nghiên cứu một số bệnh giun lươn (swine strongylosis) ở lợn tại một số địa phương ở tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN LƯƠN Ở LỢN
(SWINE STRONGYLOSIS) TẠI MỘT SỐ ĐỊA
PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ TRUNG CỨ
PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM LAN THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đoàn Thị Phương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC

Mở đầu 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Mục đích nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1. Tổng quan tài liệu 4
1.1. Cơ sở khoa học 4
1.1.1. Giun lươn ký sinh ở lợn 4
1.1.2. Bệnh giun lươn ở lợn 12
1.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn 29
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 29
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 31
Chương 2: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 33
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 33
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 33
2.1.3. Thời gian nghiên cứu 33
2.2. Vật liệu nghiên cứu 33
2.2.1. Mẫu nghiên cứu 33
2.2.2. Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 34
2.3. Nội dung nghiên cứu 34
2.3.1. Một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 34

3.2. Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn 65
3.2.1. Bệnh giun do gây nhiễm 65
3.2.2. Bệnh giun lươn ở lợn nhiễm tự nhiên 72
3.2.3. Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn trước và sau khi
bị bệnh giun lươn 74
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.3. Nghiên cứu sử dụng thuốc tẩy giun lươn cho lợn 79
3.3.1. Hiệu lực của một thuốc điều trị bệnh giun lươn cho lợn 80
3.3.2. Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn 81
3.3.3. Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh giun lươn
cho lợn 83
Kết luận và đề nghị 85
1 Kết luận 85
2. Đề nghị 86
Tài liệu tham khảo 87

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn tại các địa phương 48
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 52
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y 54
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ 52

Biểu đồ 3.2. Cường độ nhiễm giun lươn ở một số địa phương thuộc tỉnh
Thái Nguyên 51
Biểu đồ 3.3. Sự thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết
sắc tố của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun lươn 76
Biểu đồ 3.4. Sự thay đổi công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh
giun lươn 79

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1. Giun lươn Stronggyloides ransomi ký sinh ở lợn 5
Hình 1.2. Giun lươn Stronggyloides papillosus 7
Hình 1.3. Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn 11
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây bệnh giun lươn cho lợn 41
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC ẢNH Ảnh 2.1. Một số mẫu phân lợn, mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt
vườn (bãi) trồng cây thức ăn cho lợn, mẫu đất bề mặt xung quanh

: Đến
%
: Tỷ lệ phần trăm

: Nhỏ hơn hoặc bằng
<
: Nhỏ hơn
>
: Lớn hơn
cm
: Cetimét
CS
: Cộng sự
kg
: Kilogam
m
2
: Mét vuông
mg
: Miligam
mm
: Militmét
NXB
: Nhà xuất bản
SGN
: Sau gây nhiễm
TT
: Thể trọng
VSTY
: Vệ sinh thú y

lượng và chất lượng. Ngoài những điều kiện thuận lợi, chúng ta còn một số
khó khăn hạn chế việc phát triển chăn nuôi lợn, trong đó có vấn đề dịch bệnh.
Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp như Dịch tả lợn, Tụ huyết trùng,
Phó thương hàn còn phải kể đến các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa
của lợn.
Bệnh ký sinh trùng là một loại bệnh phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho
ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Là một nước nằm
trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, Việt Nam có khu hệ ký sinh trùng
động vật phong phú và đa dạng, gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia
súc, gia cầm, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi. Ngoài ra, một số
bệnh ký sinh trùng ở lợn còn lây sang người, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng
đồng và làm ô nhiễm môi trường sinh thái. Trong các bệnh ký sinh trùng ở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
lợn, bệnh giun lươn (Swine Strongyloidosis) gây tác hại đáng kể cho chăn
nuôi lợn, bệnh có thể làm chết tới 75% số lợn ốm (Phạm Sỹ Lăng và Cs, 2006
[15]). Bệnh giun lươn chủ yếu xảy ra ở lợn con từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi với
tỷ lệ nhiễm khá cao. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Kim (2001)
[7], tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn con theo mẹ khoảng 48,57%.
Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về tình
hình nhiễm giun lươn và vai trò của giun lươn trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
con. Nguyễn Thị Kim Lan (2006) [10], đã nghiên cứu và cho biết: giun lươn
có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Tỷ lệ nhiễm giun lươn ở
lợn con tiêu chảy khá cao (55,46%), trong khi đó lợn có phân bình thường tỷ
lệ nhiễm giun lươn thấp (39,26%); đồng thời, nhiều lợn tiêu chảy nhiễm giun
lươn ở mức độ nặng hơn nhiều so với lợn phân bình thường. Tuy nhiên,

cách hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun lươn từ môi trường ngoại cảnh vào cơ
thể lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỂ TÀI
1.1.1. Giun lƣơn ký sinh ở lợn
1.1.1.1. Thành phần loài giun lươn ở lợn
Bệnh giun lươn do những giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ
Rhabditata) gây nên. Trong đó loài Strongyloides ransomi ký sinh và gây
bệnh giun lươn ở lợn. Ngoài ra, loài Strongyloides papillosus cũng có thể ký
sinh và gây bệnh cho lợn. Tuy nhiên, phổ biến ở lợn là loài Strongyloides
ransomi (Nguyễn Thị Lê và cs 1996)
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], Phan Thế Việt và cs (1977)
[33], giun lươn ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et MeInstosch, 1934
Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides ransomi Schwartf et Alicata, 1930
Loài Strongyloides papillosus Wedl, 1856
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái, kích thước giun lươn ở lợn

1
b

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
3: ấu trùng gây nhiễm
b 1: Phần đầu cơ thể
2: Đuôi cá thể đực
Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [9], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6]
cho biết: Giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm, xung quanh miệng có 4 môi
không rõ lắm, túi miệng nhỏ. Thực quản dài hình ống nhỏ, không có chỗ
phình. Đuôi ngắn. Âm hộ ở vào nửa sau của thân giun. Buồng trứng uốn
khúc. Trứng hình bầu dục 0,045 - 0,055 x 0,026 - 0,035 mm, màu trắng, trong
có ấu trùng.
Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [24] cho rằng: Giun lươn thân dài 2 - 4,2
mm thực quản dài 0,57 - 0,94 mm. Hậu môn ở cách mút đuôi 0,057 - 0,065
mm. Âm hộ hình lỗ ngang có môi lồi ra và ở cách mút đuôi 0,629 - 1,530
mm. Trứng dài 0,037 - 0,06 mm và rộng 0,025 - 0,042 mm, trong có ấu trùng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [15]: Giun đực hình sợi, dài 0,87 - 0,90
mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm. Giun cái dài 2,1 - 4,2mm, rộng 0,04 -
0,08 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53 mm,
hai buồng trứng là các ống mỏng, xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng
hướng lên phía trên cơ thể, một còn lại hướng phía đuôi, tử cung chứa 1 - 10
trứng, trứng giống hình trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042
mm, trong trứng có ấu trùng.
Cùng quan điểm trên, Phan Lục (2006) [19], Chu Thị Thơm và cs (2006)
[28] cho biết: Giun lươn có cấu tạo thực quản có hai chỗ phình, phình trước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8

Hình 1.2: Giun lƣơn Strongyloides papillosus
(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996)
1.1.1.3. Vòng đời của giun lươn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [8], giun lươn cái đẻ trứng ở ruột
non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong. Trứng ra ngoài phát
triển theo 2 hướng:
- Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp), trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ nở
ra ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau thành ấu trùng có sức gây nhiễm.
- Gián tiếp: ấu trùng phát triển thành giun đực và cái ở trong đất. Sau khi
giao phối, giun cái đẻ trứng có ấu trùng, ấu trùng phát triển thành ấu trùng có
sức gây nhiễm (khác trên là: giun đực và cái sống tự do).
Ấu trùng gây nhiễm phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống
nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phình to). ấu
trùng này vào cơ thể ký chủ theo 2 đường:
+ Qua da: ấu trùng vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu, hệ lâm ba về
phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu
rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn trưởng thành
ký sinh.
+ Qua đường tiêu hoá: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường

Tuổi thọ của giun ở gia súc non khoảng 5-9 tháng.
Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [15] cho biết: Giun sống trong hoặc dưới lớp
niêm mạc của ruột non. Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính. Giun đực và
giun cái sống tự do thực hiện giao cấu ngoài ký chủ. Sự cảm nhiễm của vật
chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua
da. Sau khi vào cơ thể súc vật cái mang thai, ấu trùng có thể di hành trong
máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh. Ký sinh trùng còn
có thể xâm nhập vào súc vật sơ sinh qua bú sữa đầu.
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu cũng về phổi, đi vào các phế nang,
gây ho và tiết dịch. Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
mất khoảng 9 ngày. Sự phát triển của chúng theo 2 con đường: một là vòng
đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không
cần thụ tinh. Trứng thải qua phân ra ngoài, rồi phát triển thành ấu trùng cảm
nhiễm giai đoạn III. Trong phát triển vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ
trứng ở ruột non, trứng ra ngoài nở ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng
cảm nhiễm. Các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng
thành. Chúng có thể sống tự do ngoài cơ thể vật chủ. Trứng được thụ tinh của
nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ
thể. Giai đoạn này thực hiện khoảng 10 ngày.
Skrjabin K.I và Petrov A.M 1963 [36] cho rằng: Trứng được bài xuất
theo phân ra môi trường bên ngoài, nở ra ấu trùng hình gậy rất nhanh, ấu
trùng có thể phát triển trực tiếp và gián tiếp. Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng
thành ấu trùng cảm nhiễm hình sợi sau 24 - 36 giờ; còn phát triển gián tiếp
sau 48 - 94 giờ. Lợn nhiễm bệnh do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng với

1
, nó nở ra và phát triển
thành ấu trùng L
3
trong môi trường đất ẩm hay bùn. Các ấu trùng L
3
gây
nhiễm có thể xuyên qua da vào cơ thể và gây bệnh giun lươn đường ruột.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Hình 1.3: Sơ đồ vòng đời giun lƣơn ở lợn
1.1.1.4. Sức đề kháng của giun lươn
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động
đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng và ấu trùng giun lươn.
Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại
cảnh, có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun lươn, đồng thời là cơ
sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn.
Theo kết quả nghiên cứu của Hale O.M và cs (1984) [42], ở nhiệt độ thấp
trứng nở ra ấu trùng mất khoảng 15 giờ. ở nhiệt độ cao 20-30
0
C thì mất
khoảng 5-6 giờ trứng nở thành ấu trùng.
Johanes Kaufmann (1996) [39], dưới tác động của ánh sáng mặt trời
chiếu trực tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ. ở trong nước hoặc
trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng. Nhưng nếu
ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết.

0
C.
1.1.2. Bệnh giun lƣơn ở lợn
1.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun lươn gây ra
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
đường tiêu hoá ở lợn nói riêng, không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm, không
làm cho gia súc chết đột ngột (trừ trường hợp cá biệt). Song chúng đã gây tác
hại nghiêm trọng đối với thể trạng và sức khoẻ của vật chủ, làm hạn chế sự
sinh trưởng và phát triển của lợn làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng
tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, chất lượng mỡ kém dẫn
đến năng suất chăn nuôi giảm.
Tài liệu Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn về các bệnh gia súc ở Việt Nam
cho biết: Khi gia súc mắc bệnh giun lươn thì bị tiêu chảy nhẹ hoặc nặng, suy
dinh dưỡng, biếng ăn, bơ phờ và thiếu máu.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [23], bệnh giun lươn gây tác hại nhất ở lợn
con theo mẹ, dưới 2 tháng tuổi. Lợn con nhiễm giun lươn nặng thì còi cọc,
chậm lớn, mức độ tăng trọng có khi chỉ bằng 1/3 lợn đối chứng, lợn nhiễm
nặng hơn có thể chết.
Chu Thị Thơm và cs (2006) [28] cho rằng: Những bệnh ký sinh trùng,
nhất là những bệnh giun sán thường gây bệnh mãn tính cho vật nuôi, làm sinh
trưởng phát dục bị đình tốn, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn tăng, tốn công
chăm sóc, gây trở ngại đặc biệt cho việc vỗ béo gia súc. Giun lươn (S.
ransomi) làm tốc độ sinh trưởng của lợn con giảm tới 30 - 35%.
Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [24] cho biết: Lợn mắc bệnh giun lươn có
triệu chứng mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức. Lợn con bị bệnh Strongyloides rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status