Hướng dẫn ôn thi tuyển sinh vào lớp 10
I. Dạng câu tự luận ngắn:
1. Viết một đoạn văn ( 6 – 8 câu ) nêu ý nghĩa hình ảnh tiếng chim tu hú trong bài thơ cùng
tên của Tố Hữu, trong đó, có câu chứa thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, bắt đầu bằng từ
“khi”.
2. Viết một đoạn văn ( 5 -7 câu ) về ý nghĩa chi tiết kì ảo kết thúc “Chuyện người con gái
Nam Xương”.
3. “Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da,
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thủy,nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm,liễu hờn kém xanh”
( “Truyện Kiều”, Nguyễn Du).
a, Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên.
b,Viết một đoạn văn ( tối đa 7 câu) phân tích hiệu quả của một biện pháp tu từ, trong đó có
sử dụng câu ghép đẳng lập.
4.
a. Chép thuộc lòng 8 câu thơ cuối trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” chỉ ra các biện
pháp tu từ.
b. Viết đoạn văn ( 10 -12 câu) phân tích tác dụng biện pháp tu từ được sử dụng trong tám
câu thơ trên.
5. Cho hai câu thơ: “Quê hương anh nước mặn đồng chua – Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi
đá” ( “Đồng chí” – Chính Hữu )
Cho biết:
a. Quê hương các anh bộ đội ở vùng nào?
b. Chỉ ra biện pháp tu từ trong các câu thơ trên.
c. Viết một đoạn văn ngắn ( 6- 8 câu), với câu chủ đề là một câu ghép chính phụ, nêu hiệu
quả của một trong số những biện pháp tu từ tìm được.
b. Viết một đoạn văn ( từ 5 -7 câu ) nêu ý nghĩa của biện pháp tu từ đó, câu kết đoạn là
một câu cảm.
12. Viết đoạn văn ( khoảng 6 câu ) giải thích ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh “tiếng sấm” trong
câu thơ “Sấm cũng bớt bất ngờ - Trên hàng cây đứng tuổi”.
II. Dạng tự luận dài ( Bài văn ):
1. Cảm nhận về vẻ đẹp của người đồng mình qua bài thơ “Nói với con” (Y Phương).
2. Cảm nhận về người bà trong bài thơ “Bếp lửa”.
3. Cảm nhận về vẻ đẹp hình ảnh người chiến sĩ lái xe trong một số khổ thơ mà em thích
nhất trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.
4. Vẻ đẹp của tình đồng chí được thể hiện trong bài thơ “Đồng chí”.
5. Cảm nhận về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa
Đề bài: Bức tranh mùa xuân trong "Cảnh ngày xuân"( Trích Truyện Kiều- Nguyễn Du) và
"Mùa xuân nho nhỏ" ( Thanh Hải).
( Trích bài làm đạt giải Nhất, kì thi HSG môn Ngữ Văn 9- Hải Phòng, năm học 2007-2008)
Mùa xuân vốn là đề tài vô tận của thi nhân xưa và nay. Nếu như hoạ sĩ dùng đường nét và
sắc màu, nhạc sĩ dùng giai điệu và âm thanh thì thi sĩ lại dùng hình ảnh và ngôn từ để diễn
tả cảm xúc của mình-đặc biệt là diễn tả tình yêu thiên nhiên, yêu cái men say nồng của sắc
xuân hương xuân. Hãy lật từng trang sách đến với bốn câu thơ đầu trong đoạn trích Cảnh
ngày xuân trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du. Hãy hoà nhịp tâm hồn vào đất trời xứ
Huế với bốn câu thơ đầu trong Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, bạn sẽ thấy non sông
gấm vóc, quê hương Việt Nam đẹp biết bao!
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Và:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Vân trong buổi du xuân. Bức tranh xuân của Thanh Hải tươi sáng, ân tình, chứa chan cảm
xúc, thấm thía lòng người. Tâm hồn họ đều rất thăng hoa, rất thiết tha, nhưng mỗi người lại
có một bút pháp nghệ thuật riêng đễ ghi đậm cái tôi cá nhân trong lòng độc giả. Nếu như
Nguyễn Du đã vận dụng khéo léo thể thơ lục bát của dân tộc thì Thanh Hải cũng rất mượt
mà với thể thơ ngũ ngôn ngân nga như điệu nhạc xứ Huế - trong bản hoà ca của đất nước
đang xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Nguyễn Du với mười lăm năm lưu lạc, còn Thanh Hải đang phải giáp ranh với cái chết nhưng
ở họ vẫn nồng cháy tình yêu thiên nhiên, đất trời, Tình cảm ấy đã hoà chung dòng chảy với
các tác phẩm khác viết về mùa xuân.
Đã nhiều năm trôi qua, nhưng khi đọc những dòng thơ trên, lòng người đọc vẫn không khỏi
xúc động, rạo rực, mê say. Có lẽ Nguyễn Du cũng như Thanh Hải sẽ còn sống mãi trong trái
tim người đọc bởi những vần thơ như thế, bởi tấm lòng yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên, đất
trời và con người tha thiết. Bởi chính ngòi bút của họ đã thăng hoa thành những nét vẽ khắc
sâu trong hồn ta một mùa xuân bất diệt, vĩnh hằng và truyền vào lòng ta khát vọng được
cống hiến, được làm "Một mùa xuân nho nhỏ/ Lặng lẽ dâng cho đời "
Trịnh Thị Tuyết
THCS An Hưng - An Dương - Hải Phòng.
Đề bài: Có người khi đọc "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ và "Chiếc lá
cuối cùng" của Ô.Hen-ri đã có nhận xét: "Chiếc bóng trên vách đã giết chết Vũ Nương
nhưng chiếc lá trên tường lại cứu sống Giôn-xi". Hãy phát biểu ý kiến của em về vấn đề này.
=> một số gợi ý:
- Chiếc bóng trên vách là người giả , chiếc lá trên tường là lá giả vậy mà hai cái "giả" đã đưa
đến cái "thật" đối nghịch nhau: cái chết và sự sống. Con người vững lòng tin ở sự sống
trong việc chờ chồng, nuôi con lại phải đi đến cái chết ( Vũ Nương ) còn con người đang đi
vào cái chết lại tìm thấy sự sống ( Giôn-xi )
- Nêu ý nghĩa của hình tượng "chiếc lá" và hình tượng "chiếc bóng".
+ Ý nghĩa của hình tượng chiếc lá trong truyện "Chiếc lá cuối cùng":Đây là một hình tượng
đẹp thể hiện tình yêu thương cao cả và giàu đức hi sinh của cụ Bơ - men dành cho Giôn - xi.
Tình yêu thương ấy hóa thân vào hình tượng chiếc lá và nó có sức mạnh thật diệu kì. Nó
vực dậy tinh thần cho Giôn-xi, đánh thức trong cô niềm ham sống, yêu đời và đánh thức cả
3. Giọng điệu bài thơ “Nói với con” là gì?
A. Sôi nổi, mạnh mẽ.
B. Ca ngợi, hùng hồn.
C. Tâm tình, tha thiết.
D. Trầm tĩnh, răn dạy.
4. Từ “bé nhỏ” trong câu thơ: “Người đồng mình thô sơ da thịt – Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu
con” được dùng theo nghĩa nào?
A. Nghĩa thực.
B. Nghĩa so sánh.
C. Nghĩa ẩn dụ.
D. Nghĩa cụ thể.
5. Cách gọi “Người đồng mình” trong bài thơ dùng chỉ đối tượng nào?
A. Những người ở cùng làng.
B. Những người cùng thôn xã.
C. Những người cùng nhà.
D. Những người sống cùng miền đất, quê hương.
6. Trong câu văn “ TÌNH YÊU THƯƠNG, một tình yêu thương thực sự và nồng nàn lần đầu
tiên phát sinh ra bên trong nó.”, bộ phận in hoa là thành phần gì?
A. Tình thái.
B. Cảm thán.
C. Phụ chú.
D. Khởi ngữ.
7. Câu nào sau đây có chứa hàm ý?
A. “Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu: lão vừa xin tôi
một ít bả chó”.
B. “Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ!”
C. “Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…”
D. “Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy.”
8. Trong những đề bài sau, đề bài nào KHÔNG thuộc bài nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo
lí?
1.Đoạn trích trên nằm trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác? Hãy giới thiệu ngắn gọn về cuộc
chia tay của hai nhân vật chính trong đoạn văn trên .
2.Câu văn “Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ
được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run.”
là kiểu câu gì xét về mặt cấu tạo? Ghi lại câu văn đó và gạch chân dưới các chủ ngữ trong
câu.
3.Nhân vật “tôi” trong đoạn văn trên là ai? Giải thích vì sao nhân vật “tôi” lại “bỗng
thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi” ?
Phần III: (2 điểm)
Hãy viết một đoạn văn tổng - phân - hợp trong khoảng nửa trang giấy thi với chủ đề: Tình
cảm gia đình là cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nước. Trong đoạn văn có sử dụng ít
nhất 1 câu có thành phần biệt lập (có chú thích).
Bài viết của học sinh Hoàng Linh Phương về sự kiện Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan
Hải Dương 981.
"Trong những ngày này, cả Việt Nam và thế giới đều đang rất quan tâm tới việc Trung Quốc
hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu có vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ
tống đi vào sâu tới 80 hải lý trong thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngày
01/05/2014. Hành động này đã gây phẫn nộ sâu sắc trong triệu triệu tấm lòng con dân đất
Việt, nhân dân ta khắp ba miền đất nước đã xuống đường mít tinh, tuần hành để phản đối
hành vi ngang ngược của Trung Quốc với lãnh thổ nước ta. Từ việc trên, lần đầu tiên tôi đã
có những suy nghĩ về đất nước, về lãnh thổ dân tộc.
Chúng tôi, một thế hệ trẻ đã sống cách chiến tranh hơn hai mươi năm không thể hiểu được
hết những cái giá mà cha ông ta đã phải trả cho chiến tranh. Tôi thấy mình thật may mắn
khi đang được sống ở một đất nước hòa bình, không chiến tranh, không khói lửa - đó là
điều mà đến tận thế kỷ XXI này vẫn có những quốc gia, những người dân chịu đựng từng
ngày, từng giờ. Chúng tôi sống, đi học, làm việc với một nhịp sống đơn giản, thậm chí vẫn
luôn nghĩ rằng những vấn đề về Tổ quốc, về chủ quyền dân tộc vẫn không phải là việc của
mình mà là việc của người lớn, của Đảng, của Nhà nước.
Ở trường, một trong những môn học tôi yêu thích chính là Lịch sử, đó có thể coi là điều khá
trái ngược với đại bộ phận thế hệ trẻ ngày nay. Tôi luôn thấy hứng thú khi tìm hiểu về đất
những năm đánh Mỹ.
+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng: "trái tim" chỉ tình yêu Tổ quốc lớn lao, như máu thịt,
như mẹ cha, như vợ, như chồng ; ý chí chiến đấu, tinh thần sẵn sàng hi sinh vì miền Nam
của người lính.
- Nhiều người, đặc biệt là Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh lại cho đây là hình ảnh ẨN DỤ.
Tôi không đồng tình.
- Có người dạy học sinh rằng: ẩn dụ đúng mà hoán dụ cũng đúng. Vậy thì phân biệt ẩn với
hoán làm gì cho đau đầu!
- Cần lắm ý kiến của các thầy cô để học sinh đỡ hoang mang!
Đề thi thử vào 10 THPT, năm học 2014-2105 - Dạng đề của thành phố Hồ Chí Minh - Ra đề
theo admin Học văn lớp 9.
Câu 1: ( 1.0 điểm ):
“Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường
Để cứu con đường đêm ấy bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom…”
( “Khoảng trời, hố bom” – Lâm Thị Mĩ Dạ )
Những câu thơ trên gợi cho em liên tưởng đến truyện ngắn nào đã học trong chương trình
Ngữ văn 9? Nhân vật chính trong truyện là ai? Nét nổi bật trong tâm hồn và tính cách của
nhân vật đó là gì?
Câu 2: ( 1.0 điểm )
Việt Nam ơi, hãy cùng nắm chặt tay.
Ừ nước bé, nhưng hùng gan, bền chí.
Quyết không để bọn ngoại bang khinh thị.
Bốn ngàn năm phải giữ trọn biển đất này.
( “Mẹ kể con nghe” – Dương Phạm )
Tìm và gọi tên thành phần biệt lập trong đoạn thơ trên. Cho biết thành phần ấy được dùng
để làm gì trong đoạn thơ?
Câu 3: ( 3.0 điểm )
thế? Trống ngực ông lão đập thình thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…”
1. Em hiểu gì về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng”?
2. Nhân vật này cho em hiểu biết gì về tinh thần yêu nước của con người Việt Nam?
3. Trong đoạn trích, ông Hai có tâm trạng như thế nào? Vì sao?
4. Tác dụng của các từ láy cùng hai câu hỏi được sử dụng trong đoạn trích?
( P/s: Chính xác đây là đề thi thử đợt 2 của quận Hà Đông, Hà Nội năm ngoái )
Đính chính về cách hiểu câu thơ “Chim bắt đầu vội vã” ( “Sang thu” – Hữu Thỉnh )
Ad đã đọc bài viết của PGS.TS Chu Văn Sơn và cô Nguyễn Thị Kim Lan – Chuyên viên Sở
GD&ĐT Hải Phòng.Trong đó có viết về câu thơ “Chim bắt đầu vội vã” hiểu là: Thu sang,
khí trời se lạnh, trên bầu trời trong xanh, cao rộng, những cánh chim đang gấp gáp, vội
vã bay đi lánh rét. Trong thực tế, thì có một số loài chim như vậy!
Có người lại cho rằng: Cách hiểu đó chưa hợp lí cho lắm! Họ trình bày cách hiểu của
mình như sau: “Tôi còn nhớ, khi chậu hoa cúc trước sân bắt đầu tàn và thông tin thời
tiết trên chiếc loa công cộng đầu xóm dự báo gió mùa đông Bắc sắp tràn về cũng là lúc
bọn trẻ chúng tôi trèo lên sân thượng say sưa ngắm từng đàn chim đang lũ lượt bay về
phương Nam đi tránh rét. Đó chính là thời điểm cuối thu đầu đông, mà thời gian được
nói đến trrong bài thơ là mới bắt đầu sang thu thì làm sao đàn chim lại có thể bay về
phương Nam đi tránh rét. Theo cách hiểu của tôi,mùa hạ bao giờ ngày cũng dài còn
đêm thì ngắn, vừa mới sang thu nên đàn chim chưa quen với thời gian biểu mới cứ mải
mê kiếm ăn đến khi giật mình nhìn lại thì chiều đã muộn nên vội vã bay về tổ ấm của
mình”.
=> Hai cách hiểu trên đều hợp lí. Không thể nói ai đúng ai sai được. Hiểu theo cách nào
cũng được. Lưu ý thêm một điều! Bài thơ “Sang thu” sử dụng rất thành công bút pháp
cổ điển ( Điều này trong quá trình giảng dạy thì phần lớn là các giáo viên không nói
đến). Mà bút pháp cổ điển: gợi chứ không tả, linh hồn của cảnh vật hiện về qua một vài
nét phác họa. Câu thơ, hình ảnh thơ chừa lại rất nhiều khoảng trống, người đọc bằng
suy nghĩ, trí tưởng tượng của mình để lắp đầy khoảng trống đấy. Bởi vậy, cách hiểu
không bó buộc, miễn sao phải có lí lẽ thuyết phục.
Dành cho học sinh thành phố Hồ Chí Minh và học sinh thi Chuyên
(Theo cô Nguyễn Thanh Huyền. GV.THPT chuyên Nguyễn Trãi - TP.Hải Dương)
Phô kiến thức trong khi làm bài văn
Chỉ cần em biết băn khoăn
Tìm tòi, nghiền ngẫm…khó khăn không lùi
Là sẽ thấu mọi nỗi đời
Trong chung – riêng ấy em ơi…lo gì!
Cuối truyện "Những ngôi sao xa xôi", chi tiết nào xuất hiện thể hiện vẻ đẹp hồn nhiên trong
tâm hồn các cô gái ?
A. Hoàng hôn sau rặng núi xa
B. Cơn mưa đá
C. Tiếng suối róc rách chảy
D. Bầu trời đêm đầy sao
Đề bài: Cảm nhận khổ 1 và 2 bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" (Thanh Hải).
Theo cô Hoàng Thị Vĩnh - GV trường THCS Đằng Hải - Hải Phòng.
I.Mở bài:
- Mùa xuân là mùa của thiên nhiên thắm tươi, của vạn vật sinh sôi nảy nở. Văn học Việt
Nam đã từng không có ít những vần thơ thể hiện cảm xúc rạo rực, trẻ trung trước mùa
xuân. Đó là “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử, “Mùa xuân xanh” của Nguyễn Bính, “Chiều
xuân” của Anh Thơ,… và Thanh Hải – nhà thơ xứ Huế cũng góp vào đó một "Mùa xuân nho
nhỏ”. Ra đời vào tháng 11 năm 1980, không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời, bài thơ thể
hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện dâng hiến của tác giả.Để
lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc là cảm xúc của thi nhân về mùa xuân thiên
nhiên, mùa xuân đất nước.
II.Thân bài:
1. Khái quát (Dẫn dắt vào bài):
- Ở vị trí phần đầu của thi phẩm, đoạn thơ là những dòng cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo,
đắm say của tác giả trước vẻ đẹp mùa xuân –mùa xuân thiên nhiên xứ Huế và mùa xuân
đất nước, mùa xuân Cách mạng. Nếu mùa xuân của đất trời mang vẻ đẹp tươi trẻ, tràn trề
sức sống thì mùa xuân đất nước lại đẹp một cách sôi nổi, hào hùng.
2. Mùa xuân thiên nhiên xứ Huế:
- Với nét bút khoáng đạt, bức tranh mùa xuân thiên nhiên được nhà thơ phác họa bằng hình
Cử chỉ“Tôi đưa tay tôi hứng” thể hiện sự nâng niu, trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp của
mùa xuân với cảm xúc say sưa, lặng ngắm. Hình ảnh thơ lung linh, đa nghĩa, vừa là thơ, vừa
là nhạc, là hoạ. Bức tranh mùa xuân được phác hoạ khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh
khiến người đọc trân trọng hơn, yêu hơn một tâm hồn nghệ sĩ, một tình yêu quê hương, đất
nước.
3. Mùa xuân đất nước, mùa xuân Cách mạng:
- Từ mùa xuân thiên nhiên đất trời, nhà thơ cảm nhận về mùa xuân đất nước, mùa xuân
Cách mạng. Tác giả hướng tình cảm tới những con người cụ thể - những con người làm nên
lịch sử:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ”.
Các điệp ngữ “mùa xuân”,”lộc”,”người” như trải rộng khung cảnh hiện thực khi gắn với cuộc
sống lao động, chiến đấu của nhân dân.Nhà thơ đã sáng tạo cặp hình ảnh sóng đôi đẹp như
hai vế của câu đối mừng xuân để nói về hai lực lượng chủ yếu của cách mạng, hai nhiệm vụ
chiến lược của đất nước. Đó là người chiến sĩ và người lao động – bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc, quê hương. Từ “lộc” được dùng với hai lớp nghĩa : tả thực chồi non, nhành biếc và ẩn
dụ cho sức sống, thế vươn lên, sức phát triển mới, thành quả tốt đẹp là mùa xuân. “Lộc”
trên cành lá ngụy trang theo bước chân người cầm súng ra trận,“lộc” trải dài trên những
nương mạ theo bàn tay người ra đồng. Như thế, người chiến sĩ, người lao động đã đem mùa
xuân, gieo mùa xuân đến mọi miền đất nước.Họ trở thành những con người làm ra mùa
xuân, bảo vệ mùa xuân. Và họ đã làm nên cái giai điệu chính của bản hợp xướng mùa xuân,
tạo nhịp điệu hối hả, hào hùng:
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao”
Nghệ thuật điệp ngữ “tất cả” cùng các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí khẩn
trương, náo nức của đất nước trong những năm tháng gian lao, hào hùng. Cách ngắt nhịp
2/1/2 làm cho câu thơ vang lên một nhịp điệu tươi vui, mạnh mẽ. Đó là hành khúc mùa
xuân của thời đại Hồ Chí Minh.
thái tinh vi của một tâm hồn trong quá trình ăn năn,hối hận. Nếu ai đã có lần đọc “Hơi ấm
tổ rơm” của tác giả sẽ nhận thấy cảm xúc của Nguyễn Duy rất dễ rung với những tình huống
giản dị mà có lẽ ít nhà thơ có được:
Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng
Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người.
Lớn lên trong cảnh nghèo ở nông thôn Thanh Hóa, tác giả thường có những băn khoăn, trăn
trở về đời sống lam lũ, vất vả của bà con lao động. Chính vì thế, những lời thơ của Nguyễn
Duy thường rất mộc mạc, dân dã mà vẫn rất xúc động. Người đọc cảm nhận sâu sắc những
gì tâm hồn nhà thơ muốn chia sẻ có lẽ nhờ vào mạch nguồn chân thành ấy.
Trở lại với “Ánh trăng”, có lẽ niềm tâm sự sâu kín giờ đây không chỉ còn là của riêng Nguyễn
Duy nữa. Ý kết của bài thơ đã nâng những suy nghĩ của tác giả lên tầm khái quát – triết lí:
ai cũng có những vô tình quên đi những gì tốt đẹp của ngày xưa. Nếu như không có sự thức
tỉnh, những lúc “giật mình” nhìn lại của lương tâm thì biết đâu chúng ta sẽ đánh mất chính
mình? Và với Nguyễn Duy nếu tác giả không phải là người từng có một thời sống như thế,
làm sao có được niềm tâm sự đáng quý như vậy? Những chặng đường của quá khứ và hiện
tại cứ nối tiếp nhau, lúc thì đan xen, khi thì tách rời khiến ta nhìn rõ nét băn khoăn, rối bời
của tâm trạng. Cả bài thơ thấm đẫm trong ánh trăng trong trẻo, ngời mát và ám ảnh. Lí
Bạch đã từng có hai câu thơ rất nổi tiếng:
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương,
(Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ quê hương.)
Giữa miền đất xa lạ dẫu vẫn nằm trên đất Trung Hoa, Lí Bạch nhìn vầng trăng mà nhớ quê
hương mình, như níu lấy chút gì thân quen để sưởi ấm tâm hồn người lữ khách. Với Nguyễn
đã thông qua cuộc đời của lão Hạc để tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến, dồn đẩy
người nông dân tới bước đường cùng bằng tiếng nói đanh théo, nhưng không kém phần
chua xót.
Tuy ở một hoàn cảnh đáng buồn như vậy, nhưng lão Hạc có một tấm lòng vị tha, nhân
hậu.Với cậu Vàng – kỉ vật của con trai lão, lão yêu quí nó như “một bà mẹ hiếm hoi yêu quý
đứa con cầu tự”. Lão cưng nựng, vỗ về, vuốt ve nó; cho nó ăn cơm như nhà giàu ăn cơm
bát; lão ăn gì cũng không quên phần nó, gắp cho nó một miếng, lão ăn bao nhiêu, nó cũng
ăn như thế, thậm chí có phần hơn lão… Lão cũng coi nó như một người bạn, ngày ngày lão
tâm sự, trò chuyện với nó như thể nó cũng là một con người. Lão đối với một con chó, một
loài vật mà ông giáo cho là sinh ra để người ta giết thịt lại nhân hậu, yêu thương đến vậy thì
với con người, lão con đối xử đến như thế nào nữa? Tấm lòng của lão quả thật khiến chúng
ta cảm phục.
Đối với cậu Vàng, lão yêu quí như vậy, thì đối với anh con trai của lão, thì tình cảm ấy còn
được nhân lên gấp vạn lần. Chỉ vì nhà nghèo, không cưới được vợ cho con, làm con uất chí,
bỏ đi đồn điền cao su mà lão tự dằn vặt mình mãi. Để cưới vợ, anh con trai đòi bán mảnh
vườn, nhưng lão không cho không phải vì lão muốn giữ mảnh vườn cho lão, mà lão nghĩ nếu
cưới vợ về, vườn bán rồi thì ở đâu mà làm ăn sinh sống, và rồi có bán thì cũng làm sao mà
đủ tiền. Lão nghĩ thế, nhưng anh con trai có thấu cho lão?Anh bỏ đi đồn điền cao su, để lại
lão ở nhà vò võ chờ con.Lão nghĩ tốt, lo cho tương lai con, nhưng khi con trai bỏ đi, lão lại
tự dằn vặt mình, đày đọa tinh thần mình.Những câu nói lão nói với cậu Vàng, nhưng lại chất
chưa biết bao nhiêu tình cảm nhớ thương cho anh con trai. Lão nói với cậu Vàng đấy, nhưng
lại như nói với con mình.Lão làm việc gì, lão suy nghĩ gì cũng là hướng về con trai mình.
Tiền bòn vườn lão để dành, không tiêu tới để khi con trai về, lão nhẩm tính sẽ có gần trăm
đồng bạc, thêm vào cho con cưới vợ và làm kế sinh nhai.Thế nhưng, lão lại ốm. Một cơn ốm
kéo dài buộc lão phải tiêu tới số tiền đó.Chỉ vậy thôi mà lão đã thấy đau lòng.Lão ăn vào
tiền của con trai lão – số tiền mà khi con trai về lão định trả con. Điều này làm lão khổ tâm
hết sức. Hành động của lão gửi ông giáo mảnh vườn, nhờ ông giáo giữ hộ cũng là để giữ hộ
cho con lão : “của mẹ nó thì nó hưởng”. Mọi suy nghĩ, việc làm của lão đều hướng tới con
trai. Thậm chí, cái chết của lão cũng là vì con.Lão chết để mở ra đường sống cho con lão,
lão chết một cái chết trong sạch để lại tiếng thơm cho con vì lão sống ngày nào là ăn vào
Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc. Đây là một nhân
vật điển hình, đại diện cho tầng lớp những người nông dân trong xã hội cũ: tuy đói nghèo
nhưng có những phẩm chất cao đẹp. Nam Cao đã rất thành công trong cách xây dựng nhân
vật. Thông qua cái nhìn ông giáo – một nhà trí thức, Nam Cao đã gián tiếp thể hiện tấm
lòng của mình với người nông dân và đặt ra vấn đề “đôi mắt”: “Chao ôi! Đối với những
người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần
tiện, xấu xa, bỉ ổi toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những
người đáng thương; không bao giờ ta thương ”. Tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật miêu
tả tâm lý nhân vật rất rõ nét. Tâm lý nhân vật lão Hạc được thể hiện qua những hành động,
lời nói của lão, nhiều đoạn đối thoại mà như độc thoại. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng
nhiều khẩu ngữ, làm câu chuyện chân thực, sinh động, gần gũi với người nông dân.
Nhân vật lão Hạc quả thật đã để lại trong lòng người đọc ít nhiều suy nghĩ. Qua đó cũng thể
hiện tài năng,tấm lòng của Nam Cao. Phải là một cây bút xuất sắc, một nhà văn thấu hiểu,
am tường về người nông dân tới tận cùng, dành cho họ những tình cảm yêu mến, trân trọng
cảm thông sâu sắc mới viết nên một truyện ngắn hay như thế. Với một nhân vật lão Hạc
trong truyện ngắn cùng tên, Nam Cao đã khẳng định được tên tuổi của mình. Ông đã “khơi
được những nguồn chưa ai khơi” và ghi lại trong lòng độc giả những tình cảm yêu mến.
Đề bài: Viết đoạn văn cảm nhận vẻ đẹp của câu thơ sau:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
(“Sang thu” – Hữu Thỉnh).
=> Đoạn văn mẫu:
Những chuyển biến nhẹ nhàng mà tinh tế của đất trời lúc hạ sang thu được nhà thơ Hữu
Thỉnh cảm nhận sâu sắc qua bài thơ “Sang thu”. Ở đó có hương ổi nồng nàn, có gió thu se
lạnh, có làn sương chùng chình, có dòng sông dềnh dàng, có cánh chim trời vội vã và: “Có
đám mây mùa hạ - Vắt nửa mình sang thu”. Người đọc cảm nhận: hình như trong đám mây
kia vẫn còn lại một vài tia nắng ấm của mùa hạ nên mới “Vắt nửa mình sang thu”. Ngôn ngữ
thơ thật giàu chất tạo hình! Trong khoảnh khắc giao mùa, đám mây như kéo dài ra, nhẹ trôi
như tấm lụa mềm treo lơ lửng giữa bầu trời trong xanh, cao rộng. Nó vắt lên cái ranh giới
lỏng lẻo, mỏng manh giữa hai mùa hạ - thu để rồi một thoáng qua đi cả đất trời đã nhuốm
thành quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng vào tâm hồn mỗi người, có
khi là cả một thế hệ ”.
Gửi gắm nhiều điều sâu lắng
“Bài thơ không chỉ báo cho người đọc biết thu đã trở trong cảnh sắc thiên nhiên mà còn
ngay trong cuộc sống của con người, trong tâm hồn tôi và chắc với rất nhiều người yêu
thu “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”. Hai câu thơ này không hẳn nói về
hiện tượng giao mùa như một số người hiểu và phân tích. Khi tôi viết bài thơ này tôi đã liên
tưởng đến những đám mây mùa Hạ. Đó là những đám mây tràn trọn vẹn vào mùa Thu. Thế
nhưng có gì ngăn cảm xúc của tôi lại theo chiều hướng đấy Mây mùa Hạ thường chứa
nhiều màu sắc, thậm chí đầy giông bão tựa hồ những ước mơ khao khát của tuổi trẻ. Những
ước mơ khao khát ấy thường lấy đi rất nhiều sức lực của tuổi trẻ. Tuy nhiên giữa mơ và
thực là hai thế giới luôn đối lập nhau và chẳng phải ước mơ nào cũng trở thành hiện thực.
Ðó giống như là một chân lý và con người phải biết ý thức được một điều rằng không thể
đạt được hết những ước vọng tốt đẹp của mình, nhất là những ước vọng đó lại được sinh ra
ở thời tuổi trẻ. Sự dang dở, sự mất mát là một hiện thực chúng ta buộc phải chấp nhận
trong cuộc sống của mình. Ngay cả người lính cũng vậy. Rất nhiều đồng đội của tôi đã nằm
lại ở tuổi còn rất trẻ ở ngưỡng mùa đẹp nhất của cuộc đời. Vì thế nên đám mây trong thơ ấy
chỉ “vắt nửa mình sang Thu” thôi. Nửa còn lại đã trở thành ký ức”. Hai câu cuối cùng: Sấm
cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi . Chủ thể bài thơ và cái kiêu hùng của mùa Thu
đã toát lên chính là ở hai câu thơ này. Đó là cốt cách của một người lính không chỉ là trong
một buổi chiều mùa Thu mà là một buổi chiều hòa bình. Có thể nó có vẻ ngang tàng “sấm
cũng bớt bất ngờ” nhưng lại mang một vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của mùa thu hòa bình. Ở
đây hàng cây đứng tuổi chính là chủ thể trữ tình trong bài thơ đã trải qua bao nhiêu gian
nan vất vả, giờ đã vươn lên và không gì làm chúng run rẩy.
Nhiều người bỏ qua “chìa khóa” của bài thơ
Có một chi tiết mà các cô giáo và thầy giáo khi giảng về bài thơ Sang thu làm người sáng
tác ra nó không hài lòng. Nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự: “Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977”.
Đây là chìa khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc
không chú ý. Nếu chú ý thì sẽ hiểu thêm được rằng đây là một trong những mùa Thu đầu
tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh. Nếu như họ là lính trong thời chiến họ mới
( Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
a. Chỉ ra biện pháp tu từ trong hai câu thơ. Phân tích ý nghĩa của biện pháp tu từ mà em
vừa tìm được.
b. Chép hai câu thơ có hình ảnh “mặt trời” trong một bài thơ mà em đã học ( ghi rõ tên và
tác giả bài thơ)
Câu 3: Cho hai câu thơ:
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
(“Viếng lăng Bác” – Viễn Phương).
a. Chỉ ra biện pháp tu từ trong hai câu thơ.
b. Viết một đoạn văn (từ 5-7 câu) nêu ý nghĩa của biện pháp tu từ đó, câu kết đoạn là một
câu cảm.
Câu 4: Mở đầu bài thơ “Viếng lăng Bác”, Viễn Phương viết:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi!Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
và ở cuối bài,nhà thơ bày tỏ nguyện ước: "Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này".
a. Theo em, những hình ảnh nào là ẩn dụ? Em cảm nhận được từ các hình ảnh ẩn dụ đó ý
nghĩa sâu xa như thế nào về tình cảm thiêng liêng cao đẹp của nhân dân với Bác Hồ kính
yêu.
b.Cây tre đã trở thành hình ảnh trung tâm của nhiều tác phẩm văn học Việt Nam. Hãy chép
lại hai câu nối tiếp nhau của một bài thơ đã học mà trong đó,nhà thơ đã mượn hình ảnh cây
tre để gợi liên tưởng đến tình yêu thương đoàn kết của người Việt Nam(Ghi rõ tên tác
giả,tác phẩm).
c. Viết đoạn văn theo cách tổng hợp – phân tích – tổng hợp ( khoảng 8 câu ) phân tích hình
ảnh hàng tre trong khổ thơ trên, trong đoạn có câu văn dùng thành phần phụ chú ( gạch
chân dưới thành phần phụ chú đó).
Câu 5: Tình cảm chân thành, tha thiết của nhân dân ta với Bác Hồ qua bài thơ “Viếng lăng
Bác” của Viễn Phương.
- Kết bài, em chỉ cần viết đơn giản thôi ( 1 câu cũng được, 2 câu cũng được, không cần viết
dài). Bởi vì kết bài không có điểm. Nhưng phải có kết bài ( để có được một bài văn hoàn
chỉnh, đầy đủ 3 phần: mở - thân - kết )
Đề thi chọn học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 năm học 2011-2012 – tỉnh Thừa Thiên Huế.
ThS. Cao Đăng Ngọc Phượng – Chuyên viên Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế giới thiệu.
Câu 1: 8 điểm: Nam Cao từng viết trong tác phẩm “Lão Hạc”:
“Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở,
ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta
thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương”.
Hãy trình bày suy nghĩ của em về bài học cuộc sống được nhà văn ngầm đề xuất qua ý kiến
trên.
Câu 2: 12 điểm:
“Nghệ thuật giải phóng được cho con người khỏi những biên giới của chính mình, nghệ
thuật xây dựng con người, hay nói cho đúng hơn, làm cho con người tự xây dựng được”.
( Nguyễn Đình Thi, “Tiếng nói của văn nghệ” – Theo Ngữ văn 9, tập 2, tr.15)
Từ việc giải thích nhận định, hãy viết về một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 9 đã
giúp em “xây dựng được” chính mình.
=> Gợi ý:
Câu 1: 8 điểm:
A. Yêu cầu về kĩ năng:
- Bài viết có kết cấu ba phần: mở - thân – kết.
- Bài viết đáp ứng văn phong nghị luận xã hội; nêu suy nghĩ về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
- Hạn chế các lỗi về diễn đạt, dùng từ, đặt câu; chữ viết rõ ràng, bài làm sạch sẽ.
B. Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày suy nghĩ theo nhiều cách, từ nhiều hướng, trên cơ sở hiểu ý nghĩa
của câu văn trích từ truyện ngắn “Lão Hạc”. Sau đây là một số gợi ý:
- “Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ…,không bao giờ ta thấy
họ…,không bao giờ ta thương”. Thực chất, câu văn đang ngầm đặt ra vấn đề: nếu cố tìm thì
sẽ hiểu, sẽ không thấy họ “gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi…”, sẽ không “tàn
nhẫn”, sẽ “thấy họ là những người đáng thương”, sẽ “thương” họ.
mình”) hoặc do nhận thức, hoặc do ý thức, cũng có khi là do hoàn cảnh, tâm lí, trình độ, do
quy định của xã hội, thời đại…
- Văn chương – nghệ thuật có thể “giải phóng” con người ra khỏi những hạn chế, những giới
hạn nào đó ( với điều kiện không làm ảnh hưởng đến đạo lí hay những quy định chung của
cộng đồng xã hội).
- Đặc biệt, nghệ thuật góp phần giúp con người tự nhận thức, “tự xây dựng”, tự bồi dưỡng
và phấn đấu hoàn thiện mình một cách tự nhiên, bền vững.
2. Nghị luận về một tác phẩm văn học:
- Người viết trình bày suy nghĩ, cảm nhận về một tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ
văn 9 có đã có tác dụng giúp “giải phóng (…) khỏi những biên giới của chính mình và tự xây
dựng” bản thân.
- Người viết nêu được các giá trị của tác phẩm ( cả nội dung và nghệ thuật), đặc biệt là giá
trị tư tưởng trong việc tác động đến cả tri thức, vốn sống và nhân cách, tâm hồn. Quá trình
nghị luận cần gắn với các ý giải thích nêu trên.
- Bài làm nêu được tác động của tác phẩm đối với người viết một cách cụ thể, chân thành,
sâu sắc.
Dành cho HSG, học sinh thi Chuyên – 5 đề nghị luận xã hội.
Theo admin Học văn lớp 9 sưu tầm.
Các em có thể tự làm, rồi gửi bài, ad sẽ chữa.
Đề 1.
“Cuộc sống riêng không biết đến gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống
nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được
chăm sóc cẩn thận đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm
chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ
vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn giông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ
nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh
phúc với một hạnh phúc mỏng manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị
bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của những cái
tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn”.
( Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1997)
Đề 5. Một nhà triết học nói : “ Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì mà nó có. Chỉ
có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả . Nó làm thế nào thì nó trở thành
như thế ấy, và nó phải tự làm bằng tự do của chính nó. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính
tôi làm ra.”
Em có suy nghĩ gì về câu nói trên?