Nghiên cứu sự lưu hành của virus lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh quảng ninh và hiệu lực của vaccine aftopor trong công tác phòng chống - Pdf 51

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LẠI VĂN LÝ

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS LỞ
MỒM LONG MÓNG Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH
QUẢNG NINH VÀ HIỆU LỰC CỦA VACCINE
AFTOPOR TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2015


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LẠI VĂN LÝ

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS LỞ
MỒM LONG MÓNG Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH
QUẢNG NINH VÀ HIỆU LỰC CỦA VACCINE
AFTOPOR TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm - Đại
học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Trân trọng cảm ơn Chi cục Thú y và Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh đã cung
cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn này. Xin trân trong cảm ơn các hộ gia đình
nuôi trâu, bò tại Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều
tra và thu thập mẫu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ
của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này.
Quảng Ninh, ngày 8 tháng năm 2015
TÁC GIẢ

Lại Văn Lý


3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ADN

: Acid Deoxyribonucleic

APC

: Antigen presenting cell (tế bào trình diện kháng nguyên)

ARN

: Acid Ribonucleic


Polymerase Chain Reaction PBS

:
:

Phosfate Bufer Saline
RT - PCR

: Reverse Trancrption Polymerase Chain Reaction

TCI50

: 50% Tissue Culture Infectious Dose

T.W

: Trung ương TLBH

: Tỷ lệ bảo hộ UBND

: Ủy

ban nhân dân (+)

:

Dương tính
(-)

: Âm tính

47

Bảng 3.3. Tỷ lệ trâu, bò mắc LMLM và chết tại Quảng Ninh qua các năm

49

Bảng 3.4. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa vụ

51

Bảng 3.5. Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa vụ

54

Bảng 3.6. Tỷ lệ mắc bệnh LMLM ở trâu, bò theo loài

56

Bảng 3.7. Tỷ lệ chết do bệnh LMLM ở trâu, bò theo loài

58

Bảng 3.8. Tỷ lệ mang virus LMLM ở trâu, bò tại một số địa phương thuộc
tỉnh Quảng Ninh năm 2014
Bảng 3.9. Tỷ lệ mang virus LMLM ở trâu, bò tại một số địa phương thuộc
tỉnh Quảng Ninh năm 2015
Bảng 3.10. Kết quả định type virrus LMLM của đàn trâu bò tại tỉnh Quảng
Ninh bằng huyết thanh
Bảng 3.11. Tỷ lệ tiêm phòng vaccine LMLM cho gia súc tại tỉnh Quảng
Ninh giai đoạn 2011 - 2015

Trang
46
50
52
53
55
55

Hình 3.5. Biểu đồ về tỷ lệ mắc bệnh LMLM ở trâu, bò theo loài

57

Hình 3.6. Biểu đồ về tỷ lệ chết ở trâu, bò do bệnh LMLM theo loài

58

Hình 3.7. Biểu đồ về tỷ lệ mang virus LMLM ở trâu, bò tại một số địa
phương thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 2014
Hình 3.8. Biểu đồ về tỷ lệ mang virus LMLM ở trâu, bò tại một số địa
phương thuộc tỉnh Quảng Ninh năm 2015
Hình 3.9. Biều đồ về tỷ lệ mẫu dương tính và đạt bảo hộ ở đàn trâu, bò
sau tiêm phòng vaccine LMLM Aftopor tại các thời điểm.
Hình 3.10. Biểu đồ về hiệu giá kháng thể trung bình của trâu, bò tại các
thời điểm sau khi tiêm vaccine LMLM
Hình 3.11. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của
trâu, bò tại thời điểm sau tiêm vaccine 30 ngày
Hình 3.12. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của
trâu, bò tại thời điểm sau tiêm vaccine 60 ngày

60

1.1. MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ VIRUS GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG ......4
1.1.1. Hình thái và cấu trúc ........................................................................................4
1.1.2. Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên ...............................................4
1.1.3. Đặc tính kháng nguyên .....................................................................................6
1.1.4. Các điểm quyết định kháng nguyên .................................................................7
1.1.5. Tiến hóa của virus LMLM ...............................................................................7
1.1.6. Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm ....................................................8
1.1.7. Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào ......................................................................9
1.2. BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG (LMLM) .......................................................9
1.2.1. Tên gọi và đặc điểm của bệnh ..........................................................................9
1.2.2. Lịch sử phát hiện bệnh ...................................................................................10
1.2.3. Một số đặc điểm dịch tễ học của virus LMLM ..............................................12
1.2.4. Động vật cảm thụ và lứa tuổi mắc bệnh .........................................................13
1.2.5. Đường xâm nhập và cơ chế sinh bệnh ...........................................................13
1.2.6. Chất chứa virus và phương thức lây truyền ...................................................15
1.2.7. Miễn dịch trong bệnh LMLM ........................................................................17
1.2.8. Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò ...............................................................19
1.2.9. Chẩn đoán .......................................................................................................21
1.2.10. Phòng bệnh LMLM ......................................................................................25
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ............................28
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về bệnh LMLM ở Việt Nam .......................................28
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh LMLM trên thế giới ......................................29


8

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ........................................................................................................34
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ....................................................34
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................34

3.3.2. Tỷ lệ mang virus LMLM ở trâu, bò tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng
Ninh năm 2015 .........................................................................................................61
3.3.3. Định type virrus LMLM trâu bò trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ....................63
3.4. ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA VACCINE AFTOPOR PHÒNG BỆNH LMLM CHO
TRÂU, BÒ TẠI QUẢNG NINH .......................................................65
3.4.1. Kết quả tiêm phòng vaccine LMLM cho đàn gia súc của tỉnh Quảng Ninh
năm 2014
..................................................................................................................65
3.4.2. Đáp ứng miễn dịch và độ dài miễn dịch của trâu, bò được tiêm vaccine ......66
3.4.3. Diễn biến kháng thể của trâu bò tại các thời điểm lấy mẫu sau khi tiêm
vaccine LMLM .........................................................................................................70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ....................................................................................75
1. KẾT LUẬN ..........................................................................................................75
2. ĐỀ NGHỊ .............................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................77


1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy
hiểm, do một loài virus (picornavirus) gây ra ở động vật móng guốc chẵn như: trâu,
bò, lợn, dê, cừu... Virus gây bệnh gồm có 7 serotype (hoặc type): A, O, C, SAT-1,
SAT-2, SAT-3 và Asial-1. Trong mỗi serotyp còn có nhiều phân typ (subtyp). Các typ
và subtyp của virus LMLM có kháng nguyên bề mặt (trung hòa) khác nhau và giữa
chúng không có miễm dịch chéo. Hơn nữa do bản chất virus là ARN, với áp lực
của hệ thống miễn dịch, virus có thể biến đổi về vật chất di truyền cũng như kháng
nguyên bề mặt dẫn đến sự xuất hiện chủng mới. Hiện tượng đa nhiễm (nhiều
type/subtype) trong cùng một ổ dịch làm cho việc khống chế bệnh càng trở lên

Trước những diễn biến nguy hiểm của dịch LMLM không những thiệt hại về
người, kinh tế mà còn ảnh hưởng rất lớn về ngành du lịch, một trong những ngành
kinh tế trọng điểm của tỉnh. Do vậy, thực hiện sự chỉ đạo của Uỷ ban phòng chống
dịch quốc gia. Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, các sở, ban ngành và các cơ quan
chuyên môn từ tỉnh tới cơ sở đã vào cuộc một cách quyết liệt, tiến hành đồng bộ
các giải pháp như khoanh vùng có dịch, tiêu huỷ gia súc chết, phun khử trùng tiêu
độc, thực hiện tốt công tác kiểm soát vận chuyển gia súc, gia cầm và sản
phẩm của chúng. Đặc biệt, một trong các công cụ hỗ trợ đắc lực nhất để ngăn
chặn, khống chế và tiến tới thanh toán bệnh LMLM trên địa bàn của tỉnh, sử dụng
nó như một biện pháp chiến lược toàn diện trong công tác phòng chống dịch
LMLM đó là tiêm phòng vaccine cho đàn gia súc trong tỉnh.
Xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu sự lưu hành của virus lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh
Quảng Ninh và hiệu lực của vaccine Aftopor trong công tác phòng chống”
Từ kết quả của những nghiên cứu này, hy vọng sẽ khuyến cáo người dân
trong
tỉnh có thể chủ động xây dựng lịch dùng vaccine phòng bệnh LMLM hợp lý và khoa
học cho đàn trâu, bò của mình, đồng thời cũng giúp cho công tác phòng và chống
bệnh LMLM ở nước ta ngày một tốt hơn.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tình hình diễn biến của dịch LMLM ở trâu, bò của tỉnh


3

Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015 và một số đặc điểm dịch tễ của
bệnh.


4

được bao bọc bởi một capsid là protein, gồm 60 capsome, không vỏ bọc. Hạt virus
là phân tử ARN là đơn vị gây nhiễm, đóng vai trò như một ARN thông tin. Dưới
ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, hạt virus có thể phân ly
thành những phần tử nhỏ ARN và những tiểu phần protein của capsome (thường
gọi là tiểu phần 12S) dài 7 - 8 nm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970 [22], Grubman M. J.
và Baxt B., 2004) [40].
Sức đề kháng của virus đối với ngoại cảnh tương đối mạnh, tùy thuộc vào
chất chứa của nó, đặc biệt khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein
(Trịnh Văn Thịnh và Phan Đình Đỗ, 1958) [28].
1.1.2. Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên
Hệ gen của virus LMLM bao gồm phần không mã hóa cho protein đầu 5’
(5’UTR) và đầu 3’ (3’UTR), phần mã hóa cho protein cấu trúc (1 ABCD) và phần mã
hóa protein không cấu trúc (2 ABCD và 3 ABCD). Chỉ thị phân tử sử dụng nhiều
nhất trong định type và nghiên cứu phả hệ virus LMLM là 5’ UTR và VP1. Hệ gen
của virus LMLM với chiều dài 8.000 - 8.500 base (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970) [22].
Do đặc điểm của các virus ARN sợi đơn dương nên có tính biến dị rất mạnh.
Bộ gen chứa một khung đọc mở duy nhất ORF, với 2 vị trí khởi đầu giải mã
cho một protein chung (polyprotein). Polyprotein được chia thành hơn 12
polypeptide chức năng và trung gian của các phần sẽ bị cắt (Nguyễn Văn Hưng,
2011 [18], Reid


6

S. M. và cs., 2003) [57]. Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng
thành được xúc tác bởi 3 proteinase của virus là Lpro, 2 A và 3 Cpro. Hai đầu của bộ
gen có thể được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’
bởi chuỗi Adenyl. Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của virus.
Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh
kháng thể gồm 4 loại: VP1 , VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein). VP1 ở ngoài cùng

Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông
qua sự đa dạng của phân tử VP1. Những khác biệt này dẫn đến tính kháng
nguyên và hệ quả là đặc tính huyết thanh học khác nhau giữa các serotype, các
phân type và các biến chủng.
1.1.3. Đặc tính kháng nguyên
Trên thế giới, người ta xác định được 7 type virus LMLM là: A, O, SAT 1, SAT
2, SAT 3 và Asia 1 (Nguyễn Vĩnh Phước, 1970 [22], Grubman M. J. và Baxt B., 2004
[40]).
Về mặt kháng nguyên, virus LMLM không đồng nhất, điều này xảy ra trong
các serotype, mà mỗi serotype đó có thể có dưới type và các biến chủng hoặc các
biến chủng này lại khác nhau về mặt huyết thanh học. Sự sai khác về bộ gen là
nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử
VP1.
Cấu trúc VP1 cũng là điểm xuất phát của những công nghệ di truyền và công
nghệ hóa hiện nay (Donalsson A. I., 2000) [13]. Mặc dù những protein khác như L,
2AC và 3AD không phải là phần cấu trúc capsid, nhưng chúng cũng tạo ra những
đáp ứng kháng thể ở động vật nhiễm bệnh (Brocchi E. và cs., 1998) [36].
Các phương pháp huyết thanh học dùng để xác định subtype đã mang lại
nhiều kết quả quan trọng trong quá trình nghiên cứu virus LMLM. Tuy nhiên, các
phản ứng huyết thanh học được sử dụng đều phát hiện kháng thể kháng protein
cấu trúc, protein vỏ của virus nhưng không phân biệt được đó là kháng thể của
động vật đã được tiêm vaccine phòng bệnh hay do nhiễm virus (Tô Long Thành và
Tạ Hoàng Long, 2008 [25], Reid S. M. và cs., 2003) [57].
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kỹ thuật chẩn đoán
cũng có nhiều phát triển vượt bậc. Ngày nay, công nghệ phân tích gen đã được áp
dụng nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản xuất vaccine
phòng bệnh. Phương pháp PCR do Millis và cộng sự phát minh năm 1985 được
sử dụng



triệu chứng bệnh tích giống nhau nhưng lại không gây ra miễn dịch chéo (Trịnh Văn
Thịnh và Phan Đình Đỗ, 1958) [28].


9

Virus LMLM gây những triệu chứng lâm sàng giống nhau nhưng được phân
loại dựa vào kiểu gene xác định dựa trên so sánh trình tự VP1. Hiện có 7 type virus
LMLM, trong đó mỗi type này lại phân chia thành nhiều type phụ (subtype) khác
nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…). Hiện
nay, người ta thừa nhận có hơn 70 type phụ virus LMLM. Không có sự đồng nhất
rõ rệt về đặc tính kháng nguyên trong các type, không có sự miễn dịch chéo giữa
các type, chỉ có miễn dịch chéo giữa một số type phụ trong phạm vi một type. Đối
với 3 type O, A, C, trong một ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng
thông thường chỉ một type chiếm ưu thế.
1.1.6. Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm
Ngay sau lần đầu tiên phát hiện virus LMLM, Loeffler và Frosch (1897) đã
nghiên cứu nuôi cấy virus trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu đặc tính của nó và
tạo ra những chủng virus có tính kháng nguyên dùng để chế tạo vacxin.
Kết quả gây bệnh thực nghiệm cho bê trong phòng thí nghiệm phụ thuộc
vào liều tiêm và đường tiêm truyền. Kết quả gây bệnh thực nghiệm bằng phương
pháp tiêm truyền dưới da không ổn định, tùy thuộc vào liều sử dụng và cần ít nhất
1 ml máu độc mới có kết quả. Tiêm virus vào tĩnh mạch bê cũng cho kết quả không
ổn định, bệnh có thể diễn biến trầm trọng nhưng cũng có thể chỉ ở thể nhẹ, thoáng
qua. Tiêm bắp virus cho bê có thể gây bệnh trầm trọng (Trịnh Văn Thịnh và Phan
Đình Đỗ, 1958) [28].
Động vật thí nghiệm: trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách
tiêm phúc mạc cho chuột lang, chuột đồng, chuột trắng, chuột nhắt xám, chuột
nhắt trắng sơ sinh (12 - 14 giờ), chuột đất, chuột còn bú hoặc thỏ nhà, thỏ rừng, gà,
trong đó chuột lang là động vật cảm thụ nhất.

cấy truyền hai lần liên tiếp cách nhau 48 giờ với huyễn dịch virus - tế bào đông tan.
1.2. BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
1.2.1. Tên gọi và đặc điểm của bệnh
Bệnh LMLM được gọi bằng những tên: Foot and mouth disease (FMD,
Anh), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche
(MKS, Đức), Fiebre aphtosa, glosso peda (Tây Ban Nha), Khẩu đề dịch (Trung Quốc),
Lở mồm long móng (Việt Nam).
Nguyễn Tiến Dũng (2000) [14] cho biết: Bệnh Lở mồm long móng (LMLM)
do virus thuộc họ Piconarviridae gây nên là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm.


11

Bệnh có đặc điểm sốt, nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, da, gờ móng, kẽ móng và
trên đầu vú, bầu vú của con cái của tất cả các loài thú guốc chẵn (cả gia súc và động
vật hoang dã).
Bệnh có tính chất dịch lớn, lây lan rất nhanh và rất mạnh, có thể xẩy ra trên
diện rộng ở nhiều vùng trong một nước hay nhiều nước. Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất
cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành thấp.
Bệnh LMLM được Tổ chức Thú y thế giới (OIE) xếp vào danh mục bệnh của nhiều
loài, nằm trong danh mục những bệnh phải công bố dịch đối với tất cả các quốc gia.
1.2.2. Lịch sử phát hiện bệnh
Mô tả đầu tiên về bệnh LMLM và tài liệu còn lưu lại đến nay là công trình
của tác giả người Ý tên là Francastorius vào năm 1514. Bệnh đã gây ra những tổn
thất lớn về kinh tế trên thế giới, nhưng đến giữa thế kỷ 19 người ta mới xác định
được tính chất truyền nhiễm của bệnh.
Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan
tâm đến mô tả triệu chứng (Merial, 2003) [21]. Những nghiên cứu về virus học và
dịch tễ học khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển trong giai đoạn
tiếp theo. Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được virus gây bệnh (Nguyễn

cấy trên tế bào thượng bì của lưỡi bò, gọi là vaccine Frenkel. Loại vaccine này
nhanh chóng được sử dụng tại Hà Lan, Pháp và Đức. Sau đó nhiều phương pháp
nghiên cứu nuôi cấy virus đã được tìm ra giúp cho việc cải tiến kỹ thuật chế
vaccine (Đào Trọng Đạt,
2000) [15].
Các viện nghiên cứu lần lượt ra đời trên khắp các lục địa như Alfort (Pháp,
1901), Ile de Riems (Đức, 1909), Pirbright (Anh, 1924), Viện nghiên cứu về bệnh
LMLM ở Lyon (Pháp, 1947), Laboratoire de Plum (Hoa Kỳ), Sao Paolo (Brazin), Nong
Sarai (Thái Lan). Vào năm 1958, Pirbright trở thành phòng thí nghiệm tham chiếu
thế giới về bệnh LMLM (WRL: World Reference Laboratory).
Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho
việc xác định bệnh được nhanh chóng. Vaccine được sản xuất với chất lượng
cao và cùng với chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế
hoặc thanh toán bệnh thành công. Hiện có 59 nước trên thế giới được Tổ chức Thú
y thế giới (OIE: Office International Epizooties) công nhận là nước an toàn dịch
bệnh LMLM (OIE, 2000 [55]).


13

1.2.3. Một số đặc điểm dịch tễ học của virus LMLM
1.2.3.1. Nguồn dịch
- Nguồn dịch thiên nhiên
Trong tự nhiên, nhiều loài động vật hoang dã cảm thụ bệnh và có thể
trở thành nguồn bệnh cho vật nuôi. Các loài nhai lại hoang dã như bò rừng (Bison
bonasus), trâu rừng (yak), lạc đà, nhiều loài sơn dương, hoẵng, hươu Dama,
hươu đỏ, nai đều nhiễm virus LMLM. Hoẵng nhiễm virus LMLM có biểu hiện
triệu chứng điển hình, hươu Sira biểu hiện ít trầm trọng hơn, hươu hoang
dã (Fallowdeer) và hươu ved chỉ biểu hiện dưới dạng ẩn tính. Các loài nhai lại cảm
thụ này đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh (Nguyễn Lương, 1997)

Trâu và bò là những loài dễ mắc bệnh nhất (Nguyễn Lương, 1997) [20],
trong đó bò có tỷ lệ nhiễm và mức độ bệnh trầm trọng hơn trâu, sau đó đến
lợn, cừu, dê.
Theo Lê Minh Chí (1996) [2], trong số các giống bò, bò lai được nuôi dưỡng
tốt, khoẻ mạnh thường dễ nhiễm bệnh hơn. Bệnh thường xảy ra ở trâu bò rồi
lây sang lợn (trừ chủng virus chỉ nhiễm cho lợn), virus LMLM chủng Cathay chỉ gây
bệnh cho lợn.
Động vật nhỏ (tiểu gia súc) như cừu có tỷ lệ cảm nhiễm thấp và giữ vai trò
quan trọng trong việc mang trùng. Cừu có thể mang trùng tới năm tháng và duy
trì sự nhân lên với mức độ thấp của virus. Virus thường cư trú ở vùng hầu của gia
súc.
1.2.4.2. Lứa tuổi mắc bệnh
Động vật ở các lứa tuổi đều có thể bị bệnh, súc vật non bị mắc bệnh nặng
hơn súc vật trưởng thành.
1.2.5. Đường xâm nhập và cơ chế sinh bệnh
1.2.5.1. Đường xâm nhập
Đường hô hấp: đường xâm nhập chính của virus là đường hô hấp, virus vào
vùng hầu ở trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận,
các hệ thống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể.
Đường tiêu hóa: khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào
cơ thể qua đường tiêu hóa, chúng nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa
làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ
thể.
Da: da nguyên lành không để virus đi qua, khi có vết xây xát gia súc có thể
nhiễm virus. Tại những xây xát hoặc vết thương ở da, nhất là vùng vú thường xuất
hiện mụn nước sơ phát; vùng da tổn thương cũng là nơi virus xâm nhập vào cơ thể.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status