nghiên cứu sự lưu hành của salmonella typhimurium và salmonella enteritidis trên đàn vịt tại hai tỉnh bắc ninh, bắc giang và biện pháp phòng chống - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ CHINH

NGHIÊN CỨU SỰ LƢU HÀNH CỦA SALMONELLA
TYPHIMURIUM VÀ SALMONELLA ENTERITIDIS TRÊN
ĐÀN VỊT TẠI HAI TỈNH BẮC NINH, BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.62.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. TRẦN THỊ HẠNH
2. TS. NGUYỄN QUANG TÍNH
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Sau
Đại học và khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã giành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực
hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Ban lãnh đạo Viện Thú y cùng các thành
viên trong bộ môn Vệ sinh gia súc đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Xin chân thành cảm ơn các chủ
chăn nuôi trang trại vịt trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cám ơn tới người thân trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp luôn động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Thái Nguyên, tháng 4 năm 2010

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Chinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 0
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3

PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Đối tượng, vật liệu và địa điểm nghiên cứu 40
2.1.1. Đối tượng 40
2.1.2. Vật liệu dùng trong nghiên cứu 40
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu 41
2.1.4. Thời gian thực hiện đề tài 41
2.2. Nội dung nghiên cứu 41
2.3. Phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1. Phương pháp lấy mẫu 42
2.3.2. Phương pháp phân lập vi khuẩn Theo ISO 6579 42
2.3.2. Phương pháp giám định các đặc tính sinh hoá 44
2.3.3. Xác định typ của chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 46
2.3.4. Xác định khả năng sản sinh độc tố 49
2.3.5. Xác định độc lực của chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 52
2.3.6. Xác định tính mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng
Salmonella phân lập được 53
2.3.7. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh PTH vịt 55
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 56
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
3.1. Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella trên vịt tại địa bàn
nghiên cứu 57
3.2. Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella trên vịt theo mùa vụ 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3.3. Kết quả xác định một số đặc tính nuôi cấy và đặc tính sinh hoá của
các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 61
3.4. Kết quả giám định Salmonella phân lập từ vịt bằng kháng huyết
thanh O đơn và đa giá 65
3.5. Kết quả định typ vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vịt 66
3.6. Kết quả xác định kháng nguyên bám dính của vi khuẩn Salmonella

CHO
Chinese Hansten Ovary
DPF
Delayd Permeability Factor
E
Salmonella enteritidis
KN
Kháng nguyên
LD
50

50 percent Lethal Dose
LPS
Lypopolysaccharide
LT
Lable Toxin
MSRV
Modified Semisolid Rappaport Vassiliadis
QV
Quế Võ
R
Rough
RPF
Rapit Permeability Factor
S
Smooth
ST
Stable Toxin
T
Salmonella typhimurium

Bảng 3.5: Kết quả giám định khả năng lên men đường của các chủng
Salmonella phân lập được 64
Bảng 3.6: Kết quả giám định vi khuẩn Salmonella từ vịt bằng kháng
huyết thanh O đơn và đa giá 65
Bảng 3.7: Kết quả định typ vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vịt 67
Bảng 3.8: Kết quả xác định S. typhimurium và S. enteritidis phân lập
được trên địa bàn nghiên cứu 68
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ nhiễm S.enteritidis và S.typhimurium trên vịt 69
Bảng 3.9: Kết quả phản ứng ngưng kết trực tiếp hồng cầu của các
chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 70
Bảng 3.10: Xác định độc tố của các chủng vi khuẩn Salmonella phân
lập được từ vịt 71
Bảng 3.11: Kết quả thử độc lực các chủng Salmonella phân lập được
từ vịt 73
Bảng 3.12: Kết quả theo dõi chuột thí nghiệm gây nhiễm chủng S.
typhimurium phân lập được từ vịt 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Bảng 3.13: Kết quả theo dõi chuột thí nghiệm gây nhiễm chủng S.
enteritidis phân lập được từ vịt 77
Bảng 3.14: Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên vịt bằng một số chủng
Salmonella phân lập được từ vịt 79
Bảng 3.15: Kết quả mổ khám bệnh tích vịt gây bệnh thực nghiệm 80
Bảng 3.16: Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ đối với hai chủng S.
typhimurium và S. enteritidis phân lập được 82
Bảng 3.17: Hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh PTH vịt 85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

thịt phát triển mạnh, tuy nhiên, điều kiện nuôi vịt cần có nước là môi trường
rất thuận lợi cho việc phát triển bệnh do vi khuẩn gây ra, trong đó Salmonella
có vai trò quan trọng về dịch tễ, là một hạn chế đáng kể trong việc phát triển
mạnh giống gia cầm này. Hầu hết các sản phẩm chăn nuôi vịt đều bị vấy
nhiễm Salmonella ở các mức độ khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

2
Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã kết luận
Salmonellosis là bệnh chung của nhiều loài vật nuôi và gây bệnh cho cả con
người. Nhằm đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, tiêu chuẩn qui định đối
với Salmonella là không được có bất kỳ 1 typ Salmonella nào trong 25 gam
sản phẩm được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam,
tiêu chuẩn này cũng được qui định trong TCVN 7046-2002 [46]. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO) thì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó có gia cầm và thịt gia
cầm sạch bệnh nhất là sạch Salmonella là một yêu cầu cấp thiết.
Vi khuẩn Salmonella đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay. Tuy vậy,
trong những năm gần đây, chúng được quan tâm nhiều của các nhà nghiên
cứu bởi sự gia tăng của các bệnh ngộ độc thực phẩm ở người mà nguyên nhân
chủ yếu là do độc tố của chúng gây ra. Việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella,
tỷ lệ nhiễm, vai trò gây bệnh của chúng… đối với đàn gia cầm tại hai tỉnh Bắc
Ninh, Bắc Giang là việc làm cần thiết, để từ đó có cơ sở xây dựng biện pháp
phòng, chống bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm nói
chung, chăn nuôi vịt nói riêng phát triển bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn vệ
sinh thực phẩm, có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Ở nước ta cho tới nay
những nghiên cứu về Salmonella nói chung và đặc biệt là 2 loài Salmonella
typhimurium (S. typhimurium) và Salmonella enteritidis (S. enteritidis) gây
ngộ độc thực phẩm chủ yếu ở người còn ít được quan tâm.


4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở vịt và vi khuẩn Salmonella
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về sự lưu hành của S. typhimurium và S. enteritidis
trên vịt
Một nghiên cứu thực hiện ở học viện Metnhicốp (1956 - 1958) đã cho thấy
trong 156 mẫu Salmonella phân lập được từ gia cầm (trong đó có vịt) có 96/156
(52,9%) là do S. typhimurium (trích theo Trần Xuân Hạnh và cs, 1998) [15].
Ở Inđonêsia, năm 1992 - 1993, đã xác định 26 mẫu huyết thanh vịt,
trong đó S. tyhimurium là 24%, S. amsterdam là 10,5%, S. virchov là 7,5% và
S. thompson là 6,8% (trích theo Trần Thị Hạnh và cs, 2002) [12].
Ở Long An, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, cho thấy:
8,8% vịt đẻ, 24,7% vịt con, 31,7% phôi trứng bị chết và 64,8% cứt xu đã bị
nhiễm Salmonella (Trần Xuân Hạnh và cs, 1998 [15]).
Đối với tất cả các loài gia cầm, Salmonellosis thể hiện các thể bệnh sau:
nhiễm trùng, nhiễm trùng không xuất hiện triệu chứng, không bệnh tích trở
thành những con vật khoẻ mang trùng, chúng suốt đời bài tiết thường xuyên
hoặc gián đoạn Salmonella ra môi trường hoặc dưới thể bệnh với những triệu
chứng khi nở hoặc chết ngay khi mới nở. Các vịt con bị xù lông, sợ rét,
cuộn mình dưới máy ủ. Chúng khát nước và chết hoàn toàn do mất nước.
Đôi khi chúng biểu hiện viêm khớp, viêm rốn, đặc biệt khi nhiễm S.
typhimurium. Trong một số trường hợp biểu hiện triệu chứng tiêu hoá như: ỉa
lỏng nước trắng hoặc xanh, có vết máu. Tỷ lệ chết có thể tới 70%. Trong thể
cấp tính, bệnh kéo dài 3 hoặc 4 ngày và không có bất cứ triệu chứng điển hình
nào. Ở vịt đẻ, thể cấp tính đặc trưng bằng những triệu chứng: ủ rũ, sốt, manh
tràng xanh xẫm. Thể mãn tính trước hết biểu hiện ở triệu chứng sinh sản như:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

6
này. Song người chính thức phát hiện ra loài vi khuẩn Salmonella lại là
T. Smith, một cộng sự của ông.
Những năm tiếp theo, các nhà khoa học tiếp tục phân lập được vi khuẩn
này gây bệnh ở người, tìm thấy vi khuẩn trong thịt bò, trong chuột bạch…
Selbitz và cs (1995) [71], cho biết: năm 1988, A.Gartner ở Jena (Đức)
đã xác định được nguyên nhân gây viêm ruột người do ăn phải thịt bò chết ở
Frankenhausen (Đức) là vi khuẩn, lúc đó được gọi là Bacillus enteritidis (nay
là S.enteritidis); căn cứ vào tên người phát hiện ra vi khuẩn, cũng như nơi mà
vi khuẩn gây bệnh; trong một khoảng thời gian dài loài vi khuẩn S. enteritidis
được gọi là trực khuẩn Gartner với các tên khác nhau như Gartner - bacillus
hoặc Typus Gartner Jena.
Năm 1889 và 1890 tại Viện vệ sinh trường Đại học Greiswald (Đức) do
F.Loeffler phụ trách đã xảy ra dịch bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đối với
chuột thí nghiệm. Nguyên nhân do loài vi khuẩn lúc đó được gọi tên là
Bacillus typhimurium. Năm 1891, C.O Jensen đã tách được S. dublin từ bệnh
phẩm của bê bị bệnh tiêu chảy. Cùng năm đó loài S. typhimurium được phát
hiện ở Greiswald và Breslau (Selbitz và cs, 1995) [71].
Năm 1900, tên giống Salmonella được Lignieres sử dụng đặt cho trực
khuẩn gây bệnh dịch tả “Hogcholera bacillus” (Selbitz và cs, 1995) [71].
Theo Selbitz và cs (1995) [71], lúc đầu tất cả các bệnh ở gia súc do
Salmonella gây ra được gọi chung một tên là bệnh PTH “Paratyphus”. Cho
đến năm 1914 có tổng cộng 12 loài vi khuẩn được mô tả và xếp vào giống
Salmonella. Trong những năm 30 (thế kỷ XX) số lượng loài Salmonella đã
tăng lên nhanh chóng. Năm 1926, White đã có những công trình nghiên cứu
về cấu trúc kháng nguyên của Salmonella, bắt đầu một thời kỳ khoa học mới
về giống vi khuẩn này. F.Kauffmann tiếp tục thành công trong những nghiên
cứu sau đó và đã thiết lập được bảng kháng nguyên đầu tiên vào năm 1934,

tính do S. typhimurium. Gây bệnh chủ yếu ở trâu, bò là S. dublin, S. enteritidis.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

8
Các loài S. abortus ovis, S. montevideo, S. dublin, S. anatum gây bệnh ở cừu.
S. abortus equi là tác nhân chính gây bệnh cho ngựa. Còn ở gia cầm và chim
chủ yếu do S. pullorum gallinarum, S. typhimurium, S. enteritidis gây ra.
Vai trò gây bệnh của Salmonella đối với gia cầm được đề cập từ đầu
thế kỷ XX, tuy nhiên triệu chứng bệnh đã được mô tả sớm hơn nhiều. Vào
năm 1888 một vụ dịch xảy ra ở Anh tại một cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp
đã gây chết 400 con. Lúc bấy giờ người ta nghi đây là bệnh dịch tả gà, ngay
sau đó Klein phân lập được căn bệnh và đặt tên là Bacillus gallinarum. Một
vài năm sau Lucet ở Pháp, Pfeiler và Rhese ở Đức cũng mô tả căn bệnh tương
tự. Cho đến năm 1892 Loeff đã gọi Bacterium typhimurium là vi trùng gây
bệnh chủ yếu của bệnh thương hàn ở gia cầm. Từ năm 1933 đến năm 1956 tại
Anh đã có rất nhiều tác giả để tâm nghiên cứu về bệnh này. Hầu hết các loài
gia cầm như gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng và bồ câu đều bị nhiễm Salmonella ở
mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm thay đổi từ 1 - 9,8% (Nagaraja và cs, 1991) [63].
Tại các nước Đông Nam Á, Bela Toth (1985) [44], một chuyên gia thú
y của FAO đã dành nhiều năm nghiên cứu về bệnh của vịt cho biết: bệnh do
Salmonella gây trên vịt xảy ra ở hầu khắp thế giới và tỷ lệ thay đổi từ 1 -
60%. Trong một ổ dịch thường thấy vịt chết ngay từ những ngày đầu sau khi
đưa ra khỏi lò ấp, vịt ở mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh, tuy nhiên triệu
chứng lâm sàng thường chỉ thấy ở vịt con.
Tại Mỹ rất nhiều công trình nghiên cứu về các chủng Salmonella gây
bệnh cho gia cầm đã được công bố. Williams và cs (1976) [79], đã nghiên cứu
các biện pháp chẩn đoán phát hiện S. typhimurium ở gia cầm.
Đã có những nghiên cứu về các chủng Salmonella gây bệnh trên vịt,
một số tác giả đã phân lập được S. typhimurium từ một số ổ dịch tự nhiên xảy

lợn nhiễm Salmonella, với phần lớn là các typ thuộc nhóm E (Nguyễn
Quang Tuyên, 1996) [45].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

10
Nghiên cứu Salmonella ở lợn có công trình của Phùng Quốc Chướng
(1995) [7], Trần Xuân Hạnh (1995) [14], Hồ Văn Nam và cs (1997) [22],
Cù Hữu Phú và cs (2000) [30]; Đỗ Trung Cứ và cs (2001) [3] và Nguyễn Bá Hiên
(2001) [16].
Phùng Quốc Chướng (1995) [7], trong thời gian 5 năm (1989-1994) xét
nghiệm một lượng lớn mẫu phân lợn lấy từ các địa phương, xác định tỷ lệ lợn
ở 4 tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng) nhiễm vi
khuẩn Salmonella ở các vùng khác nhau, lợn các lứa tuổi và theo các mùa
trong năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lợn nuôi tại Tây Nguyên có tỷ lệ
nhiễm Salmonella 24,83%; 15% số mẫu thức ăn thừa trong máng ăn, 30% số
mẫu nước rửa chuồng tại trại nhiễm Salmonella. Tác giả đã theo dõi biến
động số lợn nhiễm Salmonella ở lợn khoẻ và ở lợn bị tiêu chảy.
Trần Xuân Hạnh (1995) [14], khi phân lập vi khuẩn Salmonella trên
lợn ở tuổi giết thịt tại lò mổ ở thành phố Hồ Chí Minh (nguồn lợn từ 6 tỉnh:
Minh Hải, Hậu Giang, Đồng Nai, Tiền Giang, Ninh Thuận, Bình Thuận và
Thành phố Hồ Chí Minh) đã cho biết: 20,82% mẫu hạch màng treo ruột,
11,28% mẫu phân có Salmonella.
Hồ Văn Nam và cs (1997) [22], nghiên cứu sự phân bố của Salmonella
trong cơ thể lợn bị bệnh PTH; đã tiến hành gây viêm ruột cho 12 lợn sau cai
sữa bằng cách cho uống nước muối và sau 10 giờ cho uống thêm 5 ml canh
trùng Salmonella. Sau 4 - 7 ngày, lợn sốt (40 - 41
0
C), ỉa chảy phân khắm;
chứng tỏ viêm ruột ở giai đoạn nhiễm trùng. Xét nghiệm vi khuẩn 12 lợn trên,

cơ sở chăn nuôi gia cầm trong cả nước. Trong những năm gần đây có rất
nhiều tác giả nghiên cứu căn bệnh do Salmonella trên gà công nghiệp.
Nguyễn Thị Ngọc Liên (1997) [21], nghiên cứu bệnh PTH vịt ở Hà Tây
cũ đã phát hiện vịt các lứa tuổi đều nhiễm Salmonella; vịt con (1 - 56 ngày tuổi)
nhiễm cao nhất (20,97% - 25,42%); vịt đẻ nhiễm thấp hơn (8,78% - 14,4%).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

12
Ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, Trần Xuân Hạnh và cs
(1998) [15], cũng thông báo tình hình tương tự. Ngoài mẫu phân, tác giả còn
xét nghiệm các mẫu trứng và cho kết quả đáng chú ý là tỷ lệ nhiễm Salmonella
cao nhất ở mẫu trứng đã nở (64,8%) tiếp theo là trứng sát (31,7%).
Trần Thị Hạnh và cs (1999) [11], nghiên cứu tình trạng nhiễm
Salmonella tại các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp, đã xác định vi khuẩn ở
thức ăn hỗn hợp, nước uống, nước thải, chất độn chuồng, vỏ trứng và lòng đỏ
trứng. Kết quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm Salmonella cao nhất ở chất độn chuồng
(80,00%); thấp nhất là vỏ trứng và lòng đỏ trứng (18,29%).
Nguyễn Bá Hiên (2001) [16], đã cho biết khá chi tiết kết quả phân lập
vi khuẩn thường gặp trong đường ruột, biến động các loài vi khuẩn khi gia
súc bị tiêu chảy, đặc biệt là tình trạng bội nhiễm Salmonella.
Nguyễn Ngọc Huân và cs (2006) [18], nghiên cứu sự lưu hành
Salmonella trên vịt tại trại vịt giống Vigova, đã nghiên cứu trên các mẫu phân
vịt, trứng sát lò ấp và mẫu nước môi trường. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm
Salmonella không cao (8,83%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở mẫu xét nghiệm
trứng sát lò ấp (16,19%), thấp nhất là ở mẫu nước (0%).
Salmonella là vi khuẩn gây ra quá trình bệnh lý đường tiêu hoá cho
nhiều loài vật nuôi. Do vậy, để phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao góp phần
bảo vệ đàn vật nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng, giữ vệ sinh an
toàn thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ con người thì nghiên cứu về vi khuẩn

cấy. Theo Lê Văn Tạo (1993) [36], môi trường tốt nhất để hình thành
Fimbriae là môi trường MINCA và BHI. Hiện nay có khoảng 2600 typ
Salmonella được phát hiện, tuy nhiên không phải tất cả đều gây bệnh cho
người. Hai loại S. typhimurium và S. enteritidis được biết đến là nguyên nhân
chính gây bệnh Salmonellosis ở người.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

14
1.2.2. Đặc điểm về tính chất nuôi cấy
Salmonella vừa hiếu khí vừa kỵ khí không bắt buộc, phát triển trên các
môi trường thông thường. Có rất nhiều loại môi trường dinh dưỡng chọn lọc
được dùng trong phân lập Salmonella, hiện nay thường dùng các loại như:
Môi trường bồi dưỡng (tăng sinh) Buffered Pepton Water (BPW), 2 loại môi
trường tăng sinh chọn lọc đặc hiệu là Tetrathionate hay còn gọi là môi trường
Mueller- Kauffmann và Rappaport Vassiliadis (RV). Các loại môi trường
thạch dùng để nhận dạng các khuẩn lạc Salmonella cũng như kiểm tra một số
đặc tính sinh hoá bao gồm Brilliant Green Agar (BGA), Bismuth Sulfite Agar
(BSA), Triple Sugar Ion (TSI), Xylose Lysine Deroxycholate (XLD), Xylose
Lysine Tetrathionate 4 (XLT
4
), Modified Semisolid Rappaport Vassiliadis
(MSRV), Rambach, Kligler.
Trên môi trường BSA: sau 48 giờ nuôi cấy ở 37
o
C, vi khuẩn
Salmonella mọc lên những khuẩn lạc đặc trưng, xung quanh khuẩn lạc màu
nâu thẫm, càng vào giữa khuẩn lạc càng đậm chuyển dần sang màu đen,
khuẩn lạc có màu ánh kim.
Trên môi trường thạch thường, vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc dạng S

tốt hơn XLD.
Trên môi trường Rambach: vi khuẩn hình thành những khuẩn lạc trung
bình, màu đỏ tím, bóng.
Trên môi trường Kligler: mặt nghiêng môi trường không đổi màu do vi
khuẩn không lên men đường lactose, phần thạch đứng môi trường đổi từ màu
đỏ tím sang màu vàng chanh, xen kẽ trong thạch có các bọt khí do vi khuẩn
lên men đường glucose làm thay đổi pH của môi trường và sinh hơi. Trong
thực tế do vi khuẩn sinh H
2
S, nên phần thạch đứng có màu đen, nên màu vàng
thường bị lấn át, khó quan sát được bằng mắt thường.
Nhiệt độ nuôi cấy, pH môi trường và nồng độ muối, liên quan chặt chẽ
đến sự phát triển của vi khuẩn Salmonella. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự
phát triển của vi khuẩn là 37
o
C. Tuy nhiên Salmonella cũng mọc tốt ở nhiệt
độ 42
o
C. Đặc tính này ứng dụng trong phân lập Salmonella nhằm ức chế vi
khuẩn khác trong bệnh phẩm bị ô nhiễm. Môi trường có pH 6,5-7,5 là thích
hợp nhất cho sự phát triển của vi khuẩn (Nguyễn Như Thanh, 1990) [38]. Tuy
vậy Salmonella có thể phát triển được ở pH từ 4,5-9,0. Nồng độ muối NaCl 3-
4% trong môi trường có thể ức chế sự phát triển của Salmonella.

Trích đoạn Vai trò gây bệnh đường tiêu hoá của Salmonella Nội dung nghiên cứu Xác định typ của chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên bản động vật của vi khuẩn Kết quả về tình trạng kháng thuốc của hai chủng S.typhimurium
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status