iii
TÓM TẮT
Đề tài “Khảo sát tỉ lệ bảo hộ sau tiêm phòng và sự lưu hành của vi rút cúm
(phân týp H5) trên gia cầm có nguồn gốc từ các tỉnh Bình Dương, Long An, Tây
Ninh được giết mổ tại thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện tại trạm chẩn đoán
xét nghiệm thuộc Chi Cục Thú Y Tp.HCM từ ngày 18/01/2008 đến 16/6/2008.
Phương pháp: dùng phản ứng HI tìm kháng thể chống vi rút cúm trong mẫu
huyết thanh và dùng phản ứng realtime RT – PCR tìm vi rút cúm trong mẫu dịch
ngoáy họng.
Các kết quả như sau:
- Tỷ lệ bảo hộ chống vi rút cúm của đàn gia cầm nhập về giết mổ tại các cơ sở
giết mổ trên địa bàn Tp.HCM chiếm tỷ lệ thấp (33,13%), tỷ lệ bảo hộ trên gia cầm có
nguồn gốc từ Đồng Nai là cao nhất (46,32%) kế đến là Tây Ninh (39,82%) và thấp
nhất là Long An (25,53%). Tỷ lệ đạt bảo hộ với vi rút cúm gia cầm trên gà (40,46%)
cao hơn trên vịt (21,41%), tỷ lệ bảo hộ trên gà đẻ cao nhất (71,11%) tiếp theo là trên
gà thịt (29,64%) và vịt thịt có tỷ lệ bảo hộ thấp nhất (21,41%).
- Hiệu giá kháng thể các mẫu không đạt bảo hộ chiếm tỷ lệ (66,87%) cao hơn các
mẫu đạt bảo hộ, HGKT các mẫu đạt bảo hộ phân bố chủ yếu ở mức 1/32 – 1/64.
- Chỉ số MG chung là rất thấp (MG = 4) chưa đạt bảo hộ trên quần thể, chỉ số
MG trên gà (MG = 5,7) cao hơn trên vịt (MG = 2,6), chỉ số MG trên gà đẻ rất cao (MG
= 39) đạt yêu cầu bảo hộ quần thể còn chỉ số MG trên gà thịt và vịt thịt (MG =3,2 và
MG = 2,6) rất thấp không đạt bảo hộ trên quần thể.
- Qua khảo sát 180 mẫu dịch ngoáy bằng phương pháp Real – Time RT- PCR
cho kết quả âm tính với vi rút cúm.
Nhận định chung: công tác tiêm phòng và giám sát tiêm phòng thực hiện kém
nhưng tình hình dịch bệnh ổn định nên dịch đã không xảy ra trên địa bàn khảo sát.
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 21
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21
3.3. VẬT LIỆU 21
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.5. CHỈ TIÊU THEO DÕI 33
3.6. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 33
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 TỶ LỆ BẢO HỘ CHỐNG VI RÚT CÚM Ở GIA CẦM NHẬP VỀ GIẾT MỔ TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 34
4.1.1 Tỷ lệ bảo hộ chung 34 v
4.1.2 Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phân bố theo nguồn gốc gia cầm
được giết mổ 37
4.1.3 Tỷ lệ mẫu huyết thanh có kháng thể đạt bảo hộ phân bố theo loài gia cầm 39
4.1.4 Tỷ lệ mẫu huyết thanh đạt bảo hộ phân bố theo hướng sản xuất 41
4.2 HIỆU GIÁ KHÁNG THỂ CÁC MẪU HUYẾT THANH CỦA GIA CẦM NHẬP
VỀ GIẾT MỔ TẠI TP.HCM 43
4.2.1 Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG của gia cầm xét nghiệm 43
4.2.2 Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG phân bố theo nguồn gốc gia cầm
được giết mổ 45
4.2.3 Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG phân bố theo loài gia cầm 47
4.2.4 Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG phân bố theo hướng sản xuất 49
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 KẾT LUẬN 52
5.2 ĐỀ NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các phân týp chính của vi rút cúm týp A trên người và động vật 5
Bảng 2.2: Diễn biến dịch cúm gia cầm từ tháng 12/2003 – 05/2005 9
Bảng 3.1: Trình tự của mẫu dò và Primer dùng trong phản ứng PCR 23
Bảng 3.2: Bố trí lấy mẫu xét nghiệm 23
Bảng 3.3: Cách thực hiện phản ứng HA 26
Bảng 3.4: Cách thực hiện phản ứng HI 28
Bảng 4.1:Tỷ lệ gia cầm có kháng thể bảo hộ đối với vi rút cúm gia cầm 33
Bảng 4.2: Tỷ lệ gia cầm có kháng thể đạt bảo hộ phân bố theo nguồn gốc gia cầm 37
Bảng 4.3: Tỷ lệ mẫu có kháng thể đạt bảo hộ phân bố theo loài gia cầm 39
Bảng 4.4: Tỷ lệ gia cầm được bảo hộ phân bố theo hướng sản xuất 41
Bảng 4.5: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG của gia cầm xét nghiệm 44
Bảng 4.6: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG phân bố theo nguồn gốc 45
Bảng 4.7: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể và chỉ số MG phân bố theo loài gia cầm 47
Bảng 4.8: Tỷ lệ các mức kháng thể đạt và chỉ số MG phân bố theo hướng sản xuất 49
Bảng 4.9: Tỷ lệ nhiễm vi rút cúm gia cầm (phân týp H5) trên gia cầm được giết mổ .51
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể 45
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể phân bố theo nguồn gốc gia cầm 47
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể phân bố theo loài gia cầm 48
Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể phân bố theo hướng sản xuất 50
1
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 . ĐẶT VẤN ĐỀ
Cúm gia cầm đang là đại dịch nguy hiểm ảnh hưởng đến năng xuất vật nuôi và
sức khỏe con người.Vi rút cúm gia cầm đặc biệt là chủng H5N1 có khả năng truyền
bệnh cho gia súc và có thể gây chết người.
Cục Thú Y cho biết từ đầu năm 2008 đến 27/2/2008 dịch cúm đã xuất hiện tại
15 xã thuộc 9 tỉnh trong cả nước, tổng số gia cầm chết, bắt buộc tiêu hủy là 21.863
con. Cả nước có 5 người nhiễm H5N1 trong đó có 3 người đã tử vong, số người chết
vì cúm gia cầm trong 2 tháng đầu năm 2008 cao bằng cả năm 2007. Thế giới dự báo
nếu chúng ta không làm tốt công tác phòng chống thì khả năng xảy ra đại dịch lây lan
từ người sang người.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm gia tiêu thụ gia cầm lớn nhất trong cả
nước, gia cầm giết mổ tại thành phố Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ nhiều tỉnh khác
nhau vì vậy công tác quản lý rất phức tạp. Liệu những gia cầm trên có mang mầm
bệnh hay không?
Do vậy, việc theo dõi giám sát tỷ lệ bảo hộ sau tiêm phòng và sự lưu hành của
vi rút gây bệnh cúm gia cầm là rất quan trọng, giúp chúng ta chủ động phát hiện sớm
và thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn sự lây lan của bệnh. Xuất phát từ thực tế
3
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM
Bệnh cúm gia cầm (có tên gọi là Fowl plague) được Perroncito mô tả đầu tiên ở Ý vào
năm 1878 và ông cho rằng tương lai sẽ là một bệnh quan trọng và nguy hiểm. Năm 1901,
Centanni và Savonuzzi đã chứng minh bệnh do “vi rút có thể qua lọc” gây ra và đến năm
1955 Achafer xác định vi rút thuộc týp A thông qua kháng nguyên bề mặt là H và N. Bệnh
được Beard mô tả ở Mỹ vào năm 1971 qua đợt dịch khá lớn trên gà tây. Các năm tiếp theo
bệnh được phát hiện ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi, Trung Cận Đông, Châu Âu, Vương
Quốc Anh và Liên Xô cũ (trích dẫn của Lê Văn Năm, 2005). Bệnh xuất hiện đầu tiên ở
nước ta vào tháng 12/ 2003.
2.2. CĂN BỆNH HỌC
4-6 nm) gồm Haemagglutinin (H) và Neuraminidase (N). Vai trò của H là giúp vi rút
gắn lên thể thụ cảm trên tế vào vật chủ, còn N có chức năng là một enzyme phá hủy
thành tế bào vật chủ giúp phóng thích vi rút đã nhân lên trong tế bào bị nhiễm. Với vi
rút cúm A, người ta đã biết đến 16 loại kháng nguyên H (H1-H16) và 9 loại kháng
nguyên N (N1-N9) ( Cục thú y, 2005).
Mỗi tổ hợp gen H và N sẽ tạo nên một phân týp gây bệnh. H là một loại protein
vừa quyết định tính kháng nguyên vừa quyết định độc lực của vi rút cúm A
(Tô Long Thành, 2007). 5
Bảng 2.1: Các phân týp chính của vi rút cúm týp A nhiễm trên người và động vật
( Nguồn: Laval, 2005)
2.2.3. Đặc điểm nuôi cấy
Vi rút cúm nhân lên tốt trên phôi gà 9 – 11
ngày tuổi, đường tiêm xoang niệu mô gây bệnh
tích tế bào, gây chết phôi, xuất huyết ở các mô
đặc biệt là da và cơ.
Dựa vào đặc tính tạo plaque trên môi
trường tế bào có thể sử dụng dòng tế bào thận
chó MDCK (Madin Darby Canine Kidney) hay
tế bào nguyên sợi phôi gà CEF (Chicken Embryo
Fibroblast) để nuôi cấy (Trần Thanh Phong, 1996).
Theo Trần Đình Từ ( 2006) :
- Haemagglutinin giúp vi rút gắn lên thể thụ cảm trên tế bào vật chủ, Neuraminidase
phân hủy thụ thể trên màng tế bào, giúp tách rời các hạt vi rút khỏi tế bào ở giai đoạn
vi rút nẩy chồi chui ra khỏi tế bào.
- Vi rút cúm gia cầm gắn vào thụ thể acid sialic ở liên kết α2,3 galactose hiện diện
trên bề mặt của tế bào biểu mô khí quản và tế bào ruột của các loài chim.
- Hệ gen của vi rút cúm là sợi âm, có chức năng làm khuôn mẫu tổng hợp sợi dương
(RNA tái bản trung gian), sau đó chính sợi này sẽ làm khuôn mẫu để tổng hợp nên
RNA hệ gen của vi rút
Các bước tái bản của vi rút:
I - Xâm nhập vào bên trong tế bào vật
chủ
II- Hòa tan và giải phóng bộ gen
III-Tái bản và sao chép
IV- Dịch mã
V- Lắp ráp
Hình 2.3: Các bước tái bản của vi rút cúm
( www.influenzareport.com)
2.2.6. Tính sinh miễn dịch
Theo Lê Thanh Hòa (2004), kháng thể đặc hiệu chính là kháng thể kháng H của
vi rút cúm đương nhiễm, nhưng thông thường động vật hoặc người chết rất nhanh
trước khi hệ miễn dịch sinh kháng thể. Kháng thể kháng H bao gồm IgM, IgA, IgG.
Kháng thể kháng H có vai trò trung hòa vi rút xuất hiện trong vòng 2 tuần sau khi tiêm
vắc xin. Hiệu giá kháng thể cao nhất ở tuần thứ 3 – 7 sau khi nhiễm. Kháng thể kháng
H có thể phát hiện dựa vào phản ứng HI.
đã nổ ra ở 10 nước châu Á: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia,
Indonesia, Trung quốc, Malaysia, Hồng Kông và Việt Nam gây thiệt hại rất lớn đến
kinh tế, chính trị, xã hội, hơn 200 triệu gia cầm bị chết và tiêu hủy. 8
Trong năm 2006 – 2007 nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có báo cáo
về các ổ dịch cúm gia cầm H5N1: Lào, Thái Lan, Campuchia, Indonexia, Myanmar,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Đài Loan, Pakistan, Nam Phi, Ai Cập, Triều
Tiên. Một số quốc gia châu Âu như Hungari, Rumani, Anh cũng ghi nhận có các ổ
dịch trên gia cầm. Năm 2006 cũng là năm ghi nhận có nhiều ổ dịch cúm gia cầm tại
một số quốc gia châu Phi, nơi được cho là vi rút có nguy cơ biến đổi và gây đại dịch
cúm cho người.
Hình 2.4: Bản đồ các nước có dịch cúm từ 2003 – 2007
(Nguồn: )
Đầu năm 2008 dịch cúm gia cầm cũng xảy ra rải rác ở một số quốc gia: Trung
Quốc, Hàn Quốc, Lào, Bangladet, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam.
Tính đến thời điểm 14/4/2008 theo báo cáo của WHO đã có tổng cộng 239 người
chết vì cúm gia cầm trong đó Indonexia chiếm nhiều nhất với 107 trường hợp.
Bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, dịch cúm gia cầm xuất hiện vào cuối tháng
12/2003 ở tỉnh Hà Tây, Long An và Tiền Giang với tốc độ lây lan rất nhanh, chỉ trong
vòng 2 tháng (đến tháng 2/2004), dịch đã xuất hiện ở 57/64 tỉnh thành trong nước. Từ 9
tháng 12/2003 – 5/2005, trên phạm vi toàn quốc đã xuất hiện 3 đợt dịch. Diễn biến cụ
470.495 825.689 551.026
(Nguồn: Phạm Sỹ Lăng, 2005)
Theo thông tin từ trang web của Cục Thú Y:
Từ ngày 15/12/2005 đến 12/12/2006 trên phạm vi toàn quốc không phát sinh
thêm ổ dịch mới.
Từ tháng 5/2007 - 7/2007, dịch cúm gia cầm đã tái phát tại 18 tỉnh trong cả nước,
bao gồm: Nghệ An, Nam Định, Sơn La, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Đồng
Tháp, Cần Thơ, Ninh Bình, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Quảng Nam, Hưng Yên,
Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh và Cao Bằng.
Từ tháng 1/2008 - 4/ 2008, đã có 25 ổ dịch ở 21 xã thuộc 12 tỉnh (Tuyên Quang,
Quảng Trị, Ninh Bình, Hà Nội, Vĩnh Long, Hà Nam, Quảng Ninh, Quảng Bình, Lào
Cai, Quảng Nam, Cà Mau, Sóc Trăng), tổng số gia cầm bắt buộc phải tiêu hủy 26.280
con.
Đến thời điểm 14/4/ 2008 Việt Nam có 106 người mắc bệnh cúm H5N1 trong đó
52 người tử vong. Ca bệnh cuối cùng được WHO báo cáo ngày 18/3/2008 là một bé
trai 11 tuổi ở huyên Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam phát bệnh ngày 4/3, nhập viện ngày 9/3
và tử vong ngày 14/3.
2.3.2. Loài cảm thụ
Virus cúm A gây bệnh chủ yếu cho gia cầm (đặc biệt là gà), người và động vật có
vú khác. Tuy nhiên có xu hướng vi rút cúm có độc lực thấp đột biến thành vi rút có
độc lực cao gây bệnh ở gia cầm. 10
Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với vi rút cúm týp A. Hiện nay đã
phân lập được vi rút từ vịt bầu, ngỗng, chim cút, gà Nhật, gà gô, gà lôi Phân týp của
vi rút cúm týp A đã gây dịch cho nhiều loài động vật như : ngựa, lợn, chồn, hải cẩu, và
thú hoang nhiều nơi trên thế giới (Bùi Quang Anh và Văn Đăng Kỳ, 2004).
2.3.3. Đường xâm nhập và phương thức truyền lây
Mầm bệnh xâm nhập vào gia
Từ quốc gia này sang quốc gia khác.
− Chim di trú: chim hoang dã, thủy cầm, chim biển, chim dọc bãi biển.
− Giao thương quốc tế (chim sống và thịt chưa chế biến).
2.3.4. Đặc tính gây bệnh
Sau khi vào cơ thể khoảng 1 – 2 ngày, vi rút cúm gia cầm được bài thải ra ngoài
theo đường phân, mũi và miệng Khi gia cầm hít hoặc nuốt phải vi rút, thì enzyme
trypsin trên đường hô hấp và biểu mô niêm mạc ruột phân cắt các phân tử này để
phóng thích những phân tử vi rút gây nhiễm. Ở gà, xoang mũi là vị trí tăng sinh đầu
tiên của vi rút cúm A (Lê Thanh Hòa, 2004).
Với chủng vi rút cúm gia cầm có độc lực cao, vi rút xâm nhập vào bên dưới lớp
niêm mạc và vào trong mao mạch.Vi rút nhân lên và lan tràn vào trong máu và bạch
huyết đi đến các cơ quan nội tạng, não, da. Dấu hiệu bệnh và chết là do nhiều cơ quan
bị hư hại và suy giảm chức năng.
2.4. TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÍCH
2.4.1. Triệu chứng
Thời kì ủ bệnh ngắn từ vài giờ trên gia cầm được tiêm truyền tĩnh mạch, 3 – 14
ngày trên gà ở môi trường tự nhiên (Laval, 2005).
Triệu chứng thay đổi tùy thuộc vào độc lực của vi rút, loài mắc bệnh, lứa tuổi,
giới tính, tình trạng bệnh ghép, khả năng miễn dịch của cơ thể, yếu tố môi trường
Theo Nguyễn Thị Phước Ninh (2005), bệnh chia làm 2 thể:
Bệnh do vi rút độc lực thấp LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza)
- Tỉ lệ mắc bệnh cao nhưng tỉ lệ tử vong thấp (khoảng 5%)
- Chim hoang dã nhiễm vi rút độc lực thấp không có dấu hiệu lâm sàng. Gia cầm
có biểu hiện bất thường trong cơ quan hô hấp, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục. Dấu hiệu phổ
biến nhất là ở đường hô hấp với các triệu chứng ho, hắt hơi, âm rale, chảy nước
mắt Trên gà đẻ và gà giống: gà mái ủ rủ, giảm sản xuất trứng
Bệnh do nhiễm vi rút độc lực cao HPAI (Highly Pathogenic Avian Influenza)
- Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao có thể từ 50% - 89%, một số đàn có thể đến 100%.
- Trên chim hoang và vịt nuôi ít có dấu hiệu lâm sàng.Thường con vật chết nhanh
đột ngột mà không có triệu chứng khoảng 15% đàn trong 3 ngày đầu. Nếu bệnh tiến
nhiều fibrin bám dính. Buồng trứng bị viêm xuất huyết, ống dẫn trứng bị dịch rỉ đến
casein hóa, trứng non bị dập vỡ. Ruột bị viêm xuất huyết từ cata đến fibrin, nặng nhất
là ở vùng ruột non, manh tràng và hậu môn.
Nhiễm vi rút độc lực cao: nhiều trường hợp trong ổ dịch cúm có một số chết quá
nhanh không để lại bệnh tích, nhưng một số gia cầm khác thì có các biến đổi đại thể
như: mũi bị viêm tịt, mào thâm tím, sưng dày lên, xuất huyết điểm và hoại tử. Khi cắt
đôi mào hoặc tích thấy có màu vàng xám và óng ánh như gelatin. Mí mắt và mặt phù
Hình 2.6: Triệu chứng trên gà bệnh cúm gia cầm
A Gà nằm dồn đống; B Chảy nhiều dịch tiết đư
ờng hô hấp; C Xuất hiện
triệu chứng thần kinh; D Liệt chân không đứng lên được
(Trung tâm thú y vùng TP. HCM, 2004)
A
B 13
nề, đầu sưng to. Xuất huyết dưới da, chân, kẽ móng chân và một số vùng khác ở đùi,
lưng
2.4.2.2. Bệnh tích vi thể
2.5.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm
2.5.2.1. Mẫu bệnh phẩm dùng chẩn đoán (Qui trình chẩn đoán cúm – Cục Thú Y)
- Đối với gia cầm, thủy cầm, chim và động vật có vú còn sống: mẫu máu, mẫu
phân, mẫu dịch ngoáy (dịch ngoáy mũi, dịch ngoáy họng, dịch ngoáy khí quản, dịch
ngoáy hậu môn ).
- Đối với gia cầm, thủy cầm, chim và động vật có vú đã chết: khí quản, dịch khí
quản, não, gan, lách, thận, tuyến tụy.
2.5.2.2. Các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Phân lập vi rút
- Tiêm khoảng 0,2 ml mẫu bệnh phẩm (đã xử lý kháng sinh) vào xoang niệu mô
của phôi trứng gà 10-11 ngày tuổi. Những phôi chết trong vòng 24 giờ sau khi tiêm
truyền thường do bị tạp nhiễm hoặc thao tác sai nên bị loại bỏ. Một số vi rút có thể
mọc nhanh và gây chết phôi trước 48 giờ. Sau 72 giờ hoặc tại thời điểm phôi chết sẽ
được thu hoạch dịch xoang niệu mô. Sự hiện diện của vi rút được chứng minh bằng
hoạt tính ngưng kết hồng cầu (HA) trong dịch niệu mô (Qui trình chẩn đoán cúm –
Cục Thú Y).
Phát hiện kháng nguyên
- Test Directigen Flu A (Becton, Dickinson and company, Mỹ) là phương pháp
chẩn đoán nhanh cúm A bằng phản ứng miễn dịch qua màng lọc để tìm kháng nguyên
của vi rút từ những mẫu xét nghiệm thích hợp (chất dịch mũi hay chất dịch ở hầu
họng, thanh quản). Ưu điểm của Test Directigen Flu A là ít tốn thời gian, thao tác dơn
giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên hạn chế của test này là chỉ phát hiện được vi rút cúm týp
A mà không xác định được phân týp (OIE, Manual of Diagnostic Tests and Vaccines
for Terrestrial Animals, 2004).
- Kỹ thuật dùng kháng thể huỳnh quang phát hiện nhanh vi rút cúm trong dịch
niệu mô (Qui trình chẩn đoán cúm – Cục Thú Y).
- Kỹ thuật dùng kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên vi rút trong mô
bằng nhuộm immunoperoxidase (Qui trình chẩn đoán cúm – Cục Thú Y).
- Phản ứng RT – PCR (Reverse Transcriptase – Polymerase Chain Reaction):
PCR là một kỹ thuật tiên tiến nhằm phát hiện và xác định hệ gen của vi rút cúm đặc
kháng nguyên chúng sẽ kết hợp với nhau thành đường kết tủa có thể nhìn thấy bằng
mắt thường trong môi trường thạch, đường kết tủa hình thành nơi có nồng độ kháng
nguyên và kháng thể tối ưu (OIE, Manual of Diagnostic Tests and Vaccines for
Terrestrial Animals, 2004). 16
- Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI): phát hiện kháng thể kháng vi rút
cúm týpe A phân týp H5 ở gia cầm sau khi nhiễm hoặc sau khi tiêm vắc xin. Dựa vào
đặc điểm của vi rút cúm sử dụng phản ứng HI (Hemaglutination Inhibition) dùng
kháng nguyên H5 đặc hiệu có thể phát hiện kháng thể kháng vi rút có trong huyết
thanh gia cầm, thủy cầm. Dựa vào mức độ ngưng kết của hồng cầu mà chúng ta có thể
xác định hiệu giá kháng thể kháng vi rút cúm. Ưu điểm của phản ứng là dễ thực hiện
và cho kết quả chính xác (Trung tâm thú y vùng TP. Hồ Chí Minh, 2006).
- Phản ứng miễn dịch huỳnh quang (IFT: Immunofluorescent Test): phát hiện
kháng thể kháng một phân týp N đặc hiệu.
2.6 . BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM
2.6.1 . Nguyên lý phòng chống bệnh cúm gia cầm
Áp dụng nguyên lý phòng chống dịch bệnh: là xóa bỏ một hay nhiều khâu của
vòng truyền lây, hoặc xóa bỏ mối quan hệ giữa các khâu đó (nguồn bệnh là khâu quan
trọng nhất). Phòng dịch và chống dịch là 2 nội dung khác nhau nhưng có mối liên hệ
mật thiết với nhau: phòng dịch tốt sẽ làm giảm nguồn bệnh nên việc chống dịch sẽ nhẹ
nhàng hơn; ngược lại việc chống dịch tốt sẽ làm giảm nguồn bệnh nên việc phòng dịch
sẽ thuận lợi hơn (Lê Anh Phụng, 2002).
Hình 2.9: Sơ đồ nguyên tắc phòng chống bệnh dựa trên vòng truyền lây
Nói cách khác, để phòng chống bệnh truyền nhiễm hoặc dịch cúm, chúng ta
cúm gia cầm.
2.6.3. Phòng bệnh bằng vắc xin
Vắc xin vô hoạt
Vắc xin vô hoạt đồng chủng (inactivated homologous vaccine): chủng vi rút dùng
làm vắc xin có cấu trúc kháng nguyên giống như chủng vi rút cúm gây bệnh trên thực
địa.Vắc xin có tác dụng phòng bệnh và làm giảm lượng vi rút bài thải ra môi trường.
Tuy nhiên nhược điểm hiện nay (của vắc xin) là không thể phân biệt được kháng thể từ
gia cầm được tiêm chủng và gia cầm đã tiếp xúc với mầm bệnh, do đó gây khó khăn
trong việc kiểm soát dịch bệnh trong quần thể (OIE, 2002).
Vắc xin vô hoạt đồng chủng không hoàn toàn (inactivated heterologous vaccin):
được sản xuất từ chủng vi rút cúm gia cầm có kháng nguyên H giống chủng vi rút gây
bệnh ngoài thực địa, nhưng kháng nguyên N có sự khác biệt với chủng gây bệnh trên
ổ dịch cúm
Hình 2.10: Sơ đồ phân vùng dịch đối
với cúm gia cầm Khu vực giám
sát
Khu vực bảo vệ
7 km
18
thực địa. Nhờ sự khác biệt kháng nguyên N giữa chủng vi rút vắc xin và vi rút gây
bệnh ngoài thực địa, bằng các xét nghiệm huyết thanh học (NI) người ta có thể nhận
diện những gia cầm bị nhiễm bệnh do tiếp xúc với vi rút từ môi trường (OIE, 2002).
Vắc xin tái tổ hợp (recombinant vaccine)
Một số loại vắc xin được sản xuất bằng kỹ thuật tái tổ hợp gen để phòng bệnh cúm
hủy với lý do: hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh cúm gia cầm,
bệnh cúm gia cầm nguy hiểm, lây lan nhanh gây chết hàng loạt gia cầm, đặc biệt là có
thể lây sang gia súc và người gây tử vong (Phạm Sỹ Lăng, 2005).
Hiện nay có 4 loại thuốc có khả năng kháng lại vi rút cúm: Amantadine,
Rimantadine, Oseltamivir (Tamiflu), và Zanamivir. Cơ chế tác động của thuốc dựa
trên việc ức chế chức năng neuraminidase của vi rút. Do vậy, các virion bị cầm giữ tại
chỗ không thể lan ra được ở đường hô hấp và trong cơ thể. (
neuraminidase).
2.6.5. Lược duyệt một số công trình nghiên cứu có liên quan
Trần Đức Minh và cộng tác viên (2004): định lượng sự lan truyền vi rút cúm gia
cầm độc lực cao giữa các đàn gia cầm gia cầm trong đợt dịch đầu năm 2004 tại Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong giai đoạn 1 tỷ lệ nhiễm trung bình là 0,37%
và tỷ suất tái sinh vi rút của đàn là 3,98%; trong giai đoạn 2 tỷ lệ nhiễm trung bình là
0,17% và tỷ suất tái sinh vi rút của đàn là 0,162%; trong giai đoạn 3 các tỷ lệ tương
ứng là 0,03% và 0,23%. Tỷ lệ nhiễm trung bình và tỷ suất tái sinh vi rút của đàn giảm
qua các giai đoạn là do áp dụng tốt các biện pháp phòng chống dịch.
Nguyễn Tiến Dũng và cộng tác viên (2004): Giám sát bệnh cúm gia cầm tại
Thái Bình. Theo kết quả nghiên cứu: xét nghiệm kháng thể bằng phương pháp HI cho
thấy tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính ở vịt là 60,8%, ngan 23,8%, gà thả vườn 4,8%;
xét nghiệm 1002 mẫu dịch ngoáy không phân lập được vi rút H5N1.
Nguyễn Tân Lang (2005): Khảo sát tình hình nhiễm vi rút cúm gia cầm (phân
týp H5) tại một số quận, huyện Tp. Hồ Chí Minh bằng phương pháp huyết thanh học.
Kết quả xét nghiệm trên 4456 mẫu huyết thanh bằng phương pháp ngăn trở ngưng kết
hồng cầu cho thấy: tỷ lệ nhiễm vi rút cúm gia cầm (phân týp H5) chung trên các địa
bàn khảo sát là 2,35%; tỷ lệ nhiễm trên vịt là 4,5%; tỷ lệ nhiễm trên gà là 0,04%; hiệu
giá kháng thể kháng vi rút cúm chủ yếu ở mức hiệu giá là 1/16 (chiếm 64,76%).
Phan Xuân Thảo (2005): Bước đầu khảo sát đặc điểm dịch tể học bệnh cúm gia
cầm trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh và thử nghiêm vắc xin Trovac AIV H5 để phòng
bệnh. Kết quả phân tích cho thấy tại các ổ dịch tỷ lệ gà mắc bệnh chết là 81,70%, vịt là