Buôn Ma Thuột, năm 2011
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Tuấn Hùng
TS. Phạm Trọng Hổ
Buôn Ma Thuột, năm 2011
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác./.
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Thành iii
MỤC LỤC
Mở ñầu
1
Chương I. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1. Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo 4
1.1.1. Vi rút gây bệnh 4
1.1.2. Động vật mắc bệnh 8
1.1.3. Mầm bệnh 9
1.1.4. Đặc ñiểm của dịch PRRS 10
1.1.5. Cơ chế sinh bệnh 12
1.1.6. Triệu chứng lâm sàng 13
1.1.7. Bệnh tích 16
1.1.8. Chẩn ñoán 17
1.1.9. Điều trị 17
1.2. Tình nghiên cứu hội chứng PRRS trên thế giới
18
1.3. Tình hình dịch PRRS ở Việt Nam 23
Chương II. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Thời gian, ñịa ñiểm và ñối tượng nghiên cứu 27
2.2. Nội dung nghiên cứu 27
2.3. Phương pháp nghiên cứu 27
2.4. Xử lý số liệu 28
Bảng 3.2. Tình hình dịch tai xanh năm 2006-2009 31
Bảng 3.3. Tình hình mắc dịch tai xanh trên heo theo tháng 32
Bảng 3.4. Tình hình dịch tai xanh trên heo theo mùa 33
Bảng 3.5. Tình hình dịch tai xanh theo giống heo 35
Bảng 3.6. Tỷ lệ dịch tai xanh theo nhóm heo 36
Bảng 3.7. Kết quả xác ñịnh biểu hiện triệu chứng PRRS trên heo 39
Bảng 3.8. Triệu chứng lâm sàng ở heo nái 41
Bảng 3.9. So sánh tỷ lệ triệu chứng lâm sàng ở các nhóm heo 42
Bảng 3.10.
Bệnh tích PRRS trên heo nuôi tại Bình Định
43
Bảng 3.11. Tình hình tiêm phòng từ năm 2006 – 2009 47
Bảng 3.12 số lượng ñiểm giết mổ gia súc từ 2006 – 2009 48
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH Hình 1.1. Hình ảnh vi rút 5
Hình 1.2. Cấu trúc vi rút PRRS 6
Hình 1.3. Sẩy thai ở các giai ñoạn khác nhau 14
Hình 1.4. Phổi chắc, ñặc 16
Bản ñồ 3.1. Bản ñồ dịch tễ học PRRS tại Bình Định từ năm 2006-2009 38
phẩm: trứng, sữa, thịt là những nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu của con người.
Trong những năm gần ñây, ngành chăn nuôi phát triển, ñã góp phần cải thiện ñời
sống và tăng thu nhập cho người dân. Trong ñó, tỷ trọng khối lượng sản phẩm
của ngành chăn nuôi heo chiếm 77% tổng khối lượng của ngành. Không chỉ
cung cấp thực phẩm trong nước, chăn nuôi heo còn hướng mạnh ñến xuất
khẩu ra thị trường thế giới ñể tăng nguồn thu ngoại tệ. Trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của nước ta giai ñoạn 2000 - 2010 và ñến năm 2020,
ngành chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, trong ñó
chăn nuôi heo ñược xác ñịnh là ngành chính.
Bình Định thuộc vùng duyên hải Nam trung bộ, có 10 huyện và 1 thành
phố, nằm trong vùng nhiệt ñới gió mùa; Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9
ñến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 ñến tháng 8. Nhiệt ñộ trung bình năm là
26,7
0
C
, chế ñộ nhiệt và bức xạ dồi dào, ổn ñịnh trong năm, thuận lợi cho sinh
trưởng và phát triển các loại cây trồng nhiệt ñới và sinh trưởng phát triển của
vật nuôi [35].
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Bình Định, tại thời ñiểm ngày
1/4/2010 tổng ñàn gia súc, gia cầm gồm: trâu, bò 303.013 con; heo 713.840
con và gia cầm 5.329.340 con. Trong ñó, sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng
là 41.039 tấn. Trong kế hoạch chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn
Bình Định giai ñoạn 2006 – 2010, tỉnh chủ trương phát triển chăn nuôi heo
hướng nạc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, ñáp ứng cho nhu cầu
tiêu dùng nội tỉnh và hướng tới xuất khẩu; ưu tiên phát triển chăn nuôi trang
trại theo phương thức công nghiệp; phấn ñấu ñàn heo ñến năm 2010 ñạt
800.000 con, tốc ñộ tăng ñàn bình quân ñạt 0,8% năm [8].
2
Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi heo hiện nay của tỉnh ngoài mô hình
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Thông qua những nghiên cứu một số ñặc ñiểm dịch tễ học và nguy cơ
hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo ở Bình Định, ñể làm cơ sở ñề
xuất các biện pháp phòng, chống bệnh hiệu quả.
Bệnh tai xanh là một bệnh mới, vì vậy những kết quả của nghiên cứu sẽ
góp phần cùng với những nghiên cứu khác làm sáng tỏ về bệnh: vi rút gây
bệnh, con ñường xâm nhập, phương thức tác ñộng, thời gian gây bệnh
Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tế trong việc giúp ñịa phương có
những chính sách và kế hoạch hợp lý ñịnh hướng phát triển chăn nuôi heo.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở heo (Porcine Reproductive and
Respiratory Syndrome
-
PRRS) còn gọi là bệnh tai xanh là bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm ở mọi lứa tuổi, lây lan nhanh và làm chết nhiều heo và gây ra
những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi.
Năm 1987, lần ñầu tiên có một loại dịch bệnh sinh sản cấp tính chưa
ñược xác ñịnh, ñặc trưng bởi sự tăng ñột biến hiện tượng sẩy thai ở heo, chết
non và yếu, làm giảm tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ heo cai sữa chết, làm chậm quá
trình sinh sản ñã ñược báo cáo ở Mỹ.
PRRS có nhiều tên gọi: “bệnh bí hiểm ở heo” (Mystery swine disease,
thường ñược dùng ở Mỹ trước khi có tên PRRS), “bệnh tai xanh” (Blue Ear)
Qua nghiên cứu giải mã gen của vi rút tại Mỹ, Trung Quốc cho thấy,
các mẫu vi rút gây bệnh tai xanh tại Việt Nam có mức tương ñồng về amino
acid từ 99 - 99,7% so với chủng vi rút gây bệnh tai xanh thể ñộc lực cao của
Trung Quốc và ñều bị mất 30 acid amin. Điều này cho thấy, chủng vi rút gây
bệnh tai xanh ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có ñộc lực cao giống
Trung Quốc.
Gần ñây, người ta ñã thấy xuất hiện một chủng vi rút bệnh tai xanh mới
trong các ổ dịch của Trung Quốc có ñộc lực cao hơn, gây bệnh cho heo nặng
hơn và heo chết với tỷ lệ cao hơn so với bệnh do 2 chủng Lelystad và chủng
vi rút VR-2332. Nguồn gốc của vi rút ñến nay vẫn chưa ñược xác ñịnh [46].
6
Vi rút PRRS có vỏ bọc hình cầu có kích thước từ 45 – 60 µm và chứa
nhân Nuclecapsid 25- 35 µm, trên bề mặt có gai nhô ra . Sự sinh sôi phát triển
của vi rút bị ngừng lại khi dùng Cloroform hay Ether chứng tỏ có chứa lipid. Hình 1.2. Cấu trúc vi rút PRRS
Vi rút có tỷ trọng 1.19 nổi trên CsCL 1µ là 1,14 trên Sucroza. Đỉnh của
tính di truyền của CsCL phần lớn trong dung dịch ñường Sucroza. Sự nhân
lên của vi rút PRRS không bị ảnh hưởng khi dùng hợp chất ức chế tổng hợp
ADN (5 – Bromua – 2 deoxyridine, 5- Iodo - 2 deoxyridine và mitomycinc)
chứng tỏ axit nucleic là RNA.3 protein ñặc hiệu của vi rút xấp xỉ 15,19 và từ
24 – 26 kd ñược tách ra bằng phương pháp Immunobloting với kháng huyết
vi rút có ñộc lực cao và nhóm vi rút có ñộc lực thấp. Các vi rút bệnh tai xanh
nguồn gốc châu Âu (vi rút Lelystad) không thể kết dính hồng cầu của bất kỳ loài
ñộng vật nào. Ngược lại, các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu thấy vi rút nguồn
gốc châu Mỹ (vi rút VR-2332) có khả năng kết dính hồng cầu heo [43].
8
Nhiệt ñộ có ảnh hưởng ñến sự tồn tại của vi rút bệnh tai xanh: vi rút ổn
ñịnh trong thời gian dài (nhiều tháng ñến nhiều năm) ở nhiệt ñộ từ -20
o
C ñến
-70
o
C. Vi rút mất ñi khả năng gây nhiễm 90% ở nhiệt ñộ 4
o
C trong 1 tuần lễ.
Khả năng lây nhiễm của vi rút tồn tại ở 20 - 21
o
C trong 1 – 6 ngày, ở nhiệt ñộ
37
o
C trong 3 – 24 giờ và ở 56
o
C trong 6 – 20 phút.
Vi rút tồn tại và ổn ñịnh ở môi trường có ñộ pH = 6,5 - 7,5 nhưng khả
năng lây nhiễm sẽ mất ñi nhanh chóng ở pH<6 và pH>7,5. Vi rút bị tiêu diệt
dưới ánh sáng mặt trời và dễ dàng bị diệt trong dung môi hoà tan chất béo như
chloroform và ête Các môi trường này có tác dụng phá vỡ màng của vi rút
và giải phóng nhân không lây truyền và mất khả năng lây truyền.
Các thuốc sát trùng thông thường như iodine 1%, cloramin B,T (Clorin)
2-3%; dung dịch xút (NaOH) 3%; formol 3%; virkon 1%; nước vôi 10%; vôi
amidan, hạch lympho, lách, tuyến ức và ở huyết thanh. Vi rút tồn lưu trong
dịch mũi, nước bọt, phân, nước tiểu… của heo mắc bệnh hoặc mang trùng và
phát tán ra môi trường.
Trên heo mẫn cảm, vi rút tồn tại và sau ñó ñược bài thải ra ngoài môi
trường tương ñối dài: ở heo mang trùng và chưa có triệu chứng lâm sàng, vi rút
có thể ñược phát hiện ở nước tiểu trong 14 ngày, ở phân khoảng 28 – 35 ngày, ở
huyết thanh khoảng 21 – 23 ngày, ở dịch hầu họng khoảng 56 – 157 ngày, ở tinh
dịch sau 92 ngày và ñặc biệt ở huyết thanh của heo con bị nhiễm bệnh từ bào
thai sau 210 ngày vẫn có thể tìm thấy vi rút trong máu (Bệnh heo tai xanh)[4].
Heo mẹ mang vi rút có thể lây nhiễm cho bào thai từ giai ñoạn giữa thai
kì trở ñi và vi rút cũng ñược bài thải qua nước bọt và sữa. Heo trưởng thành
có thể ñào thải vi rút trong vòng 14 ngày, trong khi ñó heo con và heo choai
bài thải vi rút tới 1 – 2 tháng.
10
Vi rút có thể phát tán, lây lan thông qua các hình thức:
- Trực tiếp: tiếp xúc với heo mắc bệnh, heo mang trùng, phân, nước
tiểu, bụi, bọt khí, thụ tinh nhân tạo và có thể do heo rừng và thậm chí là một
số loài chim hoang (vịt trời)…
- Gián tiếp: gián tiếp qua dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển
và dụng cụ bảo hộ lao ñộng mang trùng. Hình thức phát tán qua không khí (từ
phân, chất thải mang vi rút) theo gió (có thể ñi xa 3 km) hoặc có thể do một số
loài chim hoang ñược xem là mối nguy hiểm ở trong các vùng dịch…[3].
1.1.4. Đặc ñiểm của dịch PRRS
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi của heo, nhưng tập trung chủ yếu ở
heo nái mang thai và heo con theo mẹ. Đặc trưng của PRRS là gây hiện tượng
sẩy thai, thai chết lưu ở heo nái chửa giai ñoạn cuối.
Heo ốm có triệu chứng ñiển hình như sốt cao trên 40
o
C- 42
hiện bằng tampon mũi, phân và nước tiểu heo bệnh chỉ ra những con ñường
có khả năng bài thải vi rút ra bên ngoài. Vi rút xâm nhập vào cơ thể khoẻ
mạnh theo những con ñường sau:
- Qua ñường hô hấp: Vi rút ñược bài xuất ra môi trường bên ngoài bay
lơ lửng trong không khí dưới dạng hạt bụi hoặc các giọt nước li ti, nếu con vật
hít phải mầm bệnh thì sẽ nhiễm bệnh. Đây có thể nói là một trong những con
ñường chính làm bệnh lây lan với tốc ñộ cực nhanh. So với bệnh dịch tả heo,
tuy PRRS không gây chết hàng loạt nhưng mức ñộ thiệt hại về năng suất chăn
nuôi vô cùng lớn vì bệnh lan ñi rất nhanh và rộng. Các trại heo bị nhiễm
PRRS sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất sinh sản, thậm chí xoá sổ cả
ñàn nái và ñể trống chuồng trong nhiều năm.
- Qua bào thai: Theo các nghiên cứu thấy rằng mầm bệnh có thể truyền
từ mẹ sang con. ở heo mẹ mang trùng, vi rút có thể lây nhiễm cho bào thai từ
giai ñoạn giữa thai kì trở ñi.
12
- Xâm nhập vào cơ thể theo ñường miệng, nội cơ, nội phúc mạc, âm
ñạo Một số ñường xâm nhập khá quan trọng nữa ñó là qua niêm mạc bị tổn
thương mà chủ yếu là thông qua quá trình thụ tinh nhân tạo, dụng cụ thụ tinh
không ñược ñảm bảo vệ sinh là nguyên nhân chủ yếu dẫn ñến tình trạng bệnh
lây lan nhanh như hiện nay [42].
Đầu năm 2006, Trung Quốc ñã phát hiện nhiều trường hợp heo ốm,
chết, nguyên nhân không ñược xác ñịnh rõ vì trong các ổ dịch thường phát
hiện cả vi rút PRRS cùng các loại tác nhân gây bệnh khác. Gần ñây, qua một
nghiên cứu quy mô lớn tại Trung Quốc người ta ñã xác ñịnh rằng vi rút gây
bệnh PRRS tại Trung Quốc có khả năng là do vi rút PRRS týp II, thể cường
ñộc gây ra [46].
Khác với các thể vi rút khác, vi rút cường ñộc này gây bệnh và làm chết
cả heo trưởng thành và có tỷ lệ chết lên ñến 20%. Gia súc chết thường là do
nhiễm trùng kế phát các tác nhân bệnh khác như dịch tả heo, tụ huyết trùng,
1.1.6. Triệu chứng lâm sàng
Heo ở tất cả lứa tuổi ñều có thể nhiễm vi rút bệnh tai xanh, tuy nhiên
heo con và heo nái mang thai ñược xem là mẫn cảm hơn. Heo rừng cũng ñã
xác ñịnh là mắc bệnh tai xanh và ñây cũng ñược coi là nguồn lây nhiễm tiềm
năng của bệnh tai xanh.
- Heo nái:
+ Heo nái giai ñoạn mang thai: sốt 40 – 42
o
C, biếng ăn, sẩy thai vào
giai ñoạn chửa 2 hoặc thai chết lưu chuyển thành thai gỗ. Thể cấp tính tai
chuyển màu xanh, ñẻ non vào giai ñoạn cuối của thời kỳ mang thai hoặc thai
chết yểu.
14
Hình 1.3. Sẩy thai ở các giai ñoạn khác nhau [12]
+ Heo nái giai ñoạn cạn sữa: heo thường biếng hoặc bỏ ăn từ 7 – 14
ngày (10 – 15% ñàn), sốt trên 40
o
C, sẩy thai thường vào giai ñoạn cuối (1-
6%), tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (2%), ñẻ non (10 –
15%), ñộng ñực giả (3 – 5 tuần sau khi thụ tinh), không ñộng dục hoặc chậm
nhiều ổ áp-xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, ho nhẹ, hắt hơi, chảy
nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới 20%.
Thông thường heo bị nhiễm chủng vi rút bệnh tai xanh ở dạng cổ ñiển
thì có tỷ lệ chết rất thấp, từ 1 – 5% trong ñàn mắc bệnh. Còn khi thấy gia súc
chết nhiều thường là do nhiễm trùng kế phát các tác nhân gây bệnh khác như:
dịch tả heo, tụ huyết trùng, phó thương hàn, E. Coli, Streptococcus suis, suyễn
heo, tụ cầu…[30].
Đây chính là những nguyên nhân kế phát gây chết ở heo bị mắc bệnh tai
xanh. Năm 2006, tại Trung Quốc, các nhà nghiên cứu tiến hành ñiều tra với quy
mô rộng lớn nhất từ trước ñến nay ñã khẳng ñịnh là có sự biến ñổi về ñộc lực của
vi rút bệnh tai xanh, hậu quả heo nhiễm vi rút bệnh tai xanh có tỷ lệ chết rất cao,
trên 20% trong tổng số con nhiễm bệnh.
Ở Việt Nam, kết quả theo dõi heo bị mắc bệnh tai xanh trong các ổ dịch
tại một số tỉnh ñồng bằng Bắc bộ ñầu năm 2007 cũng cho thấy: heo nái bị sẩy
16
thai, thai chết lưu ở thời kỳ chửa 2 hoặc thai chết yếu ngay sau khi sinh và heo
con theo mẹ, heo sau cai sữa bị viêm phế quản, phổi rất nặng và chết với tỷ lệ
cao. Các trường hợp bị bệnh kế phát do vi khuẩn ñã làm cho heo bị bệnh rất
nặng và làm cho heo chết nhiều…[12].
1.1.7. Bệnh tích
Heo bị bệnh tai xanh có các bệnh tích ñiển hình như: viêm phổi hoại tử
và thâm nhiễm ñặc trưng bởi những ñám chắc, ñặc trên các thùy phổi. Thùy bị
bệnh có màu xám ñỏ, có mủ và ñặc chắc (nhục hoá). Trên mặt cắt ngang của
thùy bệnh lồi ra, khô, ñôi khi thấy dịch phổi nhiều. Nhiều trường hợp viêm
phế quản, phổi hoá mủ ở mặt dưới thùy ñỉnh.
ăn ít, sốt cao 40 – 41
o
C, khó thở, ỉa chảy…
- Chẩn ñoán trong phòng thí nghiệm: Dựa vào những phương pháp
chẩn ñoán bằng ELISA hoặc có thể sử dụng phương pháp IPMA theo quy
trình của OIE ñể phát hiện kháng thể, hoặc phương pháp Real-time PCR ñể
phát hiện vi rút hoặc phương pháp phân lập vi rút gây bệnh. Các phương pháp
này cho ñộ chính xác cao (92 - 95%).
1.1.9. Điều trị
Hiện chưa có thuốc ñiều trị ñặc hiệu hội chứng rối loạn sinh sản và hô
hấp vì ñây là bệnh gây ra do vi rút.