Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU SỰ LƢU HÀNH CỦA VI KHUẨN
PASTEURELLA MULTOCIDA TRONG BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG
Ở TRÂU, BÕ TẠI MỘT SỐ HUYỆN CÓ DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Đặng Xuân Bình Thái Nguyên, năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực
hiện cùng với sự giúp đỡ của TS. Đặng Xuân Bình. Các số liệu, hình ảnh và
kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác. Tôi xin đảm bảo rằng các thông tin, trích dẫn trong
luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà
1. Tính cấp thiết đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình nghiên cứu bệnh tụ huyết trùng trong và ngoài nước 3
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
1.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng 6
1.2.1. Quá trình sinh dịch 6
1.2.1.1. Nguồn bệnh 6
1.2.1.2. Yếu tố truyền lây 7
1.2.1.3. Động vật mẫn cảm 8
1.2.2. Tuổi mắc bệnh 9
1.2.3. Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch 10
1.2.4. Vùng phát bệnh 12
1.2.5. Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp trên
của động vật khoẻ 13
1.3. Các đặc tính sinh học của mầm bệnh 15
1.3.1. Phân loại vi khuẩn Pasteurella multocida 15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.2. Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu 16
1.3.3. Đặc tính nuôi cấy 16
1.3.4. Đặc tính sinh hoá 19
1.3.5. Kháng nguyên của vi khuẩn P. multocida 21
1.3.6. Sức đề kháng của vi khuẩn P. multocida 24
1.4. Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn P. multocida gây ra 25
1.4.1. Biểu hiện đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25
1.4.1.1. Triệu chứng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 25
1.4.1.2. Bệnh tích 27
2.4.5. Kiểm tra độc lực của vi khuẩn của vi khuẩn Pasteurella multocida
phân lập được 41
2.4.5.1. Kiểm tra độc lực của vi khuẩn trên chuột bạch 41
2.4.5.2. Phương pháp làm kháng sinh đồ 42
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Hà Giang 43
3.1.1. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn trên địa bàn tỉnh Hà Giang
từ năm 2007 - 2009. 43
3.1.2. Tần suất xuất hiện dịch bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại các huyện từ
năm 2007 - 2009 45
3.1.3. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò theo loài gia súc 47
3.1.4. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò theo mùa vụ 49
3.1.5. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò theo lứa tuổi 51
3.1.6. Triệu chứng đặc trưng của trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng 55
3.2. Nghiên cứu mức độ và thời gian xảy ra dịch bệnh 56
3.2.1. Nghiên cứu mức độ dịch và hệ số năm dịch 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.2.2. Nghiên cứu thời điểm phát dịch, mùa dịch 57
3.3. Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò . 60
3.3.1. Kết quả điều tra trâu, bò mắc bệnh và chết do bệnh tụ huyết trùng trâu,
bò theo vùng địa lý 61
3.3.2. Ảnh hưởng các yếu tố khí hậu 64
3.4. Kết quả phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật hoá học, độc lực
Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi của gia súc tại tỉnh Hà Giang 68
3.4.1. Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi của gia
súc khoẻ 68
3.4.2. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của các chủng vi
Trang
Bảng 1.1. Phân biệt các loài Pasteurella 21
Bảng 1.2. Mối quan hệ giữa hai hệ thống phân loại Carter - Robert 22
Bảng 1.3. Hệ thống phân loại serotype của P. multocida 24
Bảng 3.1. Kết quả điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc tại Hà
Giang từ năm 2007 - 2009 43
Bảng 3.2. Tần suất xuất hiện dịch tụ huyết trùng tại Hà Giang 45
Bảng 3.3. Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh tụ
huyết trùng theo loài gia súc 48
Bảng 3.4. Kết quả xác định tỷ lệ trâu bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh
tụ huyết trùng theo mùa vụ 50
Bảng 3.5. Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh
tụ huyết trùng theo lứa tổi 53
Bảng 3.6. Kết quả theo dõi triệu chứng đặc trưng của trâu bò mắc bệnh tụ
huyết trùng 55
Bảng 3.7. Hệ số năm dịch tụ huyết trùng trâu, bò từ năm 2007 - 2009 56
Bảng 3.8. Hệ số tháng dịch tụ huyết trùng trâu, bò 58
Bảng 3.9. Kết quả xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh, chết, tử vong do bệnh
tụ huyết trùng theo vùng địa lý 63
Bảng 3.10. Mối tương quan giữa các yếu tố khí hậu với trâu, bò mắc bệnh
tụ huyết trùng trung bình/tháng từ năm 2007 - 2009 65
Bảng 3.11. Kết quả phân lập Pasteurella multocida từ dịch ngoáy mũi gia
súc khoẻ 68
Bảng 3.12. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật hoá học của vi
khuẩn Pasteurella multocida phân lập 70
Bảng 3.13. Kết quả thử độc lực của các chủng Pasteurella multocida phân lập 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.14. Kết quả thử tính mẫn cảm kháng sinh của các chủng
Pasteurella multocida phân lập 72
Bảng 3.15. Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết
Phượng, 2000) [21].
Về khả năng đáp ứngmiễn dịch của một số vắc xin phòng bệnh tụ huyết
trùng của trâu, bò đang lưu hành ở nước ta, bệnh tụ huyết trùng ở thể bại huyết
(Haemorrhagic septicaemia) đã và đang gây thiệt hại đáng kể cho người chăn
nuôi (Hoàng Xuân Nghinh và cs, 2004) [18]. Do vậy, ngoài việc hoàn thiện các
biện pháp chăn nuôi đảm bảo vệ sinh, thì yêu cầu nghiên cứu sự lưu hành của
vi khuẩn gây bệnh, chọn chủng kháng nguyên phù hợp chế tạo vắc xin phòng
bệnh hiệu quả, một vấn đề cấp thiết để hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra cho
trâu, bò ở các tỉnh miền núi phía bắc nói chung và cả nước nói riêng.
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc có diện tích tự nhiên rộng, chủ
yếu là rừng núi, đây là điều kiện thuận lợi để Hà Giang phát triển chăn nuôi
đại gia súc, đặc biệt là trâu, bò. Hiện nay, tổng đàn trâu, bò tỉnh Hà Giang
trên 224000 con. Trâu, bò là nguồn sức kéo quan trọng và nguồn thu nhập
đáng kể cho người chăn nuôi. Hàng năm bệnh tụ huyết trùng trâu, bò gây chết
trung bình từ 300 - 500 con làm thiệt hại lớn cho nghành chăn nuôi. Xuất phát
từ những yêu cầu thực tiễn, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả
đi trước ở trong và ngoài nước, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu sự lưu hành của vi khuẩn Pasteurella multocida trong bệnh
tụ huyết trùng ở trâu, bò tại một số huyện có dịch trên địa bàn tỉnh Hà
Giang và biện pháp phòng trị ".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
56
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên địa bàn
tỉnh Hà Giang.
- Nghiên cứu vai trò của các yếu tố khí hậu tác động đến đặc điểm dịch
tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò.
- Xác định sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò.
lực của vi khuẩn tụ huyết trùng ở khu vực miền Trung; Dương Thế Long
(1995) [15] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và vi khuẩn học của bệnh
tụ huyết trùng trâu bò Sơn La để xác định biện pháp phòng trị thích hợp;
Võ Văn Hùng (1997) [11] nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ
huyết trùng lợn ở Đăk Lăk và biện pháp phòng trị.
Trước đây bệnh tụ huyết trùng lợn xảy ra mạnh ở các tỉnh phía Nam và
xảy ra lẻ tẻ ở các tỉnh phía Bắc. Trong những năm 70 cuối thế kỷ 20, có 80% số
ổ dịch và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc về các tỉnh ở
phía Nam. Đến những năm 90, phân bố địa lý của bệnh nghiêng về các tỉnh
phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên nhiều, hàng năm
có 20 - 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành (Bùi Quý Huy, 1998) [12].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
56
Nguyễn văn Quang (1998) [25] nghiên cứu về vắc xin phòng bệnh tụ
huyết trùng và đóng dấu lợn. Bùi Văn Dũng (2000) [2] nghiên cứu tình hình
bệnh tụ huyết trùng và vi khuẩn P. multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu
bò khoẻ ở tỉnh Lai Châu. Phan Thanh Phượng (2000) [21] nghiên cứu về bệnh
tụ huyết trùng ở gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống. Cao Văn Hồng
(2001) [10] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu, bò, lợn
tại Đăk Lăk. Hoàng Đăng Huyến (2004) [13] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ,
các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở Bắc Giang. Nguyễn
Văn Minh (2005) [16] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết
trùng và xác định tỷ lệ mang trùng Pasteurella ở đàn trâu bò tỉnh Hà Tây.
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007) [9] nghiên cứu một số đặc tính của vi
khuẩn P. multocida phân lập từ trâu, bò, lợn. Đỗ Ngọc Thuý và cs (2007) [31]
đã ứng dụng kỹ thuật PCR để xác định type các chủng vi khuẩn P. multocida
phân lập từ vật nuôi; Đỗ Quốc Tuấn (2008) [35] nghiên cứu bệnh tụ huyết
trùng lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, ở Nhật Bản bệnh được phát hiện vào
năm 1923, song không gây thành dịch và không thể hiện dịch tễ. Bệnh cũng
được phát hiện ở bò rừng Vườn thú Quốc gia Mỹ vào các năm 1912, 1922,
1967 và chỉ thấy một báo cáo cho biết bệnh có ở bò sữa vào năm 1969
(Carter, 1982) [46]. Năm 1984, tổ chức dịch tễ thế giới (OIE: Office
International Epizooties) chính thức công bố bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên
thế giới (FAO, 1991) [56]. Theo De Alwis (1992a) [53], bệnh cũng đã xảy ở
Châu Phi và gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc.
Ngày nay, sau hơn 100 năm kể từ khi phát hiện bệnh lần đầu, P.
multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc,
gia cầm. Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên các loài vật khác nhau, nhưng
Pasteurella multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
56
1.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng
1.2.1. Quá trình sinh dịch
1.2.1.1. Nguồn bệnh
Nguồn lây bệnh tụ huyết trùng là những trâu, bò, lợn và gia cầm bị
bệnh và mang trùng. Theo Bùi Quý Huy (1998) [12], ổ dịch đầu tiên trong
vùng xảy ra từ trâu, bò của địa phương bị bệnh, do việc mổ thịt đem phân tán,
làm cho dịch lây lan rộng. Dịch thường xảy ra và lan rộng theo các triền sông
do dòng nước bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh. Các nguồn bệnh khác có thể là dê,
cừu hay ngựa bị bệnh.
Tại các vùng dịch cũ, phần lớn những gia súc sống sót sau khi dịch
thường trở thành những con vật mang trùng tiềm ẩn và thường xuyên bài tiết
mầm bệnh ra ngoài ngoại cảnh, nhưng bệnh không xảy ra. Bệnh chỉ phát ra
khi xuất hiện những gia súc cảm thụ mới là những gia súc mới sinh ra sau
dịch hay gia súc mới nhập chưa có miễn dịch (De Alwis,1999) [55].
những điều kiện không thuận lợi ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh cũng dễ phát
ra (Bolin và Eveleth, 1951) [40].
Vận chuyển đi xa trong những phương tiện thiếu vệ sinh, thiếu
không khí, nhốt quá chật, thiếu nước uống trong khi vận chuyển, vận
chuyển với tốc độ nhanh, đi dưới trời nóng, không cho gia súc nghỉ, đó là
nguyên nhân làm cho bệnh tụ huyết trùng gia súc dễ dàng xảy ra và làm
chết gia súc, gia cầm (Carter, 1982) [46].
Cho đến nay không rõ vi khuẩn tồn tại bằng cách truyền lần lượt trong
một số dãy cá thể của một quần thể hay nó còn tồn tại lâu dài một số con. Có
nhiều cách lây bệnh khác nhau: Nhiễm qua đường hô hấp, đường tiêu hoá,
qua vết xây xước trên da. Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ con ốm sang con
khoẻ qua tiếp xúc: Ở chung một chuồng, cùng chăn thả một bãi, uống chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
56
Bệnh lây lan do việc mổ gia súc ốm, phân tán thịt da. Chó mèo và một số côn
trùng hút máu như ruồi, mòng v.v, cũng có thể là vật môi giới truyền mầm
bệnh đi xa (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [24].
Trong giai đoạn đầu của bệnh, khi con vật còn đi lại được, vi khuẩn
từ nước dãi và phân, nước tiểu được bài ra xung quanh. Ổ dịch rộng hay
hẹp tuỳ theo điều kiện tồn tại của vi khuẩn và sức miễn dịch của đàn (Phan
Thanh Phượng, 1994) [19].
1.2.1.3. Động vật mẫn cảm
Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú hoang dại
và chim đều mẫn cảm với với bệnh. Theo Lignieres (1900) [65] ít nhất có 6
dạng bệnh tụ huyết trùng khác nhau: Ở gà, cừu, trâu, bò, lợn, ngựa và chó, cả
6 dạng bệnh này đều thấy ở thỏ.
Theo De Alwis (1982b) [50] động vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh
tụ huyết trùng trâu bò là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò. Bệnh có thể lây
già và khi mắc bệnh thì có tỷ lệ chết cao hơn. Trâu, bò càng béo, khoẻ, trẻ
càng dễ mắc bệnh và có tỷ lệ chết cao. Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc
bệnh (Bùi Quý Huy,1998) [12].
Theo De Alwis (1984) [51] mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh
hơn động vật già. Khi nghiên cứu vùng có dịch tại Srilanka tác giả cho biết, tỷ
lệ mắc bệnh tụ huyết trùng đối với trâu bò dưới hai năm tuổi là 30 - 32%,
trong khi đó trâu bò trên hai năm tuổi chỉ mắc bệnh 3 - 5 % ở bò và 8 - 9 % ở
trâu. De Alwis (1999) [55] trong vùng có dịch, phần lớn gia súc trưởng thành
có lượng kháng thể cao hơn trong cơ thể và kháng thể tự nhiên này sẽ được
trâu, bò dưới 6 tháng tuổi hấp thu qua sữa mẹ. Cũng theo tác giả, kháng thể có
trong sữa đầu có thể tồn tại liên tục cho đến ngày thứ 28 và giảm dần cho đến
ngày thứ 58.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
56
Dương Thế Long (1995) [15] theo dõi bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở
Sơn La thấy tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi. Đỗ Văn
Được (1998) [6] cho biết bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Lạng Sơn xảy ra ở
mọi lứa tuổi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế. Bùi Quý Huy (1998)
[12] thống kê trên 1000 trường hợp cho thấy 75% trâu, bò mắc bệnh lứa
tuổi 2 - 6 năm, các lứa tuổi khác chỉ chiếm 25%. Cao Văn Hồng (2001)
[10] tại Đăk Lăk cũng cho thấy, lứa tuổi cảm nhiễm với bệnh nhất là dưới
36 tháng tuổi. Nguyễn Đăng Huyến (2004) [13] cho biết tại Bắc Giang trâu
bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất.
1.2.3. Mùa vụ phát bệnh và tần suất xuất hiện dịch
Bệnh tụ huyết trùng ở gia súc phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu,
Mustafa và cs (1978) [66] nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ
huyết trùng đã nhận xét bệnh thường liên quan đến điều kiện khí hậu ẩm ướt.
Theo Yeo và Mukhtar (1992) [80] khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh tụ huyết
(2000) [2], ở Lai Châu bệnh tụ huyết trùng xảy ra quanh năm nhưng tập trung
vào các tháng 3, 4, 7, 8 hàng năm, vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa. Cao Văn
Hồng (2001) [10] cho biết, mùa dịch tụ huyết trùng ở Đăk Lăk từ tháng 5 đến
tháng 9, đây là những tháng mưa nhiều. Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [13]
bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở Bắc Giang từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, thời
gian này cũng đang là mùa mưa. Cũng theo Nguyễn Văn Minh (2005) [16] bệnh
tụ huyết trùng xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8,
vào đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 đây là
những tháng nắng, nhiệt độ cao và mưa nhiều.
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a) [22]; (1986b) [23] khi nghiên cứu tỷ lệ
mang trùng ở trâu, bò và lợn bằng cách lấy dịch ngoáy mũi đã rút ra kết
luận ở vùng nào có tỷ lệ tiêm phòng càng cao, thì tỷ lệ mang trùng càng
thấp thậm chí là không có con mang trùng. De Alwis (1992b) [54] nhận xét
rằng, bệnh thường xảy ra vào các năm kế do tiêm phòng không tốt, vào các
tháng mưa nhiều.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
56
Bùi Quý Huy (1998) [12] cho biết, vùng xảy ra ổ dịch đều là nơi mà
đàn trâu, bò từ lâu không được tiêm phòng hoặc tiêm chỉ đạt tỷ lệ 10 - 15%
tổng đàn. Một khu vực có tỷ lệ tiêm phòng từ 80% trở lên bệnh khó xảy ra.
Bain và cs (1982) [37], gia súc một làng đã bị bệnh trong một năm thì
năm sau có thể không bị mắc, mặc dầu mức độ bệnh chung của cả huyện vẫn
giữ nguyên trong các năm.
Theo kết quả điều tra ở Sri Lanka của De Alwis (1992b) [54], tỷ lệ
những con có miễn dịch tự nhiên tuỳ theo đàn và trong cùng một đàn nó cũng
thay đổi theo thời gian. Nó liên quan trực tiếp với bệnh tụ huyết trùng mới
xuất hiện trong đàn. Tỷ lệ có miễn dịch cao nhất thuộc về những con không
có tiêm chủng qua một vụ dịch. Sức miễn dịch này giảm dần theo thời gian
sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp có tập quán thả rông trâu, bò nên trâu, bò dễ
tiếp xúc với mầm bệnh. Ở những vùng có phương thức chăn nuôi thả rông,
không có người chăm sóc, không làm chuồng nuôi nhốt, để gia súc nơi bùn
lầy, ngập nước, không dọn phân thường xuyên, việc vệ sinh, chăm sóc nuôi
dưỡng kém thì khả năng xảy ra bệnh cao. Ngoài ra trình độ dân trí thấp,
nhận thức của người dân về công tác phòng chống bệnh chưa cao, việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng chống dịch bệnh còn nhiều
khó khăn v.v, thì cũng không tránh khỏi dịch bệnh thường xuyên xảy ra.
Carter và De Alwis (1989) [47] cũng xác định bệnh thường xảy ra ở những
vùng sâu, hẻo lánh nên việc phòng chống bệnh gặp nhiều khó khăn.
1.2.5. Hiện tượng mang vi khuẩn Pasteurella multocida ở đường hô hấp
trên của động vật khoẻ
Vi khuẩn Pasteurella multocida có thể tìm thấy ở các hạch lympho
của đường hô hấp trên của trâu, bò khoẻ đóng vai trò mang trùng. Những
trâu bò mang trùng tiềm tàng không xuất hiện triệu chứng lâm sàng vì vậy
được coi là không mắc bệnh nhưng liên tục thải vi khuẩn qua đường mũi. Ở
giai đoạn tiềm ẩn này chỉ có thể xác định được vi khuẩn bằng nuôi cấy các
hạch lympho lấy từ lò mổ hoặc dịch tiết ở mũi, hầu (Singh, 1948 [76],
Wijewantha và cs, 1992 [79]).