ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ CHINH
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA SALMONELLA
TYPHIMURIUM VÀ SALMONELLA ENTERITIDIS TRÊN
ĐÀN VỊT TẠI HAI TỈNH BẮC NINH, BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.62.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN THỊ HẠNH
2. TS. NGUYỄN QUANG TÍNH
THÁI NGUYÊN - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2010
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.........................................................4
1.1. Tình hình nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở vịt và vi khuẩn
Salmonella .............................................................................................4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về sự lưu hành của S. typhimurium
và S. enteritidis trên vịt....................................................................4
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về vi khuẩn Salmonella.................................5
1.2. Vi khuẩn Salmonella .............................................................................12
1.2.1. Đặc điểm về hình thái.....................................................................12
1.2.2. Đặc điểm về tính chất nuôi cấy ......................................................14
1.2.3. Đặc tính sinh hóa............................................................................16
1.2.4. Đặc điểm dịch tễ học của Salmonella ............................................17
1.2.5. Cấu trúc kháng nguyên...................................................................19
1.2.6. Các yếu tố gây bệnh của Salmonella..............................................22
1.2.7. Vai trò gây bệnh đường tiêu hoá của Salmonella ..........................28
1.3. Bệnh phó thương hàn vịt.......................................................................30
1.3.1. Căn bệnh.........................................................................................30
1.3.2. Yếu tố truyền bệnh .........................................................................31
1.3.3. Đặc điểm dịch tễ học ......................................................................31
1.3.4. Quá trình gây bệnh .........................................................................32
1.3.2. Triệu chứng ....................................................................................33
1.3.3. Bệnh tích.........................................................................................34
1.4. Chẩn đoán..............................................................................................35
1.4.1. Chẩn đoán dịch tễ học ....................................................................35
1.4.2. Chẩn đoán lâm sàng .......................................................................35
1.4.3. Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm ................................................35
1.5. Phòng bệnh............................................................................................37
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
phân lập được từ vịt.............................................................................69
3.7. Khả năng sản sinh độc tố của các chủng vi khuẩn S. typhimurium
và S. enteritidis phân lập được từ vịt...................................................71
3.8. Kết quả thử độc lực của các chủng Salmonella phân lập được trên vịt....72
3.9. Kết quả xác định LD50 của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vịt ....75
3.10. Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên bản động vật của vi khuẩn
Salmonella phân lập từ vịt...................................................................78
3.11. Kết quả về tình trạng kháng thuốc của hai chủng S. typhimurium
và S. enteritidis phân lập được ............................................................81
3.12. Kết quả điều trị bệnh...........................................................................84
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................89
4.1. Kết luận .................................................................................................89
4.2. Đề nghị ..................................................................................................90
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................91
PHỤ LỤC .....................................................................................................99
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU - CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGA
Brilliant Green Agar
BPW
Buffered Pepton Water
BSA
Bismuth Sulfite Agar
Modified Semisolid Rappaport Vassiliadis
QV
Quế Võ
R
Rough
RPF
Rapit Permeability Factor
S
Smooth
ST
Stable Toxin
T
Salmonella typhimurium
TD
Tiên Du
loại kháng sinh...............................................................................54
Bảng 3.1: Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella trên vịt ..........................57
Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm Salmonella theo mùa vụ trong năm............................60
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra một số đặc tính nuôi cấy của vi khuẩn
Salmonella phân lập được .............................................................62
Bảng 3.4: Kết quả xác định một số đặc tính sinh hoá của vi khuẩn
Salmonella phân lập được .............................................................63
Bảng 3.5: Kết quả giám định khả năng lên men đường của các chủng
Salmonella phân lập được .............................................................64
Bảng 3.6: Kết quả giám định vi khuẩn Salmonella từ vịt bằng kháng
huyết thanh O đơn và đa giá..........................................................65
Bảng 3.7: Kết quả định typ vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vịt ..........67
Bảng 3.8: Kết quả xác định S. typhimurium và S. enteritidis phân lập
được trên địa bàn nghiên cứu ........................................................68
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ nhiễm S.enteritidis và S.typhimurium trên vịt...................69
Bảng 3.9: Kết quả phản ứng ngưng kết trực tiếp hồng cầu của các
chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được ...................................70
Bảng 3.10: Xác định độc tố của các chủng vi khuẩn Salmonella phân
lập được từ vịt................................................................................71
Bảng 3.11: Kết quả thử độc lực các chủng Salmonella phân lập được
từ vịt........................................................................................ 73
Bảng 3.12: Kết quả theo dõi chuột thí nghiệm gây nhiễm chủng S.
typhimurium phân lập được từ vịt .................................................75
Bảng 3.13: Kết quả theo dõi chuột thí nghiệm gây nhiễm chủng S.
enteritidis phân lập được từ vịt .....................................................77
Bảng 3.14: Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên vịt bằng một số chủng
Salmonella phân lập được từ vịt....................................................79
Bảng 3.15: Kết quả mổ khám bệnh tích vịt gây bệnh thực nghiệm ................80
phòng, chống dịch bệnh ở vật nuôi có hiệu quả.
Vịt là loài thuỷ cầm có tính thích nghi cao với các điều kiện sinh thái,
thích hợp cho việc chăn thả ở những nơi có nguồn nước để tìm kiếm thuỷ
động vật và thóc lúa rơi vãi sau thu hoạch. Những năm gần đây, chăn nuôi vịt
thịt phát triển mạnh, tuy nhiên, điều kiện nuôi vịt cần có nước là môi trường
rất thuận lợi cho việc phát triển bệnh do vi khuẩn gây ra, trong đó Salmonella
có vai trò quan trọng về dịch tễ, là một hạn chế đáng kể trong việc phát triển
mạnh giống gia cầm này. Hầu hết các sản phẩm chăn nuôi vịt đều bị vấy
nhiễm Salmonella ở các mức độ khác nhau.
2
Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã kết luận
Salmonellosis là bệnh chung của nhiều loài vật nuôi và gây bệnh cho cả con
người. Nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, tiêu chuẩn qui định đối
với Salmonella là không được có bất kỳ 1 typ Salmonella nào trong 25 gam
sản phẩm được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam,
tiêu chuẩn này cũng được qui định trong TCVN 7046-2002 [46]. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO) thì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó có gia cầm và thịt gia
cầm sạch bệnh nhất là sạch Salmonella là một yêu cầu cấp thiết.
Vi khuẩn Salmonella đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay. Tuy vậy,
trong những năm gần đây, chúng được quan tâm nhiều của các nhà nghiên
cứu bởi sự gia tăng của các bệnh ngộ độc thực phẩm ở người mà nguyên nhân
chủ yếu là do độc tố của chúng gây ra. Việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella,
tỷ lệ nhiễm, vai trò gây bệnh của chúng… đối với đàn gia cầm tại hai tỉnh Bắc
Ninh, Bắc Giang là việc làm cần thiết, để từ đó có cơ sở xây dựng biện pháp
phòng, chống bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm nói
chung, chăn nuôi vịt nói riêng phát triển bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn vệ
sinh thực phẩm, có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Ở nước ta cho tới nay
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở vịt và vi khuẩn Salmonella
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về sự lưu hành của S. typhimurium và S. enteritidis
trên vịt
Một nghiên cứu thực hiện ở học viện Metnhicốp (1956 - 1958) đã cho thấy
trong 156 mẫu Salmonella phân lập được từ gia cầm (trong đó có vịt) có 96/156
(52,9%) là do S. typhimurium (trích theo Trần Xuân Hạnh và cs, 1998) [15].
Ở Inđonêsia, năm 1992 - 1993, đã xác định 26 mẫu huyết thanh vịt,
trong đó S. tyhimurium là 24%, S. amsterdam là 10,5%, S. virchov là 7,5% và
S. thompson là 6,8% (trích theo Trần Thị Hạnh và cs, 2002) [12].
Ở Long An, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, cho thấy:
8,8% vịt đẻ, 24,7% vịt con, 31,7% phôi trứng bị chết và 64,8% cứt xu đã bị
nhiễm Salmonella (Trần Xuân Hạnh và cs, 1998 [15]).
Đối với tất cả các loài gia cầm, Salmonellosis thể hiện các thể bệnh sau:
nhiễm trùng, nhiễm trùng không xuất hiện triệu chứng, không bệnh tích trở
thành những con vật khoẻ mang trùng, chúng suốt đời bài tiết thường xuyên
hoặc gián đoạn Salmonella ra môi trường hoặc dưới thể bệnh với những triệu
chứng khi nở hoặc chết ngay khi mới nở. Các vịt con bị xù lông, sợ rét,
cuộn mình dưới máy ủ. Chúng khát nước và chết hoàn toàn do mất nước.
Đôi khi chúng biểu hiện viêm khớp, viêm rốn, đặc biệt khi nhiễm S.
typhimurium. Trong một số trường hợp biểu hiện triệu chứng tiêu hoá như: ỉa
lỏng nước trắng hoặc xanh, có vết máu. Tỷ lệ chết có thể tới 70%. Trong thể
cấp tính, bệnh kéo dài 3 hoặc 4 ngày và không có bất cứ triệu chứng điển hình
nào. Ở vịt đẻ, thể cấp tính đặc trưng bằng những triệu chứng: ủ rũ, sốt, manh
tràng xanh xẫm. Thể mãn tính trước hết biểu hiện ở triệu chứng sinh sản như:
6
này. Song người chính thức phát hiện ra loài vi khuẩn Salmonella lại là
T. Smith, một cộng sự của ông.
Những năm tiếp theo, các nhà khoa học tiếp tục phân lập được vi khuẩn
này gây bệnh ở người, tìm thấy vi khuẩn trong thịt bò, trong chuột bạch…
Selbitz và cs (1995) [71], cho biết: năm 1988, A.Gartner ở Jena (Đức)
đã xác định được nguyên nhân gây viêm ruột người do ăn phải thịt bò chết ở
Frankenhausen (Đức) là vi khuẩn, lúc đó được gọi là Bacillus enteritidis (nay
là S.enteritidis); căn cứ vào tên người phát hiện ra vi khuẩn, cũng như nơi mà
vi khuẩn gây bệnh; trong một khoảng thời gian dài loài vi khuẩn S. enteritidis
được gọi là trực khuẩn Gartner với các tên khác nhau như Gartner - bacillus
hoặc Typus Gartner Jena.
Năm 1889 và 1890 tại Viện vệ sinh trường Đại học Greiswald (Đức) do
F.Loeffler phụ trách đã xảy ra dịch bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đối với
chuột thí nghiệm. Nguyên nhân do loài vi khuẩn lúc đó được gọi tên là
Bacillus typhimurium. Năm 1891, C.O Jensen đã tách được S. dublin từ bệnh
phẩm của bê bị bệnh tiêu chảy. Cùng năm đó loài S. typhimurium được phát
hiện ở Greiswald và Breslau (Selbitz và cs, 1995) [71].
Năm 1900, tên giống Salmonella được Lignieres sử dụng đặt cho trực
khuẩn gây bệnh dịch tả “Hogcholera bacillus” (Selbitz và cs, 1995) [71].
Theo Selbitz và cs (1995) [71], lúc đầu tất cả các bệnh ở gia súc do
Salmonella gây ra được gọi chung một tên là bệnh PTH “Paratyphus”. Cho
đến năm 1914 có tổng cộng 12 loài vi khuẩn được mô tả và xếp vào giống
Salmonella. Trong những năm 30 (thế kỷ XX) số lượng loài Salmonella đã
tăng lên nhanh chóng. Năm 1926, White đã có những công trình nghiên cứu
về cấu trúc kháng nguyên của Salmonella, bắt đầu một thời kỳ khoa học mới
về giống vi khuẩn này. F.Kauffmann tiếp tục thành công trong những nghiên
cứu sau đó và đã thiết lập được bảng kháng nguyên đầu tiên vào năm 1934,
8
Các loài S. abortus ovis, S. montevideo, S. dublin, S. anatum gây bệnh ở cừu.
S. abortus equi là tác nhân chính gây bệnh cho ngựa. Còn ở gia cầm và chim
chủ yếu do S. pullorum-.gallinarum, S. typhimurium, S. enteritidis gây ra.
Vai trò gây bệnh của Salmonella đối với gia cầm được đề cập từ đầu
thế kỷ XX, tuy nhiên triệu chứng bệnh đã được mô tả sớm hơn nhiều. Vào
năm 1888 một vụ dịch xảy ra ở Anh tại một cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp
đã gây chết 400 con. Lúc bấy giờ người ta nghi đây là bệnh dịch tả gà, ngay
sau đó Klein phân lập được căn bệnh và đặt tên là Bacillus gallinarum. Một
vài năm sau Lucet ở Pháp, Pfeiler và Rhese ở Đức cũng mô tả căn bệnh tương
tự. Cho đến năm 1892 Loeff đã gọi Bacterium typhimurium là vi trùng gây
bệnh chủ yếu của bệnh thương hàn ở gia cầm. Từ năm 1933 đến năm 1956 tại
Anh đã có rất nhiều tác giả để tâm nghiên cứu về bệnh này. Hầu hết các loài
gia cầm như gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng và bồ câu đều bị nhiễm Salmonella ở
mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm thay đổi từ 1 - 9,8% (Nagaraja và cs, 1991) [63].
Tại các nước Đông Nam Á, Bela Toth (1985) [44], một chuyên gia thú
y của FAO đã dành nhiều năm nghiên cứu về bệnh của vịt cho biết: bệnh do
Salmonella gây trên vịt xảy ra ở hầu khắp thế giới và tỷ lệ thay đổi từ 1 60%. Trong một ổ dịch thường thấy vịt chết ngay từ những ngày đầu sau khi
đưa ra khỏi lò ấp, vịt ở mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh, tuy nhiên triệu
chứng lâm sàng thường chỉ thấy ở vịt con.
Tại Mỹ rất nhiều công trình nghiên cứu về các chủng Salmonella gây
bệnh cho gia cầm đã được công bố. Williams và cs (1976) [79], đã nghiên cứu
các biện pháp chẩn đoán phát hiện S. typhimurium ở gia cầm.
Đã có những nghiên cứu về các chủng Salmonella gây bệnh trên vịt,
một số tác giả đã phân lập được S. typhimurium từ một số ổ dịch tự nhiên xảy
ra trên vịt con và vịt đẻ (Bela Toth (1985) [44]). Tuy nhiên, các tác giả
10
Nghiên cứu Salmonella ở lợn có công trình của Phùng Quốc Chướng
(1995) [7], Trần Xuân Hạnh (1995) [14], Hồ Văn Nam và cs (1997) [22],
Cù Hữu Phú và cs (2000) [30]; Đỗ Trung Cứ và cs (2001) [3] và Nguyễn Bá Hiên
(2001) [16].
Phùng Quốc Chướng (1995) [7], trong thời gian 5 năm (1989-1994) xét
nghiệm một lượng lớn mẫu phân lợn lấy từ các địa phương, xác định tỷ lệ lợn
ở 4 tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng) nhiễm vi
khuẩn Salmonella ở các vùng khác nhau, lợn các lứa tuổi và theo các mùa
trong năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lợn nuôi tại Tây Nguyên có tỷ lệ
nhiễm Salmonella 24,83%; 15% số mẫu thức ăn thừa trong máng ăn, 30% số
mẫu nước rửa chuồng tại trại nhiễm Salmonella. Tác giả đã theo dõi biến
động số lợn nhiễm Salmonella ở lợn khoẻ và ở lợn bị tiêu chảy.
Trần Xuân Hạnh (1995) [14], khi phân lập vi khuẩn Salmonella trên
lợn ở tuổi giết thịt tại lò mổ ở thành phố Hồ Chí Minh (nguồn lợn từ 6 tỉnh:
Minh Hải, Hậu Giang, Đồng Nai, Tiền Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận và
Thành phố Hồ Chí Minh) đã cho biết: 20,82% mẫu hạch màng treo ruột,
11,28% mẫu phân có Salmonella.
Hồ Văn Nam và cs (1997) [22], nghiên cứu sự phân bố của Salmonella
trong cơ thể lợn bị bệnh PTH; đã tiến hành gây viêm ruột cho 12 lợn sau cai
sữa bằng cách cho uống nước muối và sau 10 giờ cho uống thêm 5 ml canh
trùng Salmonella. Sau 4 - 7 ngày, lợn sốt (40 - 410C), ỉa chảy phân khắm;
chứng tỏ viêm ruột ở giai đoạn nhiễm trùng. Xét nghiệm vi khuẩn 12 lợn trên,
100% bệnh phẩm lấy ở ruột; 85,71% đến 100% bệnh phẩm là hạch lâm ba,
gan, lách có Salmonella cả thể cấp tính và mãn tính.
Cù Hữu Phú và cs (2000) [30], nghiên cứu Salmonella trong bệnh tiêu
chảy ở lợn 35 ngày đến 4 tháng tuổi nuôi xung quanh Hà Nội, cho biết: 80%
mẫu phân lợn tiêu chảy có nhiễm Salmonella. Xác định đặc tính sinh học, khả
Ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, Trần Xuân Hạnh và cs
(1998) [15], cũng thông báo tình hình tương tự. Ngoài mẫu phân, tác giả còn
xét nghiệm các mẫu trứng và cho kết quả đáng chú ý là tỷ lệ nhiễm Salmonella
cao nhất ở mẫu trứng đã nở (64,8%) tiếp theo là trứng sát (31,7%).
Trần Thị Hạnh và cs (1999) [11], nghiên cứu tình trạng nhiễm
Salmonella tại các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp, đã xác định vi khuẩn ở
thức ăn hỗn hợp, nước uống, nước thải, chất độn chuồng, vỏ trứng và lòng đỏ
trứng. Kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm Salmonella cao nhất ở chất độn chuồng
(80,00%); thấp nhất là vỏ trứng và lòng đỏ trứng (18,29%).
Nguyễn Bá Hiên (2001) [16], đã cho biết khá chi tiết kết quả phân lập
vi khuẩn thường gặp trong đường ruột, biến động các loài vi khuẩn khi gia
súc bị tiêu chảy, đặc biệt là tình trạng bội nhiễm Salmonella.
Nguyễn Ngọc Huân và cs (2006) [18], nghiên cứu sự lưu hành
Salmonella trên vịt tại trại vịt giống Vigova, đã nghiên cứu trên các mẫu phân
vịt, trứng sát lò ấp và mẫu nước môi trường. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm
Salmonella không cao (8,83%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở mẫu xét nghiệm
trứng sát lò ấp (16,19%), thấp nhất là ở mẫu nước (0%).
Salmonella là vi khuẩn gây ra quá trình bệnh lý đường tiêu hoá cho
nhiều loài vật nuôi. Do vậy, để phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao góp phần
bảo vệ đàn vật nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng, giữ vệ sinh an
toàn thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ con người thì nghiên cứu về vi khuẩn
Salmonella toàn diện là yêu cầu hết sức cần thiết.
1.2. Vi khuẩn Salmonella
1.2.1. Đặc điểm về hình thái
Salmonella là một loại vi khuẩn, hình gậy ngắn, hai đầu tròn, kích
thước 0,4 - 0,6 x 1 - 3 µ, không hình thành giáp mô và nha bào, có 7 - 12 lông
(trừ S. Pullorum - Gallinarum không có lông). Vi khuẩn dễ nhuộm với
13
thạch dùng để nhận dạng các khuẩn lạc Salmonella cũng như kiểm tra một số
đặc tính sinh hoá bao gồm Brilliant Green Agar (BGA), Bismuth Sulfite Agar
(BSA), Triple Sugar Ion (TSI), Xylose Lysine Deroxycholate (XLD), Xylose
Lysine Tetrathionate 4 (XLT4), Modified Semisolid Rappaport Vassiliadis
(MSRV), Rambach, Kligler.
Trên môi trường BSA: sau 48 giờ nuôi cấy ở 37oC, vi khuẩn
Salmonella mọc lên những khuẩn lạc đặc trưng, xung quanh khuẩn lạc màu
nâu thẫm, càng vào giữa khuẩn lạc càng đậm chuyển dần sang màu đen,
khuẩn lạc có màu ánh kim.
Trên môi trường thạch thường, vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc dạng S
(Smooth), tròn, trong sáng hoặc xám, nhẵn bóng, rìa gọn, hơi lồi ở giữa,
đường kính khoảng từ 1 - 1,5 mm, thỉnh thoảng có thể thấy khuẩn lạc dạng R
(rough), nhám, mặt trong mờ. Môi trường thạch máu, vi khuẩn mọc thành
khuẩn lạc tròn, màu xám, trơn bóng, ở giữa hơi lồi lên (Nguyễn Như Thanh,
2001) [39].
Trên môi trường MacConkey (MacC) vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc
tròn, không màu. Trên môi trường BSA Salmonella mọc những khuẩn lạc đặc
trưng: xung quanh màu nâu sẫm, vào giữa màu vàng đậm, gần đen, khuẩn lạc
có màu ánh kim (Timoney và cs, 1988) [74].
Vi khuẩn Salmonella thể hiện tính kiềm, hình thành khuẩn lạc màu đỏ
trên môi trường BGA. Trong môi trường TSI hình thành khuẩn lạc nhạt màu,
15
mặt nghiêng môi trường có màu đỏ, màu hồng ở đáy cùng sản sinh H2S làm
cho môi trường chuyển màu đen (Quinn và cs, 1994) [68].
Trên môi trường XLD: vi khuẩn hình thành khuẩn lạc có kích thước
trung bình màu đen.
Trên môi trường MSRV: là môi trường chọn lọc những Salmonella có
khả năng di động, vi khuẩn di động trên bề mặt môi trường tạo thành vòng