năng chịu tải của nền đất và giảm kết cấu móng. Nhờ những ưu việt của phương pháp
mới mang lại mà sau này được công ty Banseok Top-Base Co., Ltd tiếp tục nghiên cứu
và phát triển với trung tâm nghiên cứu chính đặt tại
trường đại học Dankook.
Móng Top-Base là một lớp vật liệu nhân tạo
được bố trí bên dưới kết cấu móng và bên trên nền
đất tự nhiên nhằm làm tăng khả năng tiếp nhận tải
trọng của đất nền và làm giảm độ lún của móng,
giảm thời gian cố kết lún của đất. Thành phần chủ

Một số công trình điển hình ở Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng phương pháp móng
Top-Base: Hình 2.4: Tường chắn đất ở Busan
[1]Hình 2.2: Bãi chứa container ở Kwangyang
[1]

Hình 2.3: Cống hộp tại đại lộ Iksan
[1]

20 2.2.2. Tình hình áp dụng tại Việt Nam:
Công nghệ móng Top-Base được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam trong buổi trao
đổi giữa Giáo sư Kim Hak-Moon của Trường Đại học Dankook, Seoul cùng Công ty
Banseok với Bộ môn Cơ học đất – Nền móng Trường Đại học Xây dựng năm 2007. Cũng
trong năm này, Ông Đỗ Đức Thắng, Giám đốc Công ty Kết cấu và Công nghệ mới Việt Nam
(NST Việt Nam) đã tham quan công nghệ này tại Hàn Quốc và hình thành ý định áp dụng
công nghệ mới ở Việt Nam.

[1]

2.3.2. Cấu tạo khối Top – Block:
Phương pháp Top-Base với đặc điểm khác biệt so với các phương pháp khác trong
cải tạo nền đất yếu ở chổ tận dụng được quá trình truyền ứng suất trong bê tông thông
qua các khối Top-Block. Hiện nay công nghệ Top –Base đưa ra 3 loại Top-Block với các
kích thước tương ứng là 330mm, 500mm và 2000mm có cấu tạo như hình sau
[1]
:

2.3.3. Nguyên lý chịu lực của móng Top – Base:
Hình 2.8: Cấu Tạo Top-Block

330,

500
[1]
.

). Điều này
dẫn đến biến dạng ngang bị ngăn cản bởi lực kháng của
lớp vật liệu rời rạc và phần cọc, như trong (Hình 2.9c).
Tóm lại, phương pháp Top-Base là phương pháp
cải thiện nền đất làm tăng khả năng chịu tải của nền đất và
giảm độ lún do sự phân phối lại ứng suất và ngăn cản biến
dạng ngang thông qua việc thiết lập nên hệ kết cấu tạo bởi
lớp đá dăm và hình dạng bánh xích của phần trụ nón. (Hình 2.10) thể hiện biểu đồ phân
phối cho các loại móng khác nhau: móng bê tông và móng đá dăm có đường phân bố ứng
suất không đều, móng trên nền Top-Base cho kết quả đường phân bố ứng suất đồng đều,
có nghĩa là móng trên nền Top-Base ổn định hơn. Thực tế, Top-Base làm tăng từ 1,5 ÷
2,5 lần khả năng chịu tải của nền và làm giảm 1/2 ÷ 1/4 lần độ lún so với nền đất ban đầu.
Top-Base không chỉ có tác dụng phân phối đều tải trọng tác dụng và độ lún, nó còn làm
giảm cường độ tải trọng truyền qua lớp Top-Base do sự phân phối lại ứng suất, vì vậy tải
trọng tác dụng sẽ không gây ảnh hưởng đến lớp đất ở dưới sâu. Hình 2.9c: Biến dạng ngang
[1]

Hình 2.10. Phân phối ứng suất của các loại móng khác nhau sau khi lún

dài hạn
[1]
:
23 Hình 2.11. Phân bố ứng suất dưới nền không gia cố và nền gia cố bằng Top - Base
[1]

Bảng 2.1: Phân tích các chỉ tiêu cơ lý
[1]

Hình 2.13: Quan hệ độ lún với thời gian xác định ở hiện trường
[1]

Ở trong phòng thí nghiệm, kết quả thí nghiệm với lớp Top – Base đường kính 6cm,
thiết bị chứa đất thí nghiệm có đường kính 50cm, sử dụng 9 Top-Block chia làm 3 hàng. Kết
quả độ lún theo thời gian cũng tương tự với kết quả ở ngoài hiện trường (hình 2.14).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status