1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
Nguyễn Thị Nguyệt Tờn ti
Xác định sự l-u hành của vi khuẩn Salmonella spp ở
lợn nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công
nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Chuyờn ngnh: Thỳ y
Mó s: 60.62.50 LUN VN THC S KHOA HC NễNG NGHIP
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS ng Xuõn Bỡnh THI NGUYấN, 2012
2
MỞ ĐẦU
1998[33]; Schwartz (1999)[61]: Các đàn lợn bị nhiễm Salmonella không
những gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi mà còn là nguồn tàng trữ
mầm bệnh gây hại đối với con người. Bởi vậy mà mỗi biện pháp ngăn chặn có
hiệu quả ở gia súc đều cần thiết và là điều kiện tiên quyết góp phần giảm thiểu
dịch bệnh, tăng thu nhập cho người chăn nuôi, chống ô nhiễm môi trường và
bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
Vì vậy mà việc phân lập vi khuẩn Salmonella, xác định serotype và các
đặc tính gây bệnh của chúng ở lợn, nhằm mục đích phát hiện sớm và tìm ra
hướng phòng và trị bệnh có hiệu quả luôn là những việc làm cấp thiết. Xuất
phát từ thực tiễn nghiên cứu và yêu cầu của sản xuất, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Xác định sự lưu hành của vi khuẩn Salmonella spp ở lợn
nái và lợn con tại một số trại chăn nuôi công nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên và
biện pháp phòng trị”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định sự lưu hành của vi khuẩn Salmonella ở lợn nái sinh sản, lợn
con sau cai sữa;
- Xác định đặc tính sinh vật hoá học, tính gây bệnh và serotype của các
chủng Salmonella phân lập được;
- Đề xuất biện pháp khống chế tình trạng thải trừ Salmonella ở lợn tại
các cơ sở chăn nuôi.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định tình trạng thải trừ vi khuẩn Salmonella ở lợn nái sinh sản,
lợn con sau cai sữa;
4
- Giám định đặc tính sinh vật hoá học và serotype vi khuẩn Salmonella
phân lập được.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp tư liệu khoa học phục vụ công tác phòng trị bệnh do
Salmonella gây ra ở lợn con sau cai sữa;
khuẩn Kaensche (Selbizt và cs, 1995[63]).
Tất cả các bệnh do Salmonella gây ra lúc đầu được đặt tên chung là phó
thương hàn “Para-typhus”, cho đến năm 1914, có 12 loài vi khuẩn được mô tả
và xếp vào giống Salmonella.
6
Năm 1926, với những công trình nghiên cứu của White về cấu trúc
kháng nguyên của Salmonella đã bắt đầu một thời kỳ khoa học mới về giống
vi khuẩn này. Sau đó Kauffmann cũng rất thành công trong lĩnh vực nghiên
cứu về vi khuẩn Salmonella (Selbizt và cs, 1995[63]).
Năm 1934, Kauffmann và White đã thiết lập được bảng cấu trúc kháng
nguyên đầu tiên và đặt tên là bảng phân loại Kauffmann-White. Từ đó đến
nay, bảng cấu trúc kháng nguyên của Salmonella luôn luôn được bổ sung.
Năm 1993 đã có 2375 serovar Salmonella được định danh (Selbizt và cs,
1995[63]). Năm 1997, số serovar đã lên đến 3000 (Plonait và Birkhardt,
1997[57]). Như vậy, giống Salmonella luôn luôn thu hút sự chú ý của các nhà
chuyên môn trong lĩnh vực vi sinh vật.
Trước năm 1983, sự tồn tại của nhiều loài Salmonella được chấp nhận
trong phân loại. Từ đó, vì kết quả của những thí nghiệm cho thấy mức tương
đồng DNA cao, tất cả các chủng Salmonella được xếp thành một loài duy
nhất là S. Choleraesuis (Salmonella choleraesuis) (Crosa và cs, 1973[43];
Farmer, 1995[46]).
Năm 1999, tại khóa phân loại học của trung tâm Kiểm soát và phòng
ngừa dịch bệnh (CDC: Center for Diease Control and Prevention) của Hoa Kỳ
Euzéby đề nghị đặt tên các typ huyết thanh Salmonella như sau: Giống
Salmonella được chia thành 2 loài, đó là S. enterica và S. bongori. Tất cả các
type huyết thanh gây bệnh cho người và động vật đều thuộc S. enterica. Loài
S. enterica được chia nhỏ thành 6 dưới loài đó là: enterica, salamae, arizonae,
diarizonae, houterae và indica, tương ứng với số la mã: I, II, IIIa, IIIb, IV và
VI dựa trên sự tương đồng DNA và phạm vi vật chủ. Do dưới loài I có nhiều
typ huyết thanh khác nhau nên dưới loài này được phân loại đến typ huyết
8
khuẩn Salmonella có trong phân lợn là 9,9%, năm 1973 tìm thấy vi khuẩn
Salmonella trong hạch ruột là 7,3%.
Tại Nhật Bản, Asai và cs (2002)[31] cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella ở
lợn sau cai sữa bị tiêu chảy là 12,4%; lợn vỗ béo là 17,3%; lợn con theo mẹ
4,5%. Tác giả cũng cho biết S. typhimurium được phân lập thấy nhiều nhất ở
lợn sau cai sữa là 72,6%; lợn gần xuất chuồng là 73,8%.
Kishima và cs (2008)[51] đã điều tra tỷ lệ nhiễm và phân bố của vi
khuẩn Salmonella trong phân lợn khỏe mạnh bình thường trên toàn lãnh thổ
Nhật Bản giữa năm 2003 và năm 2005 là 3,1%.
Theo Barnes và Sorensen (1975)[32]; Wilcock và Schwartz (1992)
[69]: Ở lợn, cần phân biệt 2 dạng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra, đó là
bệnh phó thương hàn cấp tính ở lợn con do S. choleraesuis var kunzendorf và
bệnh viêm ruột mãn tính do S. typhimurium. Ở trâu bò, bệnh chủ yếu do các
loài S. dublin và S. entertidis gây ra. Ở cừu, do S. abortus ovis, S. montevideo,
S. dublin, S. anatum gây ra. Ở ngựa do S. abortus equi gây ra, còn ở gia cầm
và chim do S. pullorum, S. gallinarum, S. typhimurium và S. enteritidis gây
ra.
Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để
điều trị bệnh, nhất là với lợn con trước và sau cai sữa. Tuy nhiên, do việc sử
dụng rộng rãi kháng sinh để phòng và điều trị bệnh nên đã xuất hiện các
chủng vi khuẩn Salmonella kháng thuốc (Kishima và cs, 2008[51]).
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu gen kháng
kháng sinh DT104 ở vi khuẩn Salmonella. Chủng đa kháng thuốc S.
typhimurium DT104 được phát hiện lần đầu tiên ở người mắc Salmonellosis
tại Anh vào năm 1980. Sau đó được quan sát thấy cả ở người cũng như vật
nuôi trên khắp thế giới vào những năm 90 và hiện đang là mối quan ngại hàng
đầu đối với sức khỏe cộng đồng. Gen này thường xuất hiện ở các serotyp S.
9
typhimurium và ít thấy ở các serotyp khác. Một tổ hợp kháng thuốc điển hình
Lê Văn Tạo và cs (1994)[26] đã phân lập và xác định serotyp của vi
khuẩn Salmonella gây bệnh ở lợn, kết quả cho thấy: 50% các chủng phân lập
được thuộc S. choleraesuis; 12,5% S. enteritidis; 6,25% S. typhimurium và số
còn lại thuộc các serotyp khác.
Trần Xuân Hạnh (1995)[10] đã phân lập và giám định vi khuẩn
Salmonella ở lợn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả: S. typhisuis ở lợn
bệnh là 16,9%; ở lợn bình thường 6-16 tuần tuổi là 4,2%; S. paratyphi ở lợn
6-16 tuần tuổi là 2,8%. Đặc biệt, vi khuẩn S. choleraesuis chiếm 38,7% ở lợn
bệnh và 2,8% ở lợn bình thường.
Theo Phùng Quốc Chướng (1995)[2] ở Tây Nguyên, mùa khô lợn mắc
bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra là 20,03%, vụ đông là 28,66%.
Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella ở lợn mắc bệnh tiêu chảy tại 4
cơ sở chăn nuôi lợn thuộc miền Bắc nước ta của Cù Hữu Phú và cs (2000)[21]
cho biết: Tỷ lệ tìm thấy Salmonella trung bình ở lợn tiêu chảy nuôi tại 4 cơ sở
trên là 80%. Đây là điều đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi lợn ở nước ta.
Theo Nguyễn Bá Hiên (2001)[12], tỷ lệ nhiễm Salmonella ở các đàn
lợn ngoại thành Hà Nội cao nhất là lợn trên 60 ngày tuổi (88,23%), thấp nhất
là lợn từ 1-21 ngày tuổi (73,68%).
Cùng với quá trình nghiên cứu chi tiết về vi khuẩn, các biện pháp phòng
bệnh đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó có vacxin
phòng bệnh. Nguyễn Văn Lãm (1968)[14] đã tiến hành nghiên cứu chế vacxin
phó thương hàn lợn con từ chủng Salmonella chuẩn của Trung Quốc. Hiện
nay, các loại vacxin phòng bệnh phó thương hàn đã được một số công ty, xí
11
nghiệp thuốc thú y sản xuất như vacxin nhược độc chủng TS - 177, vacxin có
bổ trợ như vacxin keo phèn hay vacxin nhũ hoá có bổ trợ dầu.
Như vậy, việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella một cách toàn diện để
từ đó đề ra biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, giữ gìn vệ sinh an toàn
thực phẩm, bảo vệ sức khỏe con người là một yêu cầu rất cần thiết.
1.2. Đặc tính sinh vật hóa học của vi khuẩn Salmonella
Salmonella là vi khuẩn yếm khí tùy tiện, dễ nuôi cấy. Nhiệt độ nuôi cấy
thích hợp là 37
o
C, nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ từ 6- 42
o
C. Nuôi
cấy ở 43
o
C có thể loại trừ được tạp khuẩn mà Salmonella vẫn phát triển được
(Timoney và cs, 1988[65]). pH thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 7,6; tuy
nhiên vi khuẩn vẫn phát triển được ở pH từ 6-9.
Khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường BPW (Buffered Pepton Water)
và môi trường RV (Rappaports Vassiliadis) sau vài giờ nuôi cấy thấy môi
trường vẩn đục nhẹ, sau 18 đến 24 giờ thấy canh trùng đục đều, trên mặt môi
trường có màng mỏng, đáy ống nghiệm có cặn.
Hiện nay có rất nhiều loại môi trường chọn lọc được các nhà vi sinh vật
thú y sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phân lập Salmonella như môi
trường thạch DHL (Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose agar), sau 24 giờ
nuôi cấy vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc tròn, lồi, bóng láng (dạng S), có
màu vàng nhạt. Các chủng sinh H
2
S thì giữa khuẩn lạc có màu đen.
Môi trường thạch MacConkey: Vi khuẩn phát triển thành những khuẩn
lạc tròn lồi, trong không màu, nhẵn bóng.
Trong môi trường thạch TSI (Triple Sugar Iron), vi khuẩn Salmonella
do sản sinh alkaline nên phần thạch nghiêng có màu đỏ (pH=7,3), đáy ống
nghiệm màu vàng (pH=6,8) do vi khuẩn chỉ lên men đường Glucose. Phần
13
giữa ống nghiệm có màu đen do vi khuẩn sản sinh ra khí H
2
ánh sáng mặt trời chiếu thẳng trong 5 giờ có thể diệt được vi khuẩn (Laval,
2000[16]).
Các chất sát trùng thông thường dễ phá hủy vi khuẩn hoàn toàn như:
Phenol 5%, Formon 1/500 diệt vi khuẩn trong 15- 20 phút.
14
Theo Laval, (2000)[16], vi khuẩn Salmonella sống được lâu trong điều
kiện lạnh, chúng có thể sống trong bột thịt 8 tháng, nhưng ở điều kiện môi
trường có độ pH ≤ 5 chúng chỉ sống được trong thời gian ngắn.
Vi khuẩn Salmonella tồn tại trong chất độn chuồng tới trên 30 tuần, có
thể sống ở trong đất với độ sâu 0,5cm trong thời gian 2 tháng. Ở sàn gỗ, tường
gỗ trong điều kiện ít ánh sáng là 87 ngày, máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt
và cs, 1995[9]). Trong nước tù đọng, đồng cỏ ẩm thấp S. typhimurium có thể
tồn tại trên 7 tháng. Trong xác súc vật chết, Salmonella có thể sống trên 100
ngày, trong thịt ướp muối từ 6-8 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1970[22])
1.2.5. Một số đặc điểm dịch tễ bệnh ở vật nuôi do Salmonella gây ra
Vi khuẩn Salmonella gây bệnh cho người và vật nuôi, phân bố ở khắp
nơi trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu về cách truyền lây của vi khuẩn này
được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Một đặc điểm dịch tễ quan trọng của
Salmonella là trạng thái mang trùng và thải trùng của gia súc.
Theo Archie Hunter (2002)[13], một nguồn bệnh đặc biệt quan trọng là
gia súc mang vi khuẩn Salmonella nhưng không biểu hiện lâm sàng. Những gia
súc này có thể thải mầm bệnh ra ngoài môi trường trong vài tháng. Tác giả
cũng cho biết cách lây lan như sau: Gia súc nhiễm bệnh thải vi khuẩn
Salmonella vào trong phân và bệnh xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hay ô nhiễm
phân vào thức ăn, nước uống hay chuồng trại gia súc.
Theo Gray và cs (1995)[48], lợn nhiễm S. choleraesuis thường biểu hiện
các dấu hiệu lâm sàng từ 36-48 giờ sau khi nhiễm trùng và có 10
3
- 10
- Kháng nguyên K (K- Antigen): Kháng nguyên vỏ.
* Kháng nguyên thân O (O- Antigen)
Kháng nguyên O nằm ở thành tế bào vi khuẩn, có cấu trúc
Lipopolysaccharide (LPS) là thành phần chính cấu tạo nên lớp màng ngoài
của thành tế bào vi khuẩn Gram âm. Kháng nguyên O chịu nhiệt (Heat-stable)
16
và kháng cồn, bị biến tính khi sử lý bằng formaldehyde. Kháng nguyên O
gồm 2 nhóm chính:
- Polysaccharide không có nhóm hydro, không mang tính đặc trưng của
kháng nguyên và chỉ tạo sự khác biệt về hình thái khuẩn lạc từ dạng S (Smooth)
sang dạng R (Rough) và dẫn đến giảm độc lực của vi khuẩn (Selbitz, 1995[63]).
- Polysaccharide nằm ở ngoài có nhóm hydro quyết định tính kháng
nguyên và đặc trưng cho từng serotyp.
Kháng nguyên O được xem như là một nội độc tố (Endotoxin) mà nó
được cấu tạo bởi nhóm hỗn hợp Glyco-polypeptide có thể tìm thấy ở màng
ngoài của vỏ bọc vi khuẩn.
Theo CIRAD (2006)[40], kháng nguyên O của vi khuẩn Salmonella có
67 loại chính, được chia thành hơn 50 nhóm, số còn lại đóng vai trò phụ.
* Kháng nguyên lông H (H- Antigen)
Kháng nguyên H (H-Antigen) là protein nằm trong thành phần lông của
vi khuẩn, là loại kháng nguyên không chịu nhiệt (Heat labile), rất kém bền
vững so với kháng nguyên O, bị phá hủy ở nhiệt độ 60
o
C sau 1 giờ, dễ phá
hủy bởi cồn và axit yếu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001[27]). Kháng nguyên
H gồm có 2 pha:
- Pha 1: có tính đặc hiệu, gồm 28 loại kháng nguyên được biểu thị bằng
chữ mẫu la tinh thường: a,b,c,d, ,z.
- Pha 2: Không có tính đặc hiệu, gồm 6 loại được biểu thị bằng chữ số ả
rập: 1,2,3,4,5,6 hay la tinh thường: e,n,x,
sự thực bào của đại thực bào.
Kháng nguyên O kích thích các cơ quan đáp ứng miễn dịch hình thành
kháng thể đặc hiệu ngưng kết với kháng nguyên tương ứng. Cơ chế phòng vệ
18
này giúp cơ thể vật chủ chống lại quá trình tái xâm nhập của vi khuẩn.
Đến nay, người ta đã xác định được trên 3000 serotyp kháng nguyên O
của Salmonella, thành phần kháng nguyên của vi khuẩn S. choleraesuis gồm:
O
6
, O
7
; S. typhimurium gồm: O
1
, O
4
, O
5
, O
12
; S. enteritidis gồm: O
1
, O
9
, O
12
.
b) Kháng nguyên H
Kháng nguyên H không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng
bệnh, cũng không quyết định yếu tố độc lực, tuy vậy nó có vai trò bảo vệ cho
vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi quá trình thực bào, giúp vi khuẩn sống và nhân
lượng Ca
++
nội bào, hoạt hóa Actin Depolimeriring Enzyme, làm thay đổi cấu
trúc, hình dạng các sợi actin, biến đổi màng tế bào, dẫn đến hình thành giả túc
bao vây tế bào vi khuẩn dưới dạng các không bào chứa vi khuẩn. Sau đó
Salmonella được xâm nhập vào trong tế bào, tồn tại, tiếp tục nhân lên với số
lượng lớn, phá vỡ tế bào vật chủ, sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin), làm
xuất hiện quá trình tiêu chảy của vật chủ.
f) Khả năng kháng kháng sinh
Khi vi khuẩn có sẵn những yếu tố gây bệnh thì khả năng kháng kháng
sinh sẽ làm tăng tính gây bệnh của vi khuẩn lên gấp bội.
Việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc kháng sinh để phòng trị bệnh, kích
thích sinh trưởng của gia súc, gia cầm, đã tạo ra nhiều giống vi khuẩn có khả
năng kháng thuốc, mang plasmid kháng kháng sinh, tồn tại rất lâu trong cơ
thể người, vật nuôi và môi trường.
Khả năng kháng kháng sinh có thể thay đổi, phụ thuộc vào địa phương,
thời điểm làm kháng sinh đồ và loại vật nuôi.
Trên đây là 6 yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của vi khuẩn
Salmonella. Các yếu tố này bằng những cơ chế tác động khác nhau, phương
20
thức tác động khác nhau, đã tạo điều kiện bất lợi cho cơ thể vật chủ, đồng thời
chúng lại tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Salmonella gây bệnh. Chính vì
thế các yếu tố không phải là độc tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella. Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố
này là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng trong việc phòng chống bệnh do
vi khuẩn Salmonella gây nên.
1.2.7.2 Các yếu tố là độc tố
Nếu như các yếu tố gây bệnh không phải là độc tố là những tác nhân gián
tiếp, quan trọng trong quá trình sinh bệnh của vi khuẩn Salmonella, thì các yếu
tố gây bệnh là độc tố lại là tác nhân trực tiếp quyết định quá trình sinh bệnh.
năng thẩm xuất chậm từ 18- 24 giờ, có thể kéo dài 36-48 giờ. DPF bị phá hủy ở
70
o
C trong vòng 30 phút và ở 56
o
C trong vòng 4 giờ. Cấu trúc phân tử gồm 3
chuỗi polypeptide và một số hợp chất khác, phân tử lượng 40.000- 50.000 dalton.
Độc tố thẩm xuất chậm của Salmonella làm thay đổi quá trình trao đổi
nước và chất điện giải, dẫn đến tăng cường bài xuất nước và chất điện giải từ
mô bào vào lòng ruột, cản trở sự hấp thu, gây thoái hóa lớp tế bào villi của
thành ruột gây tiêu chảy.
Đỗ Trung Cứ và cs (2003)[4] đã kết luận: 81,81% số chủng S.
typhimurium phân lập từ lợn mắc bệnh tiêu chảy sản sinh độc tố không chịu
nhiệt (LT) có khả năng gây tích nước trong ruột non của lợn thí nghiệm.
b, Nội độc tố (Endotoxin)
Nội độc tố nằm ở lớp màng ngoài của tế bào vi khuẩn và được cấu tạo
bởi thành phần cơ bản là Lipopolysaccharide (LPS). LPS có cấu tạo phân tử
lớn, gồm 3 vùng riêng biệt với các đặc tính và chức năng riêng biệt: Vùng ưa
nước, vùng lõi và vùng lipit A.
Vùng ưa nước bao gồm một chuỗi Polysaccharide chứa các đơn vị cấu
trúc kháng nguyên O. Vùng lõi có bản chất là acid heterooligosaccharide, ở
trung tâm, nối kháng nguyên O với vùng lipit A.
Vùng lipit A đảm nhận chức năng nội độc tố của vi khuẩn. Cấu trúc nội độc
stố gần giống với cấu trúc của kháng nguyên O. Cấu trúc nội độc tố biến đổi sẽ
dẫn đến sự thay đổi độc lực của Salmonella. Các đột biến gen ở vùng lõi, vùng ưa
22
nước làm cho Salmonella không còn độc lực (Trần Quang Diên, 2002[7]).
Lipit A có ái lực với màng tế bào, với lipit khác và với Protein. Điều đó
chứng tỏ lipit A chính là trung tâm hoạt động của nội độc tố. Vùng đa đường
Polysaccharide, chỉ giữ vai trò là vật mang các lipit không hòa tan (Bradley,
dublin, S. gallinarum, S. pullorum có mang các plasmid có kích thước lớn
(khoảng từ 50-100 kb). Chính những plasmid này có mang các yếu tố di
truyền quyết định khả năng sản sinh các yếu tố độc lực gây bệnh cho người và
gia súc với tỷ lệ ốm và chết cao (Krause và Fang, 1995[52]).
1.3. Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn
1.3.1. Đặc tính sinh bệnh
Theo Quinn và cs (2002)[58], sự lây truyền Salmonella thường qua con
đường tiêu hóa, một số trường hợp nhiễm trùng qua niêm mạc, kết mạc mắt
và đường hô hấp trên cũng có khả năng xảy ra.
Cũng theo Quinn và cs (2002)[58], Salmonella cần xâm nhập vào ruột
non và kết tràng để gây bệnh đường ruột. Tuy nhiên, những axit hữu cơ bay
hơi được sản sinh bởi hệ vi sinh vật yếm khí bình thường trong đường ruột có
khả năng ức chế sự phát triển của Salmonella. Hệ vi sinh vật hiếu khí bình
thường cũng có thể ngăn cản việc tiếp xúc với các vị trí bám gắn cần cho loài
Salmonella. Sự rối loạn của hệ vi sinh vật do các yếu tố như: Dùng kháng
sinh, khẩu phần ăn, mất nước làm tăng khả năng mẫn cảm của vật chủ với sự
nhiễm trùng. Nhu động ruột giảm, stress do vận chuyển và chật chội cũng tạo
điều kiện cho sự xâm nhập đường ruột của Salmonella.
Mầm bệnh sau khi nhiễm vào đường tiêu hoá, nhanh chóng đi vào hệ lâm
ba của ruột gây viêm sưng hạch, từ đó vào hệ tuần hoàn, gây bại huyết, làm
cho lá lách sưng to, lúc đầu do tụ máu, về sau do tăng sinh, sản sinh nội độc
24
tố, gây viêm hoại tử gan và hạch.
Bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn có 2 dạng chủ yếu: Thể nhiễm
trùng huyết do S. choleraesuis var kunzendorf gây ra và thể viêm ruột do S.
typhimurium.
1.3.2. Thể nhiễm trùng huyết do S. choleraesuis var kunzendorf gây ra
Bệnh Phó thương hàn lợn thể nhiễm trùng máu xảy ra chủ yếu ở lợn
sau cai sữa do S. choleraesuis var Kunzendorf gây nên (Laval, 2000[16]).
Lợn bệnh bỏ ăn, ủ rũ, thích nằm tập trung lại với nhau ở góc chuồng tối
Lưới nội mô và hạch bạch huyết tăng trưởng; hoại tử điểm trắng ở gan;
xuất huyết và hoại tử ở hạch bạch huyết của màng treo ruột, màng phổi, màng
bụng, màng bao tim, thận và màng não lấm tấm xuất huyết (Trương Văn
Dung và Yoshihara Shinobu, 2002[8]).
Theo Wilcock (1995)[70], dấu hiệu biến đổi bệnh tích vi thể do
Salmonella gây ra là ở hạch lympho màng treo ruột: Sưng, xung huyết, xuất
huyết và có điểm hoại tử màu xám, trên bề mặt gan thấy xuất hiện điểm hoại
tử mô bào. Những biến đổi bệnh tích vi thể ở lợn do Salmonella gây ra là
không hề trùng lặp với bất cứ bệnh nào khác ở lợn.
* Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh phó thương hàn thể nhiễm trùng máu do S. choleraesuis
var Kunzendorf gây nên không thể chỉ dựa trên các triệu chứng lâm sàng đơn lẻ,
vì các triệu chứng lâm sàng của bệnh giống như nhiều triệu chứng nhiễm trùng
khác ở lợn như bệnh nhiễm trùng do Streptoccocus, bệnh Đóng dấu lợn…
1.3.3. Thể viêm ruột do S. typhimurium
Bệnh Phó thương hàn thể viêm ruột thường do các serotyp S.
typhimurium gây ra ở lợn con từ sau cai sữa đến khoảng 4-6 tháng tuổi. Các
thể bệnh hay gặp là cấp tính hoặc mãn tính (Laval, 2000[16]).
* Triệu chứng
Thời kỳ nung bệnh thường từ 3-4 ngày. Một trong những triệu chứng
đầu tiên là ỉa chảy, phân dạng nước màu vàng, lẫn máu và chất nhầy.