KHỦNG HOẢNG NỢ DƯỚI CHUẨN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ KHỦNG HOẢNG CHO HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM - Pdf 13


GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
HHII ĐỀ TÀI MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
KHỦNG HOẢNG NỢ DƯỚI CHUẨN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM
RÚT RA TỪ KHỦNG HOẢNG CHO HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

Khóa : K21
Lớp : Ngày 3
Nhóm : 5
GVHD : TS. Diệp Gia Luật THÀNH VIÊN NHÓM
1. Nguyễn Thanh Quế Anh 7. Nguyễn Văn Phúc
2. Trần Đức Dương 8. Nguyễn Thị Thảo
3. Lê Thanh Điệp 9. Đỗ Minh Tuấn
4. Nguyễn Thị Hà 10. Phạm Vũ Tuấn
5. Trần Minh Hậu 11. Phạm Thị Vân ( nhóm trưởng )
6. Phạm Thị Hoà 12. Trần Thị Thanh Vân
GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page3

LỜI MỞ ĐẦU
Hầu như không có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào, khủng hoảng cho vay thế chấp
dưới chuẩn ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra vào giữa năm 2007. Cuộc khủng hoảng này có tác
động mạnh đến cả hệ thống tài chính lẫn nền kinh tế thực. Các cơ quan điều tiết tài chính
của Mỹ, từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), Ủy ban Chứng khoán (SEC) cho tới Bộ Tài
chính đều đã phải vào cuộc nhằm giải quyết khủng hoảng.
Nguồn gốc ban đầu của cuộc khủng hoảng tồi tệ này là sự chứng khoán hoá các
khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn.
Thứ nhất, cơ chế cho vay đã bị đơn giản hoá, dựa hoàn toàn vào những đánh giá của
các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm, dẫn đến nhiều khoản vay không đủ chuẩn.
Thứ hai, cơ chế chứng khoán hoá đã đánh đồng các khoản vay đủ chuẩn và không
đủ chuẩn, gây ra c
ả bong bóng nhà đất lẫn chứng khoán.


Tài sản thế chấp là tài sản hình thành từ nguồn tín dụng. Tài sản thế chấp cho các
khoản vay này thường chính là các bất động sản mà ngườ
i vay vốn mua.
Hạn mức cho vay cao.
Thời hạn cho vay dài. Các khoản vay thế chấp này thường được kéo dài thời gian
trả nợ của người đi vay.
Lãi suất cao.
Khả năng chi trả và điểm tín dụng của người đi vay không được xét theo quy định.
Do vậy, khi thị trường suy thoái, những người đi vay dạng này không có điều kiện trả
nợ.
 Quá trình phân bổ rủi ro rộng

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page5

Hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn có quá trình lan truyền, phân bổ rủi ro
rộng do sau khi cho vay, ngân hàng chuyển nhượng khoản vay cho công ty cho vay thế
chấp. Sau đó, các công ty này thực hiện phát hành “trái phiếu tái thế chấp” chuyển
nhượng rộng rãi trên thị trường chứng khoán. Dưới hình thức này, người cho vay thực
(người nắm giữ “trái phiếu tái thế chấp”) và người đi vay không biết nhau.
Mức độ lan tỏa rủi ro rộng là do sự
mua đi bán lại các công cụ tài chính phát sinh
kéo theo quá nhiều các thành phần đầu tư trong nước cũng như nước ngoài vào cuộc
chơi.
 Tính thanh khoản cao
Do những khoản vay đã được “trái phiếu hoá” thành sản phẩm tài chính thông
dụng có thể chuyển nhượng, mua bán dễ dàng và rộng rãi trên thị trường chứng khoán
nên tín dụng có tính thanh khoản cao.
1.2. Nguyên nhân khủng hoảng tín dụng thứ cấp

dưới chuẩn là giải pháp để giải quyế
t bài toán về thừa vốn để tối đa hóa lợi nhuận. Việc
cho vay nợ dưới chuẩn một cách thái quá đã dãn đến việc mất kiểm soát chất lượng tín
dụng.
Những người dân có thu nhập thấp và mức tín dụng dưới chuẩn được vay tiền để
đầu tư vào thị trường bất động sản với hi vọng được giàu lên nhanh chóng mà không
nhận thức được rủi ro khi nhu cầu nhà đất ch
ỉ là bong bóng cho đến khi rủi ro trở thành
khủng hoảng.
 Giá nhà tăng liên tục
Ở Mỹ, gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả
lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Cuối năm 2002, hoạt động của thị trường
nhà ở diễn ra sôi động nhờ thu nhập cá nhân tăng, lãi suất cho vay thế chấp thấp và các

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page7

khoản tín dụng dồi dào. Điều này đã khiến cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều
muốn tranh thủ kiếm lời.
Bong bóng bất động sản hình thành từ 3 nguyên nhân:
- Cục dự trử liên bang Mỹ nới lỏng chình sách tiền tệ. Nguồn vốn dồi dào từ thị
trường tại chính trong và ngoài nước.Cung tiền tăng, lãi xuất giảm đồng thời thực hiện
giả
i pháp cho vay dưới chuẩn để giải quyết bài toán thừa vốn và tối đa hóa lợi nhuận.
Tạo điều kiện cho người dân đi vay vốn mua bất động sản với hi vọng giàu lên nhanh
chóng khi bất động sản tăng giá.
- Công ty tài chính thực hiện chứng khoán hóa các khoản cho vay của ngân hàn
thương mại. Việc này diễn ra ngoài tầm kiểm soát của chính phủ vì việc mua bán bảo
hiểm diễn ra là vô cùng phức tạp.

chuẩn bởi vì những người bán trung gian được hưởng phí cao hơn từ loại này.
Những người cho vay cảm thấy an toàn vì rủi ro vỡ nợ đang giảm theo thời gian
do giá nhà vẫn tiếp tục tăng. Giá trị tài sản của những người sở hữu nhà cũng tăng theo
tương ứng.
Biểu 2: Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kì “ bong bóng” thị trường nhà ở

Hầu hết các khoản vay dưới chuẩn đều theo hình thức vay thế chấp với lãi suất
linh hoạt (ARM: adjustable-rate mortgage). Theo truyền thố
ng, người mua thường muốn
vay tiền mua nhà với lãi suất cố định hơn là lãi suất linh hoạt. Theo đó, họ sẽ phải thanh
toán hàng tháng tiền lãi với lãi suất cố định trong suốt 30 năm (lãi suất 4-5%). Tuy nhiên,
lãi suất ARM lại rất thấp (1%/năm) với thời hạn từ 3 đến 5 năm. Chính vì vậy, nó đã thu

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page9

hút được những người mua có thu nhập thấp. Tuy nhiên, các khoản tiền lãi phải trả hàng
tháng đã tăng dần theo thời gian do lãi suất cho vay được điều chỉnh lên những mức cao
hơn.
 Cơ chế giám sát, cơ chế quản trị rủi ro việc cho vay dưới chuẩn lỏng lẻo
Cho vay thế chấp dưới chuẩn là khoản cho vay chất lượng thấp với mức rủi ro cao.
Các khoản vay này không được xem xét kỹ
lưỡng và thường được bảo đảm bởi rất ít hoặc
không có giấy tờ chứng minh khả năng tài chính của người đi vay.
Tùy theo mức độ, khoản nợ cho người có điểm tín nhiệm dưới chuẩn vay có đặc
điểm lãi suất cao, chiết khấu sâu, tỷ lệ nợ vay tối đa trên tài sản thế chấp thấp so với
khoản nợ chuẩn.
Mức độ rủi ro c
ủa việc cho vay dưới chuẩn thật sự cao khi rủi ro về đạo đức xảy

(MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường.Cái gọi là đòn bẩy tài chính được tận
dụng khi chứng khoán mua vào được sử dụng làm vật thế chấp để vay mua chứng khoán
khác, cứ thế m
ột đồng đô la tài sản thật sẽ được biến hóa thành hàng trăm đồng đô la tài
sản ảo chỉ hiện diện trên sổ sách
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay
mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng
bất động sản làm tài sản đảm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản
càng tăng làm giá bất động s
ản càng giảm. Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của
trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.
Khi quả bong bóng bất động sản nổ, người dân không còn khả năng trả tiền vay
hàng tháng, giá trị bất động sản đi xuống không ngừng, các gói chứng khoán trả góp bị
mất giá vì không nhà đầu tư nào muốn mua nữa
 Lòng tham của thị trường ( Gồm tâm lý bầy đàn & sự l
ạc quan quá mức)
Lãi xuất cao cộng với lòng tham của các ngân hàng và công ty tài chính đã dẫn
đến việc cho vay với tiêu chuẩn người đi vay rất thấp thậm chí bằng không. Lòng tham
đã che mờ cái rủi ro hiện hữu trước mặt của các ngân hàng và tổ chức tài chính.

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page11

Những người dân tìm được nguồn vốn nhờ vay nợ dưới chuẩn là những nhà đầu tư
trẻ mới bước vào nghề, họ trở thành những con cừu non để các công ty địa ốc dẫn dắt
trong quá trình mua bán và hợp thức hóa chứng từ. Các công ty địa ốc nhận được tới 3%
giá trị tiền vay nên các công ty địa ốc tiếp tục thổi bồng thị trường để nhận được món hoa
hồng h
ậu hĩnh này. Điều này đã làm cho giá nhà tăng lên rất cao so với giá trị thực của

Page12

lên trong bối cảnh lãi suất tăng cao và bong bóng bất động sản bắt đầu xì hơi; khoảng 70
hãng cho vay cầm cố ở Mỹ đã ngừng hoạt động hoặc chờ rao bán.
Tháng 6/2007: Bear Stearns, ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ đã thông báo hai
trong nhiều quỹ bảo hiểm của họ đã mất hơn 1/2 tài sản do sự sụt giảm mạnh giá trị danh
mục đầu tư cho vay thế chấp. Khách hàng không th
ể rút tiền và điều duy nhất họ có thể
làm là theo dõi một cách vô vọng sự mất giá của các khoản đầu tư. Đến tháng 03/2008
Bear Stearns được bán cho Ngân hàng đầu tư Mỹ JP Morgan Chase với giá 2 triệu Đôla
Mỹ.
Theo số liệu điều tra, cuộc khủng hoảng này thực sự bùng phát vào tháng 8/2008,
khi mà các ngân hàng thua lỗ tuyên bố phá sản ngày một tăng, ngày 9/8, NovaStar
Financial công bố thua lỗ 52,9 triệu USD trong quý II do các khoản vay vỡ nợ, tổ chức
cho vay thế ch
ấp hàng đầu Mỹ, Countrywide Financial, phải đối mặt với nguy cơ phá sản
do tính thanh khoản trở nên xấu hơn. American Home Mortgage, một trong những hãng
cho vay cầm cố lớn nhất, cũng đệ đơn xin phá sản, nhiều quỹ cho vay bất động sản lớn
khác cũng tuyên bố phá sản và hàng loạt ngân hàng quốc tế lớn công bố kết quả kinh
doanh xấu trong lĩnh vực đầu tư vào bất động sản đã tác độ
ng mạnh đến thị trường tài
chính thế giới. Nhưng tác động mạnh nhất khi Ngân hàng Parisbas của Pháp (BNP) rút
2,2 tỷ USD vốn và ngưng hoạt động 3 quỹ cho vay tiền mua nhà thứ cấp ở Mỹ vì lo sợ về
tính thanh khoản của các khoản vay thế chấp ở Mỹ. Thông tin xấu trên thị trường tín
dụng kéo theo sự hoảng loạn của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Các NHTW
đã sử dụng đến bi
ện pháp mạnh tay là đồng loạt bơm tiền vào hệ thống ngân hàng của
mình. Tổng số tiền các NHTW bơm ra trong vòng một tuần là hơn 400 tỷ USD, trong đó
riêng số tiền tiếp sức khẩn cấp trong hai ngày 9 và 10/8 mà FED và NHTW châu Âu
(ECB) tung ra là 323,3 tỷ USD. Biện pháp này đã giúp hệ thống tài chính tránh rủi ro từ

mức 100.000 USD hiện nay nhằm khôi phục lòng tin của công chúng đối với hệ thống
ngân hàng (Trước đó, phương án trên đã bị Hạ viện phủ quyết trong cuộc bỏ phiếu ngày
29/9/2008) Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã và đang tiếp tục lan sang Châu Âu khi
mà một số ngân hàng đã phả
i nhờ đến sự ứng cứu của nhà đầu tư và Chính phủ các nước.
Bên cạnh đó, Kết quả kinh doanh của các ngân hàng đầu tư lớn tại phố Wall được
công bố trong những tháng đầu năm 2008 lần lượt cho thấy các khoản tổn thất khổng lồ
(write-down) trong năm 2007. Dự kiến ảnh hưởng của cơn bão tín dụng nợ dưới chuẩn sẽ
còn tiếp tục trong năm 2008.
Trong những năm dẫn đến cuộc khủng hoảng, số tiền đáng kể tiền nước ngoài
chảy vào Mỹ từ các nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở châu Á và các nước sản xuất dầu
mỏ. Điều này lưu lượng vào các quỹ kết hợp với lãi suất thấp của Mỹ từ 2002-2004 góp
phần vào điều kiện tín dụng dễ dàng, mà nhiên liệu cả nhà ở và tín dụ
ng bong bóng. Các
khoản cho vay của các loại khác nhau (ví dụ như, thế chấp, thẻ tín dụng, và tự động)
được dễ dàng để có được và người tiêu dùng cho rằng một tải khoản nợ chưa từng có.
Tổng thiệt hại ước tính trong hàng nghìn tỷ đô la Mỹ trên toàn cầu.

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page14

Từ 01/01 đến 11/10/2008, chủ sở hữu của cổ phiếu trong các công ty Mỹ đã phải
chịu đựng khoảng 8 nghìn tỷ USD, mất mát, như cổ phần của họ giảm về trị giá từ $ 20 tỷ
đến $ 12 tỷ . Thiệt hại ở các nước khác có trung bình khoảng 40%. Thiệt hại trong các cổ
phiếu giá trị nhà ở và thị trường giảm xuống hơn nữa áp lực nơi người tiêu dùng chi tiêu,
mộ
t động cơ kinh tế trọng điểm. Lãnh đạo lớn hơn các nước phát triển và mới nổi đã gặp
trong tháng 11 năm 2008 Tháng 3 năm 2009 và xây dựng chiến lược để giải quyết cuộc
khủng hoảng. Một loạt các giải pháp đã được đề xuất bởi các quan chức chính phủ, ngân

Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page15

Biểu 3: Số tài sản ở Mỹ bị tịch thu nhà của quý hành động (2007-2010) Giữa tháng 8/ 2007 và tháng Mười năm 2008, 936.439 nhà ở Mỹ bị tịch biên đã
hoàn thành. Nhà bị tịch thu tập trung ở các quốc gia cụ thể cả về số lượng và tỷ lệ của hồ
sơ tịch thu nhà. Mười quốc gia chiếm 74% các hồ sơ tịch thu nhà trong năm 2008 đầu hai
(California và Florida) đại diện 41%. Chín nước đã ở trên mức trung bình toàn quốc tịch
thu 1,84% hộ gia đình.
2.2. Thực trạng khủng hoảng th
ị trường tín dụng thứ cấp tại các nước khác, đặc biệt
khu vực Châu Âu
Mỹ là điểm xuất phát và là trung tâm của cuộc khủng hoảng. Nhiều tổ chức tài
chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở châu Âu, cũng tham gia vào thị trường
tín dụng nhà ở thứ cấp ở Mỹ. Vì vậy, khủng hoảng tín dụng thứ cấp bùng nổ tại Mỹ cũng
làm các tổ chức tài chính này g
ặp nguy hiểm, mà tác động rõ nhất và nhanh chóng nhất là
ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán.
 Khu vực Châu Âu

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page16

- Anh: lần đầu tiên sau cuộc đại suy thoái, dân chúng đã xếp hàng trước cửa ngân
hàng Northen Rock để rút tiền.
- Ireland: khủng hoảng ngân hàng xảy ra trên diện rộng. Ngay quý I năm
2008, GDP của Ireland giảm 1,5%, mức giảm lớn nhất kể từ năm 1983 tới thời điểm


GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page17

- Úc: cuộc khủng hoảng đã lan sang Úc với nạn nhân là Tập đoàn Centro Properties,
một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹ tại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh
báo lợi nhuận giảm. Cổ phiếu Centro Properties đã tụt giá 70% tại các giao dịch ở
Sydney.
2.3. Tác động của cuộc khủng hoảng
 Tác động lên cơ quan, tổ chức tài chính
Các quỹ đầu cơ (Hedge Funds)
Các quỹ đầu cơ bị ảnh hưởng của sự thắt chặt tín dụng sớm nhất. Những quỹ này
nắm giữ một lượng lớn các CMO, CDO, vốn là những công cụ tài chính có tính đòn bẩy
cao. Với mỗi đôla Mỹ nhận được từ các nhà đầu tư, qu
ỹ đầu cơ có thể vay thêm 29 USD
để đầu tư, với kết quả là tỷ lệ “đòn bẩy” đạt mức 30 lần. Những khoản vay mượn này
(hầu hết là từ các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư) được đảm bảo bằng các
danh mục đầu tư chứng khoán của họ. Khi giá trị của các khoản bảo đảm này bắt đầu
giảm, các quỹ đầu cơ phải th
ực hiện việc ký quỹ bổ sung (bổ sung thế chấp). Đó là lý do
tại sao vào đầu tháng 8/2007, hai quỹ bảo hiểm của Bear Stearns đã gặp phải vấn đề
thanh khoản. Những khó khăn tương tự cũng đã xảy ra với các quỹ của BN`P hay
Lehman Brothers.
Các ngân hàng
Nhiều tổ chức tài chính (như Citigroup, Goldman Sachs, Bank of America) đã
thiết lập các chi nhánh có tên gọi là Các phương tiện Cấu trúc đầu tư (Structured
Investment Vehicles, SIV). Những tài sản rủ
i ro cao (hầu hết liên quan đến vay thế chấp)
được chuyển giao đến các SIV, sau đó SIV thâm nhập vào thị trường thương phiếu tìm

BOFA, Lehman Brothers. Ở Châu Âu, UBS là ngân hàng bị thua lỗ nhiều nhất.
Cơ quan điều tiết tiền tệ
FED hoàn toàn
ủng hộ kế hoạch giải cứu thị trường đề cập ở trên vì đó là giải pháp
của khu vực tư nhân tự giải quyết vấn đề của mình. Tuy nhiên, khi kế hoạch đó thất bại,
FED đành phải hành động. FED đã tiến hành cắt giảm lãi suất nhiều lần, từ mức 5,25%
vào tháng 8/2007 xuống còn 2% vào tháng 4/2008. Sau đó,FED đã tuyên bố tạm dừng
giảm lãi suất và thực hiệ
n việc đánh giá những tác động của chính sách tới thị trường.
FED cũng đã bơm một lượng tiền lớn vào lưu thông qua kênh nghiệp vụ thị trường
mở bằng cách mua trái phiếu kho bạc và tổ chức các chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn
để các ngân hàng có thể có được nguồn tiền mặt cần thiết, tránh thiếu hụt thanh khoản.
Điều này đã khuyến khích các ngân hàng thương mại vay mượn tự do thông qua
cửa sổ chiết khấu bằng cách mở rộng danh mục tài sản đảm bảo. Việc mở rộng danh mục
tài sản đảm bảo được chấp nhận giống như một hình thức hỗ trợ. Đặc biệt, các chứng
khoán được đảm bảo bởi các khoản cho vay thế chấp cũng được chấp nhận vào danh mục
tài sản đảm bảo.
Vào tháng 3/2008, FED đã cứu Bear Stearns (một ngân hàng
đầu tư lớn) khỏi phá
sản và thu xếp để J.P. Morgan Chase (một ngân hàng với bảng cân đối kế toán lành
mạnh) mua lại. Để giao dịch này diễn ra thuận lợi, FED cùng với Bộ trưởng Bộ Tài chính

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page19

Henry Paulson đã đứng ra đảm bảo cho khoản nợ tương đương 29 tỷ USD chứng khoán
của Bear Stearns. Như vậy, lần đầu tiên, việc cứu một ngân hàng tư nhân đã khiến bảng
cân đối kế toán của FED cũng như tiền thuế của người dân bị rủi ro. Trong khuôn khổ
của khoản cứu trợ cả gói, FED cũng đã mở cửa sổ chiết khấu cho các ngân hàng đầu tư

nguy cho Bear Stearns vào ngày 19/3/2008. Nhân viên kế toán của SEC đãlàm việc ở
Bear Stearns cả những ngày cuối tuần, nghiên cứu hàng trăm hồ sơ chứng khoán. Họ đã

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page20

tính được con số 30 tỷ USD tài sản rủi ro (sau đó giảm xuống còn 29 tỷ USD) mà J.P.
Morgan Chase không muốn đưa vào bảng cân đối kế toán của họ. FED và Bộ Tài chính
đã bảo đảm đền bù cho bất kỳ sự thua lỗ nào của Bear Stearns và đây là lần đầu tiên FED
đã đưa rủi ro vào bảng cân đối kế toán của mình. Tuy nhiên, rủi ro này nhỏ hơn nhiều so
với 900 tỷ USD trái phiếu kho bạc trong tài khoản của FED.
Bộ Tài chính Mỹ
Theo truy
ền thống, Bộ trưởng Bộ Tài chính thay mặt Tổng thống Mỹ giải quyết tất
cả các vấn đề liên quan đến kinh tế và tài chính. Ông đồng thời là người chịu trách nhiệm
về chính sách tài khóa. Đối mặt với khủng khoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn xảy ra
vào tháng 8/2007, Bộ trưởng Paulson đã chấp thuận các chính sách của FED với vai trò
là tổ chức giám sát cao nhất của hệ thống ngân hàng. Ông đã ủng hộ
các biện pháp chính
sách của FED nhằm tăng tính thanh khoản và cắt giảm lãi suất. Vào tháng 11/2007, ông
đã ủng hộ phương án gói cứu nguy 80 tỷ USD của nhóm các ngân hàng lớn. Nhưng cuối
cùng kế hoạch này đã thất bại.
Vào tháng 3/2008, Paulson đã có một quyết định quan trọng khi đồng ý với
Bernanke về việc cứu nguy Bear Stearns. Ông tin rằng can thiệp là hết sức cần thiết khi
đối mặt với nguy cơ sự sụp đổ mang tính hệ thống, m
ột sự sụp đổ có thể nhấn chìm hệ
thống kinh tế toàn cầu
.
Để đối phó với những gì đang xảy ra, Ngài Paulson đã thông báo một kế hoạch cải


M
tạm ng
ư
năm 20
0
liệu từ
1
Dow Jo
n
Nế
mức gi

điểm và
o
2009. :
TS. Diệ
p


n: “Tài c
h
a
n Feb
9
49 7063
1


Biể
u
Mar
A
6547
7
2 11740
1
6 12050
1
0 10959
1
d
oanh béo

ng. Cổ ph
i
n
thất nặng
n
12/1/09 t
h
5
,81%, chỉ
s
g
chỉ số bì
n
liên tục t

â
nề này, cá
c
h
ì các chỉ s

s
ố Nasdas
g
n
h quân cô
n

quý III n
ă
h
ạm đáy tạ
i

ư
ờng chứn
g
y
Jun
J
2
8300
8
8
0 11347

khoán M

J
ul Au
g
8
147 913
10963 112
13212 128
10739 110
ó
a của các
u
t
ư rớt th

p
hố Wall l

h
oán Mỹ đ
ã
%
; chỉ số S
D
ow-Jone
s

gần 13,5
0

0
0 điểm x
u
0 điểm và
o
K
21 – Nhó
m
Pa
Oct No
9488 97
7
8176 75
5
13522 12
7
11670 11
9
đầu tư cũ
n
n
g 6 tháng

i ra đi. Th
e
g
kể như: c
h

m 30,47%


a
y thì
8
,000
năm

GVHD
:
Tiểu lu


Year
2009
2008
2007
2006
C

tăng 0,6
thất ng
h
mức k

số thất
n
nghiệp

nghiệp
đ


mức cao
đ
ều đồng l
o
s
uy thoái v

a
.
Gia Luật
h
ính tiền t

Biểu 5:
T
J
u
-3
.
1.
6
1.
9
3.
0
ế
u hụt
t
ài c

.
80
6
0
9
0
0
0
h
ính gây á
p
2007 và q
u
9
% vào th
á
a
(cuộc chi
ế
8% năm 1
9
l
à các côn
g
n
hân công
V
G
DP suy gi



m liên tục
CHKT
N
P
của Mỹ 2
Dec

-1.90
2.50
2.40
á
c hoạt độn
g
0
08, so với
m
2007 lên
1

m phát sa
u
5
% năm 1
9

t giảm tại

ng hoảng
đ


t nghiệp c
a
K
21 – Nhó
m
Pa
r
age
0

G
DP của M

n
ăm 2006.
T
t
háng 10/2
0
thứ hai đẩ
y
ê
n do
t
ỷ l

h
và các
d

Nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái khi GDP âm liên tục nhiều kỳ. (Suy thoái kinh tế
là tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) âm liên tục trong 2 quý. Suy
giảm kinh tế là tốc độ tăng của GDP bị giảm sút trong nhiều quý (3,4 quý) )
Đến thời điểm năm 2009 GDP của Mỹ đã suy giảm 4 quý liên tiếp, chuỗi suy giảm dài
nhất từ năm 1947
Và tỷ lệ thất nghiệp lên mức báo
động
Biểu 6: Tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ từ quý I/2008 đến quý IV/2009

Biểu 7: Tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ từ năm 1990 đến năm 2010.

Tình trạng đói tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp
phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào. Thất nghiệp
gia t
ăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại

GVHD: TS. Diệp Gia Luật CHKT Ngày 3 – K21 – Nhóm 5
Tiểu luận: “Tài chính tiền tệ”
Page24

làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc
có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General
Motors, Ford Motor và Chrysler LLC. Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận
động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công.Ngày 12 tháng 12 năm 2008,
GM đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu vực Bắc Mỹ. Tiêu
dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tớ
i mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy
kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát
.
Biểu 8: Tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp của Mỹ

Các nước đang phát triển châu Á hầu hết đều bị giảm tốc độ tăng trưởng, thậm chi
có nước còn tăng trưởng âm. Bangladesh, Indonesia, Pakistan, Việt Nam vốn có mức
tăng trưởng trên dưới 6% trong các năm 2007 và 2008, sang năm 2009 chỉ còn tăng
trưởng trên dưới 3%. Malaysia và Thái Lan tăng trưởng với tốc độ -3,0% và -3,5% trong
năm 2009.
Giá dầu (USD/thùng) giảm mạnh từ giữa năm 2008 do lượng cầu giảm khi kinh tế
thế giới xấu đi.
Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế suy thoái,
xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu ở Đông
Á. Một số nền kinh tế ở đ
ây như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào
suy thoái. Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại.
Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm trọng cả về
tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành khủng
hoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là
Đức
và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng. Khu vực
đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập.
Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Mỹ, nên cũng bị
ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm
mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ
.
Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản
xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm. Điều này lại làm cho các nước xuất
khẩu dầu mỏ bị thiệt hại. Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra đã làm cho nạn đầu
cơ lương thực nổ ra, góp phần d
ẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm
2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu. Nhiều thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status