ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM ANH HÙNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ
XÁC ĐỊNH TYPE VI RÖT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
Ở TRÂU, BÕ TẠI TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 62 62 50 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, năm 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
nghiên cứu hoàn thành tốt đề tài.
Một lần nữa, tôi xin ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả những giúp
đỡ quý báu và nhiệt tình của các thày cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.
Lai Châu, ngày 20 tháng 9 năm 2012
Tác giả Phạm Anh Hùng
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Lịch sử phát hiện bệnh 4
1.1.1. Tên gọi 4
1.1.2. Khái niệm 4
1.1.3. Lịch sử phát hiện bệnh 4
1.1.4. Bệnh LMLM trên thế giới 6
1.1.5. Bệnh LMLM ở Việt Nam 11
1.2. Vi rút LMLM 16
1.2.1. Hình thái và cấu trúc 17
1.2.2. Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên 17
1.2.3. Đặc tính kháng nguyên 20
1.2.4. Các điểm quyết định kháng nguyên 21
1.2.5. Tiến hóa của vi rút LMLM 21
1.2.6. Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm 22
chủ yếu (O, A, Asia1), đánh giá tỷ lệ mang trùng ở trâu, bò. 44
2.2.3. Định type vi rút gây bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu. 44
2.2.4. Xác định loại vắc xin LMLM phù hợp tiêm cho đàn trâu, bò tại tỉnh
Lai Châu. 44
2.3. Vật liệu nghiên cứu 44
2.3.1. Mẫu bệnh phẩm 44
2.3.2. Tài liệu, số liệu 45
2.3.3. Sinh phẩm và Kit xét nghiệm 45
2.3.4. Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 45
2.4. Phương pháp nghiên cứu 46
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu máu 46
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu biểu mô 46
2.4.3. Phương pháp 3ABC - ELISA phát hiện kháng thể nhiễm tự nhiên 46
2.4.4. Thiết kế thí nghiệm xác định tình hình nhiễm vi rút tự nhiên 47
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49
3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM tỉnh Lai Châu giai
đoạn 2006 - 2011 49
v
3.1.1. Tình hình dịch LMLM tỉnh Lai Châu từ 2006 đến 2011 49
3.1.2. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM ở tỉnh Lai Châu từ năm 2006 -
2011 51
3.1.3. Thời gian lưu hành bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu: 53
3.1.4. Lứa tuổi mắc bệnh 56
3.1.5. Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM trong các ổ dịch 59
3.2. Xác định tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với kháng nguyên phi
cấu trúc 3ABC, đánh giá tỷ lệ mang trùng do nhiễm vi rút tự nhiên ở trâu,
bò 62
3.2.1. Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC tỉnh Lai Châu từ năm 2006 - 2012
62
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tổng hợp số ổ dịch LMLM ở các huyện của tỉnh Lai Châu (2006- 2011) 49
Bảng 3.2a: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm (tách riêng trâu và bò) 51
Bảng 3.2b: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm (tính chung trâu, bò) 52
Bảng 3.3a. Số ca bệnh LMLM ở trâu qua các năm theo mùa (2006 - 2011). 53
Bảng 3.3b. Số ca bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2006-2011). 54
Bảng 3.3c. Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò theo mùa (tính chung trâu, bò) 54
Bảng 3.3d. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa (2006 - 2011) 54
Bảng 3.4a: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 56
Bảng 3.4b: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 57
Bảng 3.4c: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (tính chung trâu, bò) 57
Bảng 3.5: Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo tuổi (2006 - 2011) 59
Bảng 3.6: Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa (2006 - 2011) 60
Bảng 3.7: Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm 61
Bảng 3.8: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò tỉnh Lai Châu
(2006 - 2012) 62
Bảng 3.9. Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò năm 2012 63
Bảng 3.10. Tỷ lệ dương tính ABC - ELISA ở trâu bò tại một huyện (Tam Đường) 64
Bảng 3.12. Tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò (2006 - 2011) 66
1. Đặt vấn đề
Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính,
lây lan rất nhanh, rất mạnh gây thiệt hại nặng nề đối với động vật dễ nhiễm
thuộc loài móng guốc chẵn như: Trâu, bò, dê, lợn Bệnh đã được tổ chức
Dịch tễ thế giới (OIE) xếp đầu bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm nguy
hiểm của động vật) và bắt buộc các nước thành viên phải khai báo.
Bệnh do vi rút LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây
ra, có 2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và tính
dễ biến đổi kháng nguyên. Các type vi rút tuy gây ra các triệu chứng giống
nhau, nhưng lại không gây miễn dịch chéo với nhau. Bệnh LMLM là một
bệnh của xã hội, bởi vì nó ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng nhiều
hơn là riêng lẻ từng hộ chăn nuôi. Bệnh có thể lây lan trong phạm vi một
nước hoặc nhiều nước và trở thành đại dịch.
Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế thị trường đã thúc đẩy
quá trình giao lưu, buôn bán động vật và sản phẩm động vật giữa các tỉnh
trong nước và với nước ngoài như Trung Quốc, Lào, Cam Pu Chia Từ đó
bệnh LMLM ở trâu, bò càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến kinh
tế - xã hội ở nước ta.
Trên thực tế, việc khống chế và thanh toán bệnh LMLM đã gặp không ít khó
khăn, từ việc kiểm dịch vận chuyển cho đến chăn nuôi thiếu qui hoạch, trâu bò thả
rông Tiêm phòng vắc xin được xác định là giải pháp quan trọng, tuy nhiên việc
chọn vắc xin phù hợp cho từng vùng, từng tỉnh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ
type vi rút gây bệnh trên thực địa để tránh trường hợp tiêm phòng loại vắc xin
không phù hợp, gây lãng phí và thiệt hại cho người chăn nuôi.
Tỉnh Lai Châu có diện tích tương đối rộng, với 273 km đường biên giới
Việt - Trung, địa hình chia cắt phức tạp, thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp.
Hàng năm dịch LMLM gia súc vẫn tái phát trên địa bàn tỉnh làm hàng ngàn
2
gia súc mắc bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi
con trâu, bò và 118 con lợn của 30 bản ở 11 xã thuộc huyện Mường Tè mắc
bệnh [2].
- Đầu tháng 11 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 dịch LMLM tái phát
đồng loạt ở 78 xã của 7/7 huyện, thị xã của tỉnh Lai Châu, làm 6.951 con trâu,
bò và 389 con lợn bị mắc bệnh [2].
Như vậy, kể từ năm 2006 đến nay, có 5 đợt tái phát các ổ dịch LMLM
trên địa bàn tỉnh Lai Châu, thì cả 7/7 huyện, thị xã của tỉnh đều có dịch. Các
đợt dịch này đã làm 12.833 con trâu, 475 con bò, 628 con lợn và 20 con dê bị
mắc bệnh LMLM. Số chết và phải tiêu hủy là 35 trâu, 15 bò và 18 lợn.
Diễn biến phức tạp của dịch LMLM ở tỉnh Lai Châu đòi hỏi phải có
những nghiên cứu về sự phân bố và lưu hành vi rút LMLM, từ đó có cơ sở
khoa học để lựa chọn vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng
chống bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh. Để giải quyết vấn đó, chúng tôi triển
khai đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây
bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lai Châu".
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định sự phân bố của các type vi rút LMLM tại tỉnh Lai Châu, làm cơ
sở lựa chọn loại vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống
bệnh LMLM cho gia súc.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và xác
định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lai Châu.
- Các kết quả điều tra, nghiên cứu tại tỉnh Lai Châu sẽ cung cấp, bổ sung
và hoàn thiện thêm các thông tin về dịch tễ học bệnh LMLM tại việt Nam.
- Các kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học, xác định sự
phân bố của các type vi rút LMLM gây bệnh trên trâu, bò tại tỉnh Lai Châu là
cơ sở khoa học, giúp các cơ quan chức năng lựa chọn loại vắc xin LMLM phù
hợp. Từ đó có biện pháp quản lý, chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh
hiệu quả.
tễ học khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển trong giai đoạn tiếp
5
theo. Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh [22].
Waldmann và Pape (1920) đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang
đối với vi rút. Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết
thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A). Năm 1926, Waldmann và
Trauwein tìm ra vi rút type C. Sau đó, Lawrence khám phá ra các type SAT1,
SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và
type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến
Điện [20].
Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Châu
Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929,
1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như
Argentina năm 1953. Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia
năm 1950 - 1951 rồi lan sang Ecuador năm 1956. Ở Châu Phi, bệnh thường
xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi [22]. Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây
Đức lan sang Hà Lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy
Điển, Na Uy và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954
[22]. Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) ở Châu Á, bệnh phát ra ở Ấn Độ năm
1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm
1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952). Bệnh LMLM ở Châu Á không dữ
dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung
Đông, Nam Á và Viễn Đông [22], [25].
Từ năm 1926 đến 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và
chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành. Trong 3 năm
(1937-1939) người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục
và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế
tạo vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi Al
2
tại 12 quốc gia do vi rút thuộc các type O, A, và C gây ra. Năm 1985, dịch
LMLM do vi rút thuộc type Asia 1 xảy ra ở Hy Lạp [36]. Cùng thời gian này,
ở Châu Á, dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do vi rút
type Asia 1. Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là
Kenia và Ethiopia (1984-1985). Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ
dịch ở 2 nước này. Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều
do vi rút thuộc 3 type SAT gây ra [6].
7
Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã xảy ra ở 53 nước ở
khắp các châu lục: Á, Âu, Phi, và Nam Mỹ. Cho đến nay, một số quốc gia đã
đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh, như các nước
thuộc khối công đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Indonesia và gần đây là
cộng hòa Séc. Tuy nhiên, dịch LMLM vẫn là nguy cơ của nhiều quốc gia, uy
hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế [6].
Những năm 1990, ở châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari,
Nga và Hy Lạp. Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, những ổ dịch đơn lẻ
xảy ra ở Bulgari, Nga. Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo
Lesbos và Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1996, có 2 ổ dịch ở
Thổ Nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp. Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có
bệnh. Trong năm 1998 (theo báo cáo của WRL [7]), một chủng type A mới
được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch
kéo dài đến cuối năm 1998.
Ở châu Phi, vào thập kỷ 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở
Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia. Năm 1999,
ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển
bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia. Vi rút LMLM
type SAT 2 lưu hành ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở
Kenia [40].
Ở châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan
Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Iran, Butan, Nepal, Malaysia,
Philippin, Thái Lan và Đài Loan). Tính đến cuối tháng 4/2001, Chính phủ
Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, tổng thiệt hại do
dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ. Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các
nước châu Âu, châu Mỹ, Phi và châu Á. Tính đến tháng 7/2001, có trên 20
nước xảy ra dịch LMLM [15].
Năm 2004, không có ổ dịch LMLM nào được báo cáo chính thức trong
các nước được OIE công nhận là không có bệnh (không tiêm phòng). Tuy
nhiên, dịch lẻ tẻ tại vùng giám sát [quanh vùng an toàn dịch (Nam Phi) và
9
những vùng gần đây không xảy ra bệnh (Nga, Mông Cổ, Peru, Brazil và
Colombia). Dịch bệnh cũng xảy ra tại các nước Trung Đông, châu Á, châu
Phi và Nam Mỹ, nơi bệnh LMLM đã từng xảy ra. Có 48 nước báo cáo dịch
LMLM trong năm 2004 với các type vi rút gây bệnh khác nhau theo vùng
địa lý.
Từ năm 2000 - 2004 có 23 nước ở châu Á và châu Phi gửi mẫu đến
WRL. Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2
có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây
cùng serotype.
Tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, dịch bệnh do vi rút type O được
ghi nhận ở Hồng Kông và tất cả các quốc gia thành viên SEAFMD, ngoại trừ
Indonesia là nước không có bệnh LMLM. Type A được tìm thấy ở Malaysia,
Thái Lan, Lào và Việt Nam (2004). Các chủng vi rút type O phân lập được
đều thuộc topotype ME-SA và Cathay. Các vi rút phân lập từ Hồng Kông và
Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác. Vi rút
nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME-SA (chủng Pan -
Asia). Vi rút type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với
các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 [42].
Trong năm 2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (serotype O),
- Nam Mỹ: phổ biến là type O, A và C. Những ổ dịch do vi rút type O gây
ra ở Bolivia, Brazil, Colombia và Ecuador, type A xảy ra ở Venezuela,
Colombia và Peru.
- Trung Đông: type O phổ biến nhất, tiếp theo là type A, Asia 1 và thỉnh
thoảng có type C.
- Châu Á: các nước có dịch do type O gây ra là Bahrain, Bangladesh,
Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Malaysia, Nepal,
Philippines, Qatar, Syria, Saudi Arabia, Đài Loan, Arab, các tiểu vương quốc
Ả rập, Lào, Việt Nam và Yemen. Type A ở Bangladesh và Iran, type Asia 1 ở
Iran và Malaysia, type C giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ và Philippines.
Theo kết quả phân tích gen vi rút gây bệnh ở phòng thí nghiệm giám
định vi rút LMLM (IAH, Pirbright, UK), type O gây bệnh năm 2000 có cấu
trúc gen khác với type O gây bệnh ở Đài Loan năm 1997 và khác với một số ổ
dịch xảy ra gần đây trên thế giới, được đặt tên là South Asia topotype, chúng
gây bệnh cho trâu, bò và lợn, phân bố rất rộng từ Đài Loan ở phía Đông tới
Hy Lạp ở phía Tây. Năm 1999, có 14 tỉnh ở Trung Quốc bị dịch nặng đã ảnh
hưởng lớn đến các nước láng giềng [38].
1.1.5. Bệnh LMLM ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1898 tại Nha Trang
và sau đó dịch đã xảy ra ở các tỉnh Trung và Nam Bộ (trong thời gian này
bệnh cung được phát hiện ở cả Lào, Campuchia và Thái Lan) [9], [25].
Trong 2 năm 1921 - 1922, ở các tỉnh phía bắc có 690 ổ dịch xảy ra làm
13.018 con trâu, bò và lợn bị bệnh, trong đó 446 con chết. ở Miền Đông Nam
Bộ, thể bệnh rất nhẹ và bệnh tích chủ yếu ở miệng [25].
Ở Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, dịch đã gây nhiều thiệt hại. Năm 1921 -
1922, có 213 ổ dịch LMLM, làm chết 52 con [25].
Vào những năm 1937, 1940 và 1948 dịch lại nổ ra liên tiếp ở Trung Bộ
và Nam Bộ, một ổ dịch lớn lan tràn khắp tỉnh Quảng Ngãi và ở Miền Bắc
bệnh có rải rác ở Sơn Tây, Thanh Hóa [25].
13
Long Thành và Mộc Xuyên bị dịch kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 10 làm
3.514 trâu, bò bị bệnh [9].
Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải làm hơn
7.500 trâu, bò bị bệnh. Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh tỉnh Sông Bé làm
100 trâu, bò bị ốm, không cày kéo được [9].
Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm
sau đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền của đất nước [9].
Năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn 122 xã của 18 huyện thuộc 8
tỉnh bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu, với tổng số 32.260
trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh [9].
Năm 1995 là năm dịch phát ra ở nhiều tỉnh trong cả nước (107 huyện của
26 tỉnh thành, với tổng số 236.000 trâu, bò và 11.021 lợn bị bệnh [9], tác động
đến hầu hết các tỉnh Nam Bộ đặc biệt là Đồng bằng Sông Cửu Long. Dịch
phát ra đầu tiên tại thị xã Sa Đéc của tỉnh Đồng Tháp (20/4/1995), chỉ trong
một thời gian rất ngắn, bệnh dịch đã lan rộng ra 10 huyện trong tổng số 11
huyện của tỉnh, làm cho 5.135 trâu, bò và lợn bị bệnh. Theo đường buôn bán,
vận chuyển lợn bệnh của các tư thương, dịch đã lan sang các huyện, thị trong
tỉnh và sau đó lan sang các tỉnh lân cận như Vĩnh Long (24/4/1995), An
Giang (28/4/1995), Cần Thơ (20/11/1995) rồi lan ra khắp các tỉnh Đồng bằng
Sông Cửu Long, đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa -
Vũng Tàu [9].
Ngay từ ổ dịch đầu tiên trên lợn tại Đồng Tháp, phòng thí nghiệm của
Trung tâm Thú y vùng Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bệnh do vi
rút type O gây ra. Theo điều tra, nguyên nhân là do mua lợn giống từ Miền
Bắc vào.
Dịch LMLM đã xảy ra trên trâu, bò liên tục suốt thời gian từ 1975 -
2005, trên lợn từ 1992-2005 và gây thiệt hại nặng nề nhất vào các năm
15
xảy ra ở 516 xã của 191 huyện thuộc 54 tỉnh làm 44.450 lợn mắc bệnh. Trong
đó type Asia 1 có ở Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái
Bình (phát hiện bằng kít 3ABC và giám định bằng phương pháp RT-PCR) với
tổng số 9.271 trâu bò và 12.461 lợn bị bệnh. Trong năm 2006 cả nước đã xử
lý tiêu huỷ 4.906 trâu, bò, 31.087 lợn [3].
Năm 2007 có 37 tỉnh có dịch, trong đó 294 xã, 225 huyện thuộc 25 tỉnh
dịch sảy ra trên trâu bò và 172 xã, 71 huyện thuộc 26 tỉnh có dịch LMLM
trên lợn với tổng số 11.355 trâu, bò và 12.386 lợn mắc bệnh. Số phải xử lý
tiêu huỷ và chết là 3.765 trâu, bò và 11.122 lợn. Type virus lưu hành chủ yếu
là type O, type A chỉ có ở Phú Yên và type Asia1 có ở Quảng Trị và Thanh
Hoá [3].
Năm 2008, dịch có giảm so với các năm trước, có 122 xã của 43 huyện
thuộc 14 tỉnh có dịch làm 2.408 trâu, bò và 67 lợn mắc bệnh. Số chết, tiêu hủy
là 218 trâu, bò và 39 lợn. Type O vẫn là type virus xuất hiện nhiều nhất trong
các ổ dịch, Tháng 12/2008 phát hiện type A tại Nghệ An [9].
Năm 2009, dịch đã xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành
phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy. Trên lợn,
dịch sảy ra ở 35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố với tổng số 499 lợn
mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy [9].
Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ, Duyên hải miền
Trung, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Dịch xảy ra trên quy mô
rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong
tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương. Dịch
LMLM týp A xuất hiện tại vùng miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà
Giang), Tây Nguyên (Kon Tum), đồng bằng sông Cửu Long (Long An) - là
những vùng đã lâu không có týp vi rút này [3], [10].
Năm 2010: dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành
phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên