Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM VĂN HIỂU
NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN LƢƠN (STRONGYLOIDOSIS)
Ở TRÂU, BÒ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG THUỘC
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Văn Hiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp của
mình. Em xin trân trọng cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa chăn nuôi Thú y cùng toàn
thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã
giúp đỡ em, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
tốt nghiệp.
- Với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Đỗ
Trung Cứ, PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp
đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo
1.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn 20
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 20
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 22
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 27
2.1.4. Vật liệu nghiên cứu 27
2.2. Nội dung nghiên cứu 28
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
2.2.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn trâu bò tại một số
địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 28
2.2.2. Nghiên cứu bệnh giun lươn ở trâu bò 28
2.2.3. Sử dụng thuốc tẩy giun lươn cho trâu bò và đề xuất biện pháp
phòng bệnh 29
2.3. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn trâu bò tại một số
địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 29
2.3.2. Bố trí điều tra, phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng giun
lươn ở ngoại cảnh 30
2.3.3. Bố trí và phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng của trâu
bò bị bệnh giun lươn 32
2.3.4. Bố trí xét nghiệm và phương pháp xét nghiệm máu của trâu bò
nhiễm giun lươn ở mức độ nặng 33
2.3.5. Bố trí thí nghiệm và phương pháp đánh giá hiệu lực tẩy giun
3.4.4. Cải tạo đồng cỏ, bãi chăn thả 70
3.4.5. Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng trâu bò 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu chữ viết tắt
Nội dung chữ viết đầy
đủ
1.
-
Đến
2.
%
Tỷ lệ phần trăm
3.
Nhỏ hơn hoặc bằng
4.
<
Nhỏ hơn
5.
>
Lớn hơn
6.
mg
Miligam
15.
ml
Mililit
16.
mm
Militmét
17.
Nxb
Nhà xuất bản
18.T
0
Nhiệt độ
19.
Tp
Thành phố
20.
TT
Thể trọng
21.
Tx
Thị xã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Giun lươn Strongyloides papillosus 5
Hình 1.2. Sơ đồ vòng đời giun lươn ở trâu bò 8
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn tại một số địa phương ở Thái
Nguyên 40
Hình 3.2. Biểu đồ cường độ nhiễm giun lươn tại một số địa phương ở
Thái Nguyên 42
Hình 3.3. Đồ thị tỷ lệ nhiễm giun lươn theo lứa tuổi trâu bò 43
Hình 3.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn trâu, bò theo mùa vụ 45
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở trâu và ở bò 47
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở trâu bò bình thường và tiêu
chảy 56
Hình 3.7. Biểu đồ sự thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng
huyết sắc tố của trâu bò bị bệnh giun lươn 60
Hình 3.8. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của trâu bò bị bệnh
giun lươn 61 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1. Hai mẹ con trâu mắc bệnh giun lươn.
Ảnh 2: Thí nghiệm theo dõi sự phát triển và khả năng tồn tại của trứng và ấu
sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung. Chăn
nuôi với nhiều phương thức phong phú, đa dạng đã giải quyết tốt công ăn việc
làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu,
nhất là khi chúng ta vừa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.
Việt Nam là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở vùng nông
thôn, đời sống của nông dân phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Trâu bò có
vai trò rất lớn trong sản xuất nông nghiệp và đời sống. Ngày nay, với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, nhà nước đã đầu tư rất
lớn vào cơ khí hóa nông nghiệp, nhưng vấn đề này còn gặp nhiều khó khăn do
đặc thù sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, địa hình
phức tạp, độ dốc lớn, ruộng bậc thang nhiều, người dân đã quen sử dụng sức
kéo của trâu bò là chính. Hơn nữa, ở nông thôn cơ sở vật chất kỹ thuật còn
nghèo nàn, lạc hậu, các nông hộ không có vốn đầu tư lớn cho sản xuất nông
nghiệp, trâu bò vẫn là nguồn sức kéo chính, có hiệu quả và rẻ tiền.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Chăn nuôi trâu bò cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng
tốt cho con người, đồng thời là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da cho
ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân hữu cơ cho ngành trồng trọt. Để
đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi trâu bò
ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh, tăng nhanh cả về số lượng và
chất lượng.
Một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển chăn nuôi là nảy sinh vấn
đề dịch bệnh, trong đó có các bệnh ký sinh trùng. Việt Nam ở vào khu vực
nhiệt đới có gió mùa, lại có những vùng mang tính chất á nhiệt đới và ôn đới,
là một sinh cảnh thuận tiện cho sự sinh sống và phát triển của những sinh vật
bậc thấp có hại cho người, vật nuôi… trong đó có giun sán, gồm rất nhiều
loài. Việt Nam có khu hệ ký sinh trùng động vật phong phú và đa dạng, gây ra
và biện pháp phòng trị”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp
phòng trị bệnh giun lươn cho trâu bò.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh giun lươn ở trâu bò của một số huyện, thành, thị của
tỉnh Thái Nguyên, làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị có hiệu quả,
đảm bảo sức khỏe của đàn trâu bò, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về
đặc điểm dịch tễ của bệnh giun lươn ở trâu bò tại một số địa phương thuộc tỉnh
Thái Nguyên, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng và ấu trùng giun lươn
ở môi trường ngoại cảnh, về một số đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh.
- Ý nghĩa thực tiễn: đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh một
cách hiệu quả, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Giun lươn ký sinh ở trâu bò
1.1.1.1. Vị trí của giun lươn trâu bò trong hệ thống phân loại
Bệnh giun lươn do giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ
Rhabditata) gây nên. Trong đó loài Strongyloides papillosus ký sinh và gây
bệnh giun lươn ở trâu bò. (Nguyễn Thị Lê và cs 1996) [17].
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[17], giun lươn ở trâu bò có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại. Các buồng
trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp. Tử cung chứa 4 -
75 trứng. Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau. Trứng có vỏ mỏng và phẳng,
kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng.
1: Phần giữa thân giun cái
2: Đuôi giun cái
3: Giun cái sống tự do
4: Trứng Hình 1.1. Giun lƣơn Strongyloides papillosus
(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996) [6]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
1.1.1.3. Vòng đời của giun lươn
Vòng đời của giun lươn không cần ký chủ trung gian.
Theo Phạm Xuân Dụ giun cái trong cơ thể bê đẻ trứng có ấu trùng,
trứng theo phân ra ngoài sau 5 - 6 giờ (mùa Hè) trứng phát triển thành ấu
trùng hình gậy, sau từ 2 - 3 ngày ấu trùng hình gậy phát triển thành ấu trùng
hình sợi có khả năng cảm nhiễm (chu kỳ trực tiếp); hoặc sống tự do ngoài môi
trường tự nhiên, giun cái thụ tinh và đẻ trứng, 5 - 6 giờ sau trứng nở thành ấu
trùng hình gậy, sau từ 1 - 2 ngày thành ấu trùng hình sợi có khả năng cảm
nhiễm. Ấu trùng hình sợi xâm nhiễm vào cơ thể bê qua da hoặc theo đường
tiêu hóa, rồi theo máu, lâm ba vào phổi, lên hầu, xuống ruột. Ấu trùng phát
C thì sau 24 - 36 giờ trở thành ấu trùng cảm
nhiễm dạng sợi chỉ.
Khi phát triển gián tiếp, sau 8 - 40 giờ, ấu trùng hình gậy trở thành con
cái và con đực sống tự do. Những con cái này đẻ trứng, trứng nở ra thành ấu
trùng hình gậy, rồi trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ.
Gia súc có thể nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng thức ăn, nước uống.
Cũng có thể nhiễm do ấu trùng xâm nhập qua da lành vào máu, đến phổi, lên
họng rồi nuốt xuống ruột non. Ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng
thành. Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun trưởng thành cần 5 - 10 ngày.
Tuổi thọ của giun ở gia súc khoảng 5 - 9 tháng.
Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [13] cho biết: giun sống trong hoặc dưới lớp
niêm mạc của ruột non. Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính. Giun đực và
giun cái sống tự do thực hiện giao cấu ngoài ký chủ. Sự cảm nhiễm của vật
chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua
da. Sau khi vào cơ thể súc vật cái mang thai, ấu trùng có thể di hành trong
máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh. Ký sinh trùng còn
có thể xâm nhập vào gia súc sơ sinh qua bú sữa đầu.
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu cũng về phổi, đi vào các phế nang,
gây ho và tiết dịch. Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
mất khoảng 9 ngày. Sự phát triển của chúng theo 2 con đường: một là vòng
đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không
cần thụ tinh. Trứng thải qua phân ra ngoài, rồi phát triển thành ấu trùng cảm
nhiễm giai đoạn III. Trong phát triển vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ
trứng ở ruột non, trứng ra ngoài nở ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng
cảm nhiễm. Các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng
thành. Chúng có thể sống tự do ngoài cơ thể vật chủ. Trứng được thụ tinh của
♀ x
♂
Giun
l-¬n ký
sinh
(♀)
Trøn
g
Trøng Êu
trïng
giun
l-¬n
Êu
trïng
g©y
nhiÔm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
0
C và độ ẩm cao, cho nên Strongyloides papillosus lây nhiễm mạnh cho
động vật nhai lại non ở những vùng nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới
(Chandrawathani P. và cs, 1998) [38].
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: nhiệt độ thấp trứng
ngừng phát triển. Ở trên 50
0
C và – 9
0
C trứng bị chết. Ấu trùng gây nhiễm
sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], điều kiện nóng, ẩm là
những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của giun sán, của trứng và ấu trùng
giun sán. Trứng giun sán chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15 - 30
0
C.
1.1.2. Bệnh giun lươn ở trâu bò
1.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun lươn gây ra
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
đường tiêu hoá ở trâu bò nói riêng, không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
không làm cho gia súc chết đột ngột (trừ trường hợp cá biệt). Song chúng đã
gây tác hại nghiêm trọng đối với cơ thể vật chủ, làm giảm khả năng sinh
trưởng và phát triển của trâu, bò làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng
tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, dẫn đến năng suất chăn
nuôi giảm.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], phương thức sống ký sinh của
trứng phát triển thành ấu trùng hình gậy sau 2 giờ, thành ấu trùng hình sợi sau
72 giờ (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25].
Tác giả cũng cho rằng: ở những vùng đất xốp, ẩm thì thuận tiện cho
những giun sán phát triển qua đất như giun lươn.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], bệnh giun lươn thấy nhiều
ở súc vật non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển
thành giun trưởng thành. Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh.
Viện thú y quốc gia (2002) [33] cho biết: bệnh giun lươn phần lớn xảy ra
ở bê dưới 5 tuần tuổi, ấu trùng nhiễm qua sữa non hoặc xuyên qua da trong điều
kiện ẩm ướt.
Như vậy, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ bị bệnh
và bệnh phát triển nhanh hơn, nặng hơn so với động vật trưởng thành. Động
vật trưởng thành và động vật già yếu nhiễm nhẹ và ít hơn, tuy nhiên chúng là
những động vật mang trùng, là nguồn bệnh nguy hiểm đối với động vật non.
1.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun lươn
Đường bài xuất mầm bệnh:
Trâu bò mắc bệnh, sau một thời gian ấu trùng giun lươn phát triển thành
giun trưởng thành, đẻ trứng (trong trứng đã có ấu trùng) theo phân ra ngoài
ngoại cảnh. Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên, bắt đầu quá
trình phát triển để tạo thành ấu trùng có sức gây bệnh.
Đường xâm nhập vào cơ thể:
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)
[9] cho biết: bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian, ấu trùng
có sức gây nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua 2 con đường:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
- Qua da: ấu trùng có sức gây bệnh chui qua da xâm nhập vào cơ thể
vật chủ.
chứng viêm phổi (ho), viêm ruột (ỉa chảy) hoặc kết hợp cả viêm ruột và viêm
phổi. Một số bê có sức khỏe tốt và ít trứng giun lươn trong phân thì không
phát bệnh. Bê 1 - 2 tháng tuổi thường phát bệnh nặng nhất; qua tuổi đó thì tuy
có giun lươn trong cơ thể, nhưng bệnh không phát hay phát nhẹ, (Trịnh Văn
Thịnh, 1977) [24].
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [25] giun lươn gây tác hại chủ yếu
ở gia súc non, nhất là bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi, những đàn bê còi cọc, suy
nhược, có tỷ lệ chết cao (có khi 20 - 50%).
Gia súc bị mắc bệnh do giun tròn gây ra có biểu hiện gầy yếu, ăn uống
kém, da và niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu, viêm ruột, tiêu chảy ở mức độ
trung bình, không liên tục. (Phạm Ngọc Thạch, 1998) [20].
Viện thú y quốc gia (2002) [33] cho biết: bò bị bệnh giun lươn có các biểu
hiện lâm sàng như ỉa chảy gián đoạn, giảm thể trọng, ăn kém, ho, gầy mòn, đôi
khi bê chết đột ngột.
* Bệnh tích:
Theo Skrjabin K. I. và cs (1963) [37], khi mổ khám trâu bò bị bệnh
giun lươn thấy xác chết gầy còm, nhợt nhạt, da chỗ nếp gấp thường bị chàm,
đôi khi có nước rỉ trong xoang bụng. Hạch lâm ba màng treo ruột sưng to.
Niêm mạc ruột và dạ dày đỏ, có nhiều nốt xuất huyết nhỏ.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [25], bệnh tích thể hiện rõ ở gia súc
non, ở gia súc trưởng thành và gia súc già bệnh tích không rõ.
Khi mổ khám những con vật bị bệnh giun lươn do gây nhiễm, thấy
những điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da, ở cơ. Ở phổi cũng có nhiều điểm hoặc
đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày ruột, niêm mạc dạ dày có nhiều
mụn loét.