đánh giá sức sống và sức sản xuất của nhóm gà ta gò công ở một trại gà thịt tỉnh tiền giang - Pdf 13



iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài: “Đánh giá sức sống và sức sản xuất của nhóm gà ta Gò Công ở một trại
gà thịt thuộc tỉnh Tiền Giang”.
Mục tiêu đề tài kiểm tra nhóm giống gà ta Gò Công thông qua các chỉ tiêu theo
dõi về sức sống và sức sản xuất.
Đề tài được thực hiện trên đàn gà từ 1 – 10 tuần tuổi, tiến hành hai đợt, dựa vào
sắc lông gà con 1 ngày tuổi. Mỗi đợt chia 3 lô, mỗi lô 100 con. Qua 10 tuần chúng tôi
thu được một số kết quả như sau:
Về sức sống
Cả 3 nhóm giống gà ta Gò Công đều có đáp ứng miễn dịch tốt sau khi chủng
ngừa vaccine Newcastle. Tuy nhiên hàm lượng kháng thể không kéo dài đủ để bảo hộ
đàn gà đến xuất chuồng.
Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở cả 3 nhóm gà gần tương đương nhau.
Tỷ lệ chết thấp nhất ở lô gà sọc sậm gần 1%. Hai nhóm còn lại có tỷ lệ chết cao
hơn nhưng ở mức thấp dưới 4%.
Về sức sản xuất
Trọng lượng trung bình vào lúc 10 tuần tuổi ở cả 3 đợt gần như nhau (gà trống
1250 g, gà mái 1.000g).
Tăng trọng tuyệt đối cả 3 nhóm gần như nhau (gà trống 13,35 g/ngày, gà mái
12,25 g/ngày).
Chỉ số chuyển biến thức ăn gần tương đương nhau (2,6).
Tỷ lệ gà có màu chân vàng thấp nhất ở nhóm gà sọc sậm (61%).
Gà ta Gò Công thuộc nhóm mọc lông nhanh. Sau 2 tuần hầu hết đã mọc lông
đuôi (92%).

2.1.4. Nhóm phù hợp tổ chức chính 4
2.2. Những yếu tố ảnh hưởng năng xuất 5
2.2.1. Giống và công tác giống trong chăn nuôi gia cầm 5
2.2.2. Thức ăn và dinh dưỡng 6
2.2.3. Yếu tố nhiệt độ 6
2.2.4. Yếu tố ẩm độ 7
2.2.5. Thông thoáng 7
3.2.6. Chăm sóc và quản lý 8 v

3.2.7. Quy trình phòng bệnh 9
2.3 Giới thiệu một số giống gà thả vườn 9
2.3.1. Gà địa phương (gà nội) 9
2.3.2. Gà ngoại nhập 10
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 12
3.1. Thời gian và địa điểm 12
3.1.1. Thời gian 12
3.1.2. Địa điểm 12
3.2. Nội dung 12
3.3. Phương pháp khảo sát 12
3.3.1. Bố trí khảo sát 12
3.3.2. Chăm sóc và quản lý 13
3.3.3. Thức ăn 14
3.3.4. Chuồng trại 15
3.3.5. Vệ sinh thú y 15
3.3.6 Các loại thuốc và vaccine sử dụng 15
3.3.7. Đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch chống bệnh Newcastle 16
3.3.7.1. Phản ứng ngưng kết hồng cầu HA 17


vii

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

MHC : Major histocophatibility complex
BT : Bình Thắng
HTX : Hợp tác xã
TX : Thị xã
HA : Haemagglutination test
HI : Haemagglutination inhibition
MG : Medica geometrica
%CD : % chuyển dương
Xn : Xét nghiệm
Lm : Lấy mẫu
TSTK : Tham số thống kê
CV% : Hệ số biến thiên
Xmin : Trọng lượng nhỏ nhất
Xmax : Trọng lượng lớn nhất
X : Trọng lượng trung bình
NLTĐ : Năng lượng trao đổi
CSCBTĂ : Chỉ số chuyển biến thức ăn
CPTĂ : Chi phí thức ănviii

DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Bố trí khảo sát 12

x

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1a: Biến thiên hệ số MG ở đợt 1 23
Biểu đồ 4.1b: Biến thiên hệ số MG ở đợt 2 23
Biểu đồ 4.2a: Tỷ lệ chuyển dương %CD đợt 1 25
Biểu đồ 4.2b: Tỷ lệ chuyển dương %CD đợt 2 25
Biểu đồ 4.3a: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng vào lúc 22 – 45 – 70 ngày tuổi đợt 1 27
Biểu đồ 4.3b: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng vào lúc 22 – 45 – 70 ngày tuổi đợt 2 27
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ chết ở 2 đợt 30
Biểu đồ 4.5a: Trọng lượng trung bình của gà trống vào lúc 10 tuần tuổi ở 2 đợt 37
Biểu đồ 4.5b: Trọng lượng trung bình của gà mái vào lúc 10 tuần tuổi 40
Biểu đồ 4.6a: Tăng trọng tuyệt đối của gà trống ở cả 2 đợt 41
Biểu đồ 4.6b: Tăng trọng tuyệt đối của gà mái ở cả 2 đợt 43
Biểu đồ 4.7: Lượng thức ăn tiêu thụ của đàn gà ở 2 đợt 44
Biểu đồ 4.8: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng của đàn gà ở cả 2 đợt 45
Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ màu da chân trắng và chì ở 2 đợt 46
Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ màu da chân vàng ở 2 đợt 46
Biểu đồ 4.11: Tỷ lệ mọc lông đuôi vào tuần 2 ở 2 đợt 47

1

1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Chọn những nhóm giống gà ta Gò Công có sức sống cao, sức sản xuất tốt, màu
lông và màu da chân phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.
1.2.2. Yêu cầu
Theo dõi sức đề kháng với một số bệnh thường gặp trên gà.
Đánh giá sức sống của đàn gà từ 1 ngày tuổi đến 10 tuần tuổi.
Theo dõi sức sản xuất của đàn từ 1 ngày tuổi đến 10 tuần tuổi.

3



4

miễn dịch thụ động có được là do con người tạo ra, như trường hợp tiêm huyết thanh
để trị bệnh gọi là miễn dịch thụ động nhân tạo.
Miễn dịch chủ động: là loại miễn dịch mà tự bản thân sinh vật tạo ra khi tiếp
xúc với kháng nguyên. Nếu miễn dịch chủ động mà có sự tham gia của con người như
tiêm vaccine sẽ được gọi là miễn dịch chủ động nhân tạo. Miễn dịch chủ động do sinh
vật tiếp thu tự nhiên trong môi trường sống được gọi là miễn dịch chủ động tự nhiên.
Trong miễn dịch chủ động hay miễn dịch thụ động đều có cả miễn dịch dịch thể
và miễn dịch qua trung gian tế bào.
2.1.2. Sơ lược về hệ thống miễn dịch
Hệ thống miễn dịch bao gồm nhiều cơ quan và nhiều loại tế bào nằm rải rác
khắp cơ thể, hợp tác với nhau để nhận diện và phản ứng với kháng nguyên theo nhiều
cách, dẫn đến đáp ứng miễn dịch cuối cùng.
Các cơ quan Lympho gồm: tuyến ức, túi Fabricius, lách, hạch Lympho, mảng
Payer, hạch hạnh nhân…
Các loại tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch: lympho T, lympho B, đại thực bào,
bạch cầu đơn nhân lớn, tế bào Mast……
2.1.3. Đáp ứng miễn dịch của gia cầm
Gia cầm mới nở, hệ thống miễn dịch chưa hoàn chỉnh, chức năg bảo vệ cơ thể
chủ yếu do kháng thể mẹ truyền qua lòng đỏ trứng. Hàm lượng kháng thể trong lòng
đỏ, qua quá trình bảo quản và ấp nở ổn định. Trong quá trình ấp kháng thể truyền từ
lòng đỏ qua màng phôi và vào tuần hoàn phôi vào ngày thứ 13.
2.1.4. Nhóm phù hợp tổ chức chính (MHC - major histocophatibility complex)
Nhóm phù hợp tổ chức chính là nhóm các alen giữ vai trò quan trọng nhất trong
sự di truyền của các kháng nguyên bề mặt tế bào.
Các kháng nguyên của nhóm MHC gồm có 2 lớp:
Lớp I đóng vai trò quan trọng trong khả năng tạo miễn dịch qua trung gian tế
bào.

thể trong thời gian ngắn.
Mục đích của công tác giống là nâng cao sức sinh trưởng, sức sinh sản, khả
năng chuyển hoá thức ăn và sức sống, sức kháng bệnh.
Cơ sở của việc chọn giống là ứng dụng các đặt tính cơ bản của di truyền học.
Những đặc tính cơ bản này dựa trên các định luật di truyền của Menden, sự tương tác
gen và tương tác của các tính trạng.
Màu sắc lông: đối với gà thịt có bộ lông trắng hoặc sáng màu khi giết thịt người
ta dễ dàng làm sạch lông, trái lại gà có lông màu sẫm hoặc đen thường để lại gốc lông
với sắc tố đen trên da, làm cho quày thịt không đẹp, giảm phẩm chất quầy thịt. Chính 6

vì vậy mà khi tổ hợp lai chuyên thịt người ta thường tạo ra gà có màu lông trắng hoặc
sáng.
Màu da và màu da chân: chúng thường do sắc tố dưới da quyết định. Màu chân
đen hay chân xám do sự hiện diện của sắc tố melanin trong lớp mô dưới da qui định,
còn lớp biểu bì không chứa sắc tố.
Tốc độ mọc lông: tình trạng mọc lông nhanh sẽ thuận lợi cho việc rút ngắn thời
gian nuôi gà thịt. Khi giết thịt ở lứa tuổi sớm, gia cầm sẽ có ít lông măng, gốc lông
trưởng thành khô, không để lại gốc lông lớn và dinh dưỡng trên da làm cho quầy thịt
xấu và dễ bị nhiễm khuẩn.
2.2.2. Thức ăn và dinh dưỡng
Trong quá trình sống gia cầm ăn và uống theo bản năng nhằm cung cấp đủ nhu
cầu năng lượng cho mọi hoạt động, đồng thời tích lũy dinh dưỡng cho sinh trưỡng và
sinh sản.
Nhu cầu duy trì gồm: tạo nhiệt để ổn định thân nhiệt, cung cấp năng lượng cho
mọi hoạt động sống hằng ngày, cần thiết cho việc sửa chữa, tái tạo và thay thế những
tế bào mô, biểu bì, máu bị thoái hóa.
Nhu cầu về sinh trưởng là lượng chất cần thiết cho sự lớn lên của cơ thể, gia

gây mất cân bằng hệ thống đệm, ảnh
hưởng đến khả năng sử dụng Ca tạo vỏ trứng. Khi ngưỡng thân nhiệt tăng lên 47
o
C thì
sẽ gây chết.
Trong vùng nhiệt độ môi trường thấp, quá trình sinh nhiệt tăng nhưng do nhiệt
độ môi trường thấp nên quá trình thải nhiệt thuận lợi, lượng nhiệt thải ra nhiều gà ăn
nhiều để cung thêm nguồn năng lượng nhằm ổn định thân nhiệt. Trong môi trường
lạnh mặc dù năng xuất không giảm nhưng tiêu tốn thức ăn tăng.
Khi nhiệt độ và ẩm độ môi trường cao, quá trình điều hòa thân nhiệt sẽ khó
khăn, gà không thể chịu được tình trạng này. Vì ẩm độ cao cản trở sự bóc hơi nước
theo đường hô hấp, khi đó thân nhiệt tăng lên làm gà chết.
2.2.4. Yếu tố ẩm độ
Ẩm độ trong chuồng nuôi do nước bóc hơi và hơi nước theo đường hô hấp tạo
thành. Ở 21
o
C gà uống lượng nước gấp đôi lượng thức ăn, 65-70% nước đó được thải
qua phân. Khi nhiệt độ tăng lên thì tăng lượng nước vào và lượng nước qua phân cũng
tăng.
2.2.5. Thông thoáng
Trong quá trình hô hấp gia cầm hấp thu O
2
thải CO
2
nên trong chuồng hàm
lượng khí O
2
giảm và tăng khí CO
2
và hơi nước. Quá trình lên men phân hủy phân và

Chế độ chiếu sáng cho gà con rất quan trọng. Ánh sáng cần để gà nhận biết và
lấy thức ăn nên gà con trong tuần đầu chiếu sáng 23 giờ trong ngày, từ tuần thứ 2 giảm
2 giờ chiếu sáng trong ngày mỗi tuần cho đến khi thời gian chiếu sáng trong ngày còn
12 giờ ổn định suốt trong thời kỳ sinh trưởng. Cường dộ chiếu sáng cho gà con khoảng
3,5 – 4 W/m
2
(20 lux), vừa đủ cho gà nhìn thấy thức ăn là đủ, ánh sáng trắng hoặc màu
vàng cam nhẹ thích hợp cho gà con.
Mật độ gà con úm có xu hướng tăng cao nhằm tiết kiệm năng lượng sưởi ấm và
tận dụng chuồng trại một cách hiệu quả nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện tiểu khí hậu
trong chuồng nuôi. Úm trên lồng trong 2 tuần đầu có thể nuôi với mật độ 50 gà/m
2
,
sau đó giảm dần mật độ. Khi úm dưới nền mật độ thích hợp là 25 – 30 gà/con.
Gà hướng trứng nên được cắt mỏ để tránh hiện tượng cắn mổ, bởi thức ăn làm
rơi vãi lãng phí thức ăn đảm bảo sự đồng đều. Nên cắt mỏ lần đầu vào lúc gà được 10
– 21 ngày tuổi, cắt mỏ trên của gà ở khoảng 1/3 từ ngoài vào, mỏ dưới chỉ đốt nóng
đầu mỏ để hạn chế phát triển. Cắt mỏ sớm vào những ngày đầu không có lợi vì gà con
rất khó uống nước và việc tập ăn cũng gặp trở ngại, thao tác khó nên dễ bỏ sót, mỏ
nhanh chóng phát triển nên phải cắt lại trong khoảng thời gian ngắn. Thiết bị cắt mỏ
với lưỡi dao được nung nóng nên vừa cắt mỏ vừa đốt vết cắt để bịt những mạch máu
tránh chảy máu. Lưỡi dao phải bén để vết cắt gọn, không gây dập mỏ gà con. Cắt mỏ
không đúng qui cách sẽ gây thương tổn không thể khắc phục.
Sau khi cắt mỏ, nên tăng mực nước và thức ăn trong máng nhằm tránh đau cho
gà.
9


Phân bố rộng trên mọi miền đất nước, nhưng gà Ri đã bị pha tạp nhiều, sắc lông
không đồng nhất. Gà mái có màu vàng nâu, nâu nhạc, đen hoặc lốm đốm như hoa mơ. 10
Gà trống có màu vàng tía hoặc vàng, có nơi pha lông đen , đầu thanh, đa số mào đơn,
da chân vàng, chân có 2 hàng vẩy, thịt vàng. trọng lượng gà trống một năm tuổi đạt 1,8
- 2,5 kg. trọng lượng gà mái một năm tuổi 1,3 - 1,8 kg, sản lượng trứng 90 - 110
trứng/năm, trọng lượng trứng 42 - 43gram/trứng.
Gà Rot Ri (Rhoder)
Nhóm gà này được viện chăn nuôi tạo ra từ giống gà Rot đỏ và giống gà Ri. Gà
Rhoder có màu lông nâu đỏ, lông đuôi và lông cánh màu đen hoặc xanh, da, mỏ, chân
vàng, mào đơn phát triển, chân có hai hàng vẩy. Lúc trưởng thành gà trống nặng 3 -
3,5kg. Con mái nặng 2 - 2,5 kg, sản lượng trứng160 trứng. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả
trứng 2,5 kg thức ăn. Chúng có sức kháng bệnh cao, thịt thơm ngon (Bùi Đức Lũng,
2001).
Gà Tre
Phân bố rộng rải ở mọi miền đất nước, vóc dáng nhỏ, thịt thơm ngon. Trọng
lượng 6 tháng tuổi gà trống 0,8 - 0,85 kg, gà mái 0,6 - 0,62 kg. Đầu nhỏ mào hạt đậu.
con trống thường có màu vàng tía ở vùng cổ và đuôi dài có màu đen. Lông gà mái
thường màu xám xen lẫn màu trắng. Sản lượng trứng 60 - 70 trứng/năm, trọng lượng
trứng 21 – 22 gram/trứng. Có nơi sử dụng gà Tre để làm cảnh hay chọi.
Gà Tàu Vàng
Con trống có hình thù vạm vở, bước đi chậm rãi, đầu to , mồng bánh lái to dài
răng cưa, mỏ xậm, lông vàng lợt, đuôi thường cụt cong, xanh biếc pha lẫn đen , da
vàng chân lùn nhưng không thô, cựa to.trọng lượng 1 năm tuổi nuôi thả vườn 2,8 - 3
kg. Con mái bề xề vuông vứt, ít bươi phá hơn gà ta, đầu nhỏ dẹp mồng hình răng cưa
hơi ngả. Màu lông vàng lợt hơn gà trống. Tuy nhiên cũng có con không có lông đuôi,
chân lùn vàng, có vài con có lông chân. Trọng lượng 1 năm tuổi đạt 2 - 2,6 kg, sản
lượng trứng 100 trứng/năm (Hồ Văn Giá, 1992).

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
3.1. Thời gian và địa điểm
3.1.1. Thời gian
Đề tài được thực hiện từ ngày 05/03/2008 đến 30/07/2008.
3.1.2. Địa điểm
Địa điểm thực hiện: Tại hộ gia đình của bà Lý Thị Nguyệt Hà thuộc HTX Chăn
Nuôi Và Thuỷ Sản Gò Công thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang.
Địa điểm gởi mẫu xét nghiệm: Phòng vi sinh Bệnh Viện Thú Y Trường Đại
Học Nông Lâm TP.HCM.
3.2. Nội dung
Đánh giá sức sống của gà ta Gò Công
Đáp ứng miễn dịch chống Newcastle
Tỷ lệ nhiễm cầu trùng
Tỷ lệ chết và tỷ lệ bệnh tích ở các cơ quan
Khảo sát sức sản xuất của gà ta Gò Công
Trọng lượng trung bình qua các tuần tuổi
Tăng trọng tuyệt đối
Chỉ số chuyển biến thức ăn
3.3. Phương pháp khảo sát
3.3.1. Bố trí khảo sát
Trên đàn gà ta Gò Công lúc 1 ngày tuổi, tách riêng theo màu sắc lông
Bảng 3.1: Bố trí khảo sát
Lô màu lông

Đợt
I
Không sọc
(con)
II
Sọc nhạt

3.3.2. Chăm sóc và quản lý
Gà giai đoạn 1 - 3 ngày tuổi, nhiệt độ chuồng úm luôn duy trì ở 37
o
C, luôn
quan sát đàn gà và điều chỉnh nhiệt độ thích hợp theo sự phân tán của đàn gà.
Nền chuồng được trải 1 lớp trấu mỏng khoảng10 cm bên trên được lót một lớp
báo, báo được thay thường xuyên khi thấy dơ.
Ngày đầu không cho ăn chỉ cho uống nước có pha koleridin, coli, bio - vit C và
glucose. Nước được đựng trong bình dung tích 2 lít.
Ngày thứ 2 bắt đầu cho ăn tấm trộn với chế phẩm gừng - tỏi - nghệ. Thức ăn
được đựng trong máng ăn dài dành cho gà con, cho ăn tự do suốt ngày đêm.
Gà giai đoạn 3 - 14 ngày tuổi, nhiệt độ chuồng úm duy trì 30
o
C, luôn quan sát
đàn gà và điều chỉnh nhiệt độ thích hợp theo sự phân tán của đàn gà. 14
Nền chuồng chỉ trải một lớp trấu.
Nước uống vẫn pha thuốc như gà lúc 1 - 3 ngày tuổi.
Từ 3 ngày tuổi đến 14 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil dành cho gà thả vườn từ
1 - 42 ngày tuổi có trộn chế phẩm gừng - tỏi - nghệ. Thức ăn được đựng trong máng
dài dành cho gà con, cho ăn suốt ngày đêm.
Giai đoạn từ 14 đến 35 ngày tuổi cho ăn thức ăn Cargil dành cho gà thả vườn từ
1 - 42 ngày tuổi. Thức ăn được đựng trong máng ăn nhỏ, mỗi ngày cho ăn 3 lần vào
lúc 5h, 10h, 15h và đến 17h30 treo máng ăn lên cao.
Nước uống được đựng trong máng uống 8 lít, có pha thuốc theo lịch phòng và
điều trị. Ban đêm không thắp đèn.
Giai đoạn 35 ngày tuổi đến 8 tuần tuổi, ta tiến hành cho gà ra ngoài sân chơi và
cho ăn như trong giai đoạn gà từ 14 đến 35 ngày tuổi.

con/m
2
sau đó nới dần dần lên đến 10 con/m
2
vào lúc 14 ngày tuổi.
Gà từ 2 - 4 tuần được thả cho tự do trong chuồng với mật độ 10 con/m
2
Gà từ 4 - 10 tuần tuổi được nuôi trong chuồng với mật độ 2 con/m
2
và sân chơi
với mật độ 10 con/m
2
.
3.3.5. Vệ sinh thú y
Trước khi nhập gà con về thực hiện vệ sinh sạch sẽ phun thuốc sát trùng toàn
bộ chuồng trại, máng ăn, máng uống và để trống chuồng trại trong 10 ngày.
Trước khi nhập gà con về 1 ngày tiến hành trải chất độn chuồng 1 lớp khoảng
5cm. Trong quá trình nuôi, chất độn chuồng được thay thường xuyên khi thấy dơ.
Phun thuốc sát trùng chuồng trại mỗi tuần 1 lần cả trong và ngoài chuồng nuôi.
3.3.6 Các loại thuốc và vaccine sử dụng
Bảng 3.3: Các loại thuốc sử dụng
Tên thuốc Hãng sản xuất Liều lượng Ngày sử dụng
Koleridin 1 g/1 l 1 - 7
Coli 1 g/2 l 1 - 7
Bio-VTMC 1 g/1 l 1 - 7
Glucose 1 g/1l 1 - 7
Khoáng 200 ml/2l 9 - 10
Coximax Greenvet 1g1 l 10 - 14
Ampicoli Medion 1 g/2 l 25 - 26
Vitamin K Sai gon vet 2 g/1l 27 - 28, 33 - 35 và 50 - 53

Đợt 1 Đợt 2 Lô
Thời
điểm Lm
I
(mẫu)
II
(mẫu)
III
(mẫu)
I
(mẫu)
II
(mẫu)
III
(mẫu)
1 10 10 10 10 10 10
42 10 10 10 10 10 10
70 10 10 10 10 10 10
Tổng 30 30 30 30 30 30

Lần thứ nhất lúc gà 1 ngày tuổi (lấy máu tim).
Lần thứ hai sau chủng ngừa lần hai khoảng 3 tuần.
Lần thứ ba trước khi xuất chuồng.
Máu lần thứ hai trở đi thì lấy máu ở tĩnh mạch cánh.
Máu sau khi lấy, để đông chắt lấy phần huyết thanh để vào ống eppendorf sau
đó cho vào thùng đá bảo quản lạnh. Sau khi vận chuyển về phòng thí nghiệm, ly tâm
và sau đó lấy phần huyết thanh bên trên làm phản ứng HI với kháng nguyên chuẩn là
virus Newcastle.
50 50 50

50 50 50 50 50 50 50 50
Độ pha loãng
kháng nguyên
1/2 1/4

1/8

1/16

1/32

1/64

1/128

1/256

1/512

1/1024

1/2048

ĐC

Huyễn dịch
hồng cầu 1%
(µl)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status