ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HẢI SƠN
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VI RÚT LỞ MỒM LONG MÓNG
TRÊN TRÂU, BÒ VÀ HIỆU LỰC CỦA VẮC XIN TRONG CÔNG TÁC
PHÒNG DỊCH LỞ MỒM LONG MÓNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 62.64.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Tính
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, rèn luyện tại trường và làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Quản
lý Đào tạo sau đại học, khoa Chăn nuôi Thú y và các thầy, cô giáo của trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên. Đến nay đã hoàn thành Luận văn. Nhân dịp này, tôi
xin bày tỏ biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu nhà trường, các phòng ban chức
năng, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và
toàn thể các thầy, cô đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy TS. Nguyễn Quang Tính giảng
viên khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp
hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn.
Tôi xin cảm ơn tới Lãnh đạo Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Quảng Ninh,
Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ninh. Ban Giám đốc, cán bộ Trung tâm Chẩn đoán Thú y
T.W đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
thường xuyên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện và dành cho tôi sự động viên quý báu trong
suốt thời gian học tập, nghiên cứu và quá trình hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những
tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn Nguyễn Hải Sơn
iii
MỤC LỤC
iv
1.3.6.3. Động vật cảm thụ 16
1.3.6.4. Xâm nhập và tăng sinh vi rút ở động vật cảm thụ 17
1.3.6.5. Vật liệu mang vi rút 18
1.3.6.6. Con đường và phương thức truyền lây 18
1.3.7. Miễn dịch trong bệnh LMLM 19
1.3.7.1. Miễn dịch dịch thể trong bệnh LMLM 19
1.3.7.2. Miễn dịch tế bào 20
1.3.7.3. Cytokines 21
1.3.7.4. Miễn dịch chéo 22
1.3.8. Triệu chứng và bệnh tích 23
1.3.8.1. Triệu chứng 23
1.3.8.2. Bệnh tích 25
1.3.9. Chẩn đoán 26
1.3.9.1. Chẩn đoán lâm sàng 26
1.3.9.2. Chẩn đoán vi rút học 26
1.3.9.3. Chẩn đoán phòng thí nghiệm 27
1.3.9.4. Chẩn đoán bằng kỹ thuật RT-PCR 31
1.3.10. Vắc xin phòng bệnh LMLM 33
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1. Nội dung và đối tượng nghiên cứu 35
2.1.1. Nội dung nghiên cứu 35
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu 35
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 35
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 35
2.3. Nguyên liệu 35
2.3.1. Mẫu thí nghiệm 35
2.3.2. Kít xét nghiệm 35
2.3.3. Vắc xin dùng trong thí nghiệm 36
3.3.2.3. Kết quả xác định type vi rút LMLM từ biểu mô 65
3.3.3. Kết quả nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu bò
tại Quảng Ninh 67
3.3.3.1. Diễn biến tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu bò trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh từ năm 2007 - 9/2012 67
vi
3.3.3.2. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của đàn trâu bò tại Quảng Ninh 69
3.3.3.3. Diễn biến kháng thể của trâu bò tại các thời điểm lấy mẫu sau khi tiêm
vắc xin LMLM 71
3.3.3.4. Một số khuyến cáo cho người chăn nuôi 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
1. Kết luận 77
2. Đề nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
ELISA
:
Enzyme Linked Immunosorbent Assay
FMD
:
Foot and Mouth Disease
FMDV
:
Foot and Mouth Disease Virus
HGKT
:
Hiệu giá kháng thể
H
2
O
2
:
Hydrogen peroxide (Ô xy già)
IFN
:
Interferon
IgG
:
Immuno Globulin
KH
:
Khoa học
KHBT
:
PBS
:
Phosfate Buffer Saline
RT - PCR
:
Reverse Trancrption Polymerase Chain Reaction
TCI
50
:
50% Tissue Culture Infectious Dose
T.W
:
Trung ương
TLBH
:
Tỷ lệ bảo hộ
UBNN
:
Ủy ban nhân dân
WRL
:
World Reference Laboratory
(+)
:
Dương tính
(-)
:
Âm tính
µl
Bảng 3.11: Diễn biến về tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu bò tại tỉnh Quảng
Ninh từ năm 2007 - 4/2012 68
Bảng 3.12: Hiệu giá kháng thể trung bình của đàn trâu bò khi được tiêm vắc xin 69
Bảng 3.13: Diễn biến kháng thể của trâu bò tại các thời điểm lấy mẫu 72 x
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sự phân bố các type vi rút LMLM trên thế giới (1990 - 2002) 5
Hình 1.2: Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS (Grubman, 2004) 12
Hình 1.3: Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM 24
Hình 1.4: Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM 24
Hình 3.1: Biểu đồ về tần xuất dịch LMLM của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007 -
9/2012 51
Hình 3.2: Biểu đồ diễn biến về tỷ lệ trâu bò mắc bệnh và chết vì bệnh LMLM 53
Hình 3.3: Biểu đồ về tỷ lệ trâu bò mắc bệnh LMLM theo mùa 54
Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ trâu bò mắc LMLM theo lứa tuổi 56
Hình 3.5: Đồ thị biến động hiệu giá kháng thể và độ dài miễn dịch của đàn
trâu bò sau khi tiêm vắc xin 71
Hình 3.6: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể của trâu bò tại thời điểm sau khi tiêm
vắc xin 30 ngày 73
Hình 3.7: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể của trâu bò tại thời điểm sau khi tiêm
vắc xin 60 ngày 73
Hình 3.8: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể của trâu bò tại thời điểm sau khi tiêm
vắc xin 90 ngày 74
Hình 3.9: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể của trâu bò tại thời điểm sau khi tiêm
vắc xin 120 ngày 74
Hình 3.10: Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể của trâu bò tại thời điểm sau khi
tiêm phòng đại trà tại các địa phương khác nhau thì cho đáp ứng miễn dịch cũng
khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn trâu bò khi tiêm
vắc xin là một trong những yêu cầu cấp thiết để áp dụng trong phòng bệnh LMLM
2
cho đàn gia súc ở Quảng Ninh. Xuất phát từ yêu cầu đó, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu sự lưu hành của vi rút Lở mồm long móng trên trâu, bò
và hiệu lực của vắc xin trong công tác phòng dịch Lở mồm long móng tại tỉnh
Quảng Ninh”.
* Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu sự lưu hành vi rút LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Quảng Ninh.
- Nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin LMLM.
- Khuyến cáo sự lựa chọn vắc xin và thời gian chủng vắc xin cho phù hợp.
* Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài:
Khi đặt vấn đề nghiên cứu sự lưu hành của vi rút LMLM và khả năng đáp
ứng miễn dịch của đàn trâu bò sau khi tiêm vắc xin LMLM, chúng tôi đã ý thức
được, tính phức tạp, khó khăn trong quá trình hợp tác với các hộ chăn nuôi trong
quá trình thực hiện. Hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần đưa ra
những thông tin chi tiết, những số liệu cụ thể, đáng tin cậy, những khuyến cáo và
cảnh báo về nguyên nhân bùng phát dịch LMLM tới người chăn nuôi và Cơ quan
Thú y trên địa bàn, từ đó có biện pháp phòng chống hữu hiệu nâng cao năng suất
chăn nuôi, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng.
Những kết quả nghiên cứu trong đề tài này cũng là cơ sở khoa học để bổ
sung, hoàn thiện thêm các thông tin dịch tễ học về bệnh LMLM tại Việt Nam nói
chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, học tập cũng như công tác phòng chống dịch LMLM tại Việt Nam.
3
CHƢƠNG 1
4
chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút. Năm 1922, Valleé và
Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type
A). Năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C. Sau đó, Lawrence xác
định sự có mặt của các type SAT-1, SAT-2 và SAT-3 từ những bệnh phẩm từ Châu
Phi gửi đến Phòng Thí nghiệm Tham chiếu Thế giới (Pirbright - Anh) và type Asia-
1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện.
1.2. Lịch sử bệnh Lở mồm long móng
1.2.1. Diễn biến tình hình dịch LMLM trên thế giới
Diễn biến tình hình dịch LMLM trong những năm 60 thế kỷ 20 rất trầm
trọng, trung bình mỗi năm có 4000 ổ dịch. Đến những năm 70, bệnh có xu thế giảm
ở Châu Âu, Châu Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Senegal, Liberia, Tanzania,
Nigeria…) và Châu Á (Indonesia, Malaysia, Thái Lan).
Vào những năm 80, 90 dịch LMLM được nghi nhận là có mặt ở hầu hết các
nước trong nhiều châu lục. Năm 1985, dịch LMLM do vi rút type Asia-1 xảy ra ở
Hy Lạp. Cùng thời gian này, ở Châu Á, dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ
dịch cũng do vi rút type Asia-1. Ở Châu Phi, dịch gây thiệt hại tại nhiều nước, đặc
biệt là Kenia và Ethiopia (1984 -1985). Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch
LMLM đã xảy ra ở 53 nước ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi và Nam Mỹ (Thái Thị
Thủy Phượng, 2008) [17].
Theo OIE (2005) [53] ở Châu Phi vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở
Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania và Kenia. Năm 1999, ổ dịch LMLM
type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển bò xuyên qua sa mạc
Sahara lan đến Algeria, Maroc.
Ở Châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia-1 xảy ra ở Pakistan
Myanmar và một số nước ở Tây Á như Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel ; ở Nam
Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM có nhiều thuận lợi, Paraguay được công nhận
là nước an toàn dịch (có tiêm phòng). Argentina cũng được OIE công nhận là nước
có vùng không bệnh LMLM không tiêm phòng.
Theo (Bùi Quang Anh và Hoàng Văn Năm, 2001 [1]; Thái Thị Thủy
Trung Đông: Type O phổ biến nhất, tiếp theo là type A, Asia-1 và thỉnh
thoảng có type C.
Châu Á: Các nước có dịch do type O gây ra là Bahrain, Bangladesh,
Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Qatar, Syria, Đài Loan, Lào, Việt
Nam và Yemen; type A ở Bangladesh và Iran; type Asia-1 ở Iran và Malaysia; type
C giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ và Philippines.
1.2.2. Diễn biến tình hình dịch LMLM tại Việt Nam
1.2.2.1. Lịch sử bệnh
Theo Chương trình quốc gia khống chế bệnh LMLM giai đoạn 2011 - 2015
(2011)[2], ổ dịch LMLM đầu tiên ở nước ta được phát hiện tại Nha Trang năm
1898, sau đó bệnh lan rộng ra cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, cùng thời kỳ này bệnh
xuất hiện ở các nước lân cận như Lào, Campuchia, Thái Lan. Diễn biến dịch
LMLM xảy ra ở Việt Nam trong những thập niên trước như sau:
Trong 2 năm 1921 - 1922, một số ổ dịch ở các tỉnh phía Bắc, gây ra 690 ổ
dịch, làm 13.018 con trâu, bò và lợn bị bệnh, trong đó 446 con bị chết.
Năm 1960, nhờ các biện pháp phòng chống dịch triệt để, bệnh này hầu như
đã bị tiêu diệt ở các tỉnh phía Bắc.
Năm 1969 - 1970, ở miền Nam, bệnh dịch lại xảy ra nghiêm trọng trên đàn
trâu tại khu vực Sài gòn - Chợ Lớn, từ đó lây lan ra các tỉnh lân cận và tấn công vào
5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ.
Năm 1975, bệnh dịch này xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng Nam
- Đà Nẵng trở vào tới các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ năm 1976 đến 1983, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam, làm 26.648 con
7
trâu, bò và 2.919 con lợn bị bệnh.
Trong những năm cuối thập kỷ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây
Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên bị dịch LMLM do lây lan từ Campuchia
sang. Năm 1989, riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long Đất, Long Thành và
Xuyên Mộc bị dịch kéo dài từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 10 làm 3.514 con trâu, bò
bò, 22 tỉnh có dịch ở lợn, 16 tỉnh dịch xảy ra ở cả trâu bò và lợn), với tổng số
25.658 trâu bò, 1.555 lợn và 127 dê mắc bệnh, tăng hơn nhiều so với cùng kỳ năm
2003 cả về diện dịch và số thiệt hại, dịch xảy ra ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam, đặc
biệt dịch xảy ra ở các tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển, ở các vùng chăn nuôi
trọng điểm, ảnh hưởng đến chương trình xuất khẩu và phát triển chăn nuôi bò sữa
của nhiều tỉnh, thành. Nguyên nhân xảy ra dịch là do tái phát các ổ dịch cũ, các địa
phương chưa có kế hoạch, chương trình và tổ chức phòng chống một cách chủ
động, có hiệu quả, chưa tổ chức tiêm phòng, giám sát các ổ dịch một cách chặt
chẽ. Một nguyên nhân đặc biệt quan trọng là nước ta chưa có Chương trình phòng
chống bệnh LMLM Quốc gia.
Năm 2005, dịch LMLM đã xảy ra ở 408 xã, phường của 160 quận, huyện
thuộc 37 tỉnh, thành phố gồm: Bình Phước, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Long An, Bà
Rịa Vũng Tàu, Bến Tre, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà
Mau, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Đắc Lắc, Đắc Nông, Gia Lai, Kon
Tum, Khánh Hoà, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hoá, Ninh Bình, Yên Bái, Lạng
Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai, Hải Phòng và Hải Dương tính với 28.241 trâu, bò, 3.976
lợn và 81 dê mắc bệnh.
Năm 2006, dịch LMLM đã xảy ra ở nhiều nơi trong cả nước, gây thiệt hại cho
ngành chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo các địa phương thực hiện các
biện pháp đồng bộ và quyết liệt, nên số gia súc mắc bệnh giảm so với năm trước.
Năm 2007, do thực hiện tốt công tác phòng chống bệnh LMLM, nhất là
Chương trình Quốc gia khống chế và thanh toán bệnh LMLM, các tỉnh thuộc vùng
khống chế và vùng đệm đã triển khai tiêm phòng vắc xin đúng chủng loại đạt tỷ lệ
cao, nên từ cuối tháng 8/2007 đến đầu tháng 6/2008, cả nước không có dịch LMLM
xảy ra, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên những năm trước đây
9
dịch xảy ra quanh năm, song từ năm 2007 đến nay vẫn không có dịch xảy ra.
Năm 2008, dịch LMLM đã xảy ra tại 122 xã, phường của 43 huyện, quận của
Trâu bò
Lợn
Số
tỉnh
Số
huyện
Số ổ
dịch
Số mắc
Số chết,
xử lý
Số
tỉnh
Số
huyện
Số ổ
dịch
Số
mắc
Số chết,
xử lý
1999
55
347
1912
112579
1309
52
217
958
28
75
208
6933
2229
2003
28
88
266
20303
116
28
67
123
3533
712
2004
32
134
490
25658
189
22
35
87
1555
725
2005
26
160
2008
14
43
122
2408
218
5
9
12
67
39
2009
27
87
231
7861
432
16
23
35
499
429
2010
28
-
-
16330
419
16
-
Ngày 10/ 02/ 2012 dịch lại xảy ra trên các xã: Hà Lâu, Đại Dực, thị trấn Tiên
Yên thuộc huyện Tiên Yên làm 16 gia súc mắc bệnh, trong đó có 11 trâu và 5 lợn.
Ngày 28/2/2012 xuất hiện tại xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu với 60 con trâu
mắc bệnh, làm chết 5 con. Tiếp đó dịch lại xuất hiện trên địa bàn huyện Đông Triều
làm 18 con lợn mắc bệnh, 7 con chết.
1.3. Vi rút gây bệnh Lở mồm long móng
1.3.1. Hình thái, kích thước của vi rút
Vi rút gây bệnh LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus, có
cấu trúc hình đa diện gồm 30 mặt đều (hình 1.2). Vi rút LMLM thuộc loại vi rút
nhỏ nhất, kích thước từ 20-30 nm và có thể qua được các máy lọc Berkefeld,
Chamberland, màng lọc Seizt. Trọng lượng phân tử của một vi rút hoàn chỉnh
khoảng 6,9 Kda, 69% là protein và 31% là ARN (Nguyễn Như Thanh, 2001) [20]. 12
Hình 1.2: Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS (Grubman, 2004) [47]
Chú thích: (a) Một đơn vị cấu trúc (protomer) của vi rút LMLM với cấu trúc
“mạch lá β - vòng uốn -mạch lá β” có tiếp nối nhau từ các protein VP1 - VP2 -
VP3. (b) Một pentamer nằm trên virion, tạo nên hình đối xứng 5 cạnh. (c) Cấu trúc
của một virion hoàn chỉnh. (d) Cấu trúc không gian của protomer (sử dụng phần
mềm mô phỏng RasMole).
1.3.2. Cấu tạo của vi rút
Hạt vi rút chứa 30% a-xít nucleic, đó là một đoạn ARN chuỗi đơn, hợp thành
bởi 8450 ba-zơ và có hệ số sa lắng là 35S, không có tính sinh kháng thể và đặc tính
kháng nguyên nhưng có vai trò trong quá trình gây nhiễm. Vỏ cap-xit của vi rút có
hơn 60 đơn vị (cap-xôm). Mỗi cap-xôm có 4 loại protein cấu trúc giống nhau là
VP1, VP2, VP3 và VP4. VP1, VP2 và VP3 tạo nên một bề mặt của khối 20 mặt đối
xứng với đường kính khoảng 23 nm, còn VP4 là protein ở bên trong cap-xit kết
dính ARN vi rút với mặt trong của cap-xit. VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố
định vi rút trên những tế bào, đóng vai trò quan trọng nhất trong việc gây bệnh, đồng
diệt vi rút trong 1 - 2 phút), Carbonat (Na
2
CO
3
4%) Trong thực tiễn, người ta
thường dùng NaOH 0,5% để sát trùng cho thân thể gia súc và cho người.
Các chất toan cũng có tác dụng tiêu diệt vi rút nhưng không đều: Axit Citric và
Acetic 5%, sự toan hoá tự nhiên xảy ra trong thịt và sữa nhanh chóng tiêu diệt mầm
bệnh. Vi rút thường không còn hoạt tính trong thịt để 48 giờ ở nhiệt độ thường.
Formol 0,5%, Beta-propiolactone (0,4%) và Ethylene Imine nhanh chóng diệt vi
rút (Formol 0,5% được dùng vô hoạt vi rút trong chế tạo vắc xin). Ngoài ra, thuốc tím,
hợp chất thuỷ ngân và axit lactic là những chất sát trùng tốt.
Dung môi lipid: Vi rút LMLM ở dạng trần (không có vỏ lipid) nên đề kháng
với hầu hết yếu tố vật lý và hoá học. Do không có lipid, vi rút không bị phá hủy
trong những dung môi hoà tan lipid như Ether, Chloroform. Các dẫn chất Phenol và
cồn ít có tác dụng.
Glycerol, chất hữu cơ: Glycerin 50% giúp bảo tồn vi rút, được dùng để gửi
bệnh phẩm đến phòng thí nghiệm. Glycerin loại trừ tạp khuẩn để chẩn đoán mà
không vô hoạt vi rút. Vi rút tăng sức kháng khi tồn tại ở các vật chất hữu cơ làm
giảm tác dụng của thuốc sát trùng (Trần Thanh Phong, 1996) [14].
1.3.4.3. Tồn tại của vi rút với môi trường
Vi rút có thể tồn tại được khoảng 5-10 tuần ở những nơi thời tiết mát, đặc
biệt là ở các mô bào hoặc ở tổ chức ngoài cơ thể, với điều kiện pH không thấp hơn
6,5. Những nơi khô ráo, lạnh và tập trung nồng độ muối cao không gây ảnh hưởng
cho vi rút và nó có thể sống lâu hơn ở những nơi đóng băng.
Tại chuồng nuôi của trâu bò, vi rút có thể tồn tại khoảng 14 ngày, ở trong
14
chất phế thải của động vật khoảng 39 ngày, ở trên bề mặt của phân vào mùa hè
khoảng 28 ngày và vào mùa đông là khoảng 67 ngày. Tường, nền, máng ăn, chất lót