nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (ascariosis) tại một số địa phương thuộc tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƢƠNG THỊ THU TRANG

NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN ĐŨA LỢN (ASCARIOSIS)
TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ Chuyên ngành: Thú Y
Mã số: 60 62 50 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
trong những ngành chăn nuôi chủ lực trong sản xuất nông nghiệp”.
Với vai trò cung cấp lƣợng thực phẩm lớn nhất cho con ngƣời, thịt lợn
luôn chiếm tỷ lệ cao từ 76 - 77% tổng sản lƣợng thịt các loại trong cả nƣớc,
Nguyễn Thanh Sơn và Phạm Văn Duy (2010) [75] cho biết: Theo ƣớc tính
của Cục chăn nuôi, mỗi tháng cả nƣớc ta sản xuất và tiêu thụ khoảng 290 -
300 nghìn tấn thịt lợn hơi. Năm 2009 tổng sản lƣợng thịt hơi xuất chuồng
trong cả nƣớc là 2,93 triệu tấn. Dự báo, tổng sản lƣợng này trong 6 tháng đầu
năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm 2009.
Nhận thấy vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với con
ngƣời và xã hội, Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008) [1], đã định hƣớng phát
triển đàn lợn ở Việt Nam nhƣ sau: “Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn lợn của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
Việt Nam đạt 32,9 triệu con và đến năm 2020 đạt 34,7 triệu con. Tổng sản
lƣợng thịt hơi xuất chuồng đến năm 2015 đạt 3,9 triệu tấn và con số này sẽ
tăng lên 4,8 triệu tấn năm 2020”
Mặc dù đƣợc coi là một trong những ngành chủ lực của sản xuất nông
nghiệp nhƣng chăn nuôi lợn vẫn gặp không ít khó khăn, những khó khăn mà
ngành chăn nuôi lợn gặp phải đó chính là việc quản lý chất lƣợng thức ăn,
chất lƣợng thuốc thú y lƣu thông trên thị trƣờng cũng nhƣ quản lý con giống.
Những hạn chế này ảnh hƣởng không nhỏ đến phát triển chăn nuôi lợn. Ngoài
những khó khăn kể trên, sản xuất chăn nuôi lợn ở nƣớc ta hiện nay còn chịu
ảnh hƣởng rất lớn từ thị trƣờng quốc tế nhất là khi nƣớc ta chính thức ra nhập
WTO (Theo Vũ Đình Tôn, 2009 [59]).
Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là nỗi lo ngại lớn nhất của ngƣời chăn nuôi vì
bệnh tật làm cho con vật giảm khả năng sinh trƣởng, phát triển, giảm sức đề
kháng và làm giảm hiệu quả kinh tế. Đứng trƣớc vấn đề dịch bệnh, các trại

đũa ở lợn, từ đó có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun
đũa cho lợn có hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn của tỉnh
Thái Nguyên phát triển.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin
khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại một số địa phƣơng
thuộc tỉnh Thái Nguyên, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng giun đũa
ở ngoại cảnh, về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh, về biện pháp phòng trị
bệnh có hiệu quả.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh giun
đũa lợn có hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun đũa cho lợn, từ đó hạn chế những
thiệt hại do bệnh gây ra.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa Ascaris suum
1.1.1.1. Vị trí của giun đũa Ascaris suum trong hệ thống phân loại động vật
Giun đũa lợn là những giun tròn thuộc họ Ascarididae (bộ phụ
Ascaridata), loài Ascaris suum. Chúng ký sinh và gây bệnh giun đũa ở lợn.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [61], giun đũa lợn Ascaris suum có vị
trí trong hệ thống phân loại động vật nhƣ sau:
Lớp: Nematoda Rudolphi,1808
Phân lớp: Secernenea Linstow, 1905
Bộ: Spirurida Chitwood,1933
Phân bộ: Ascaridata Skrjabin et Schulz, 1940

Hình 1.1. Ảnh cấu tạo môi giun đũa lợn, đuôi giun đũa đực
(Nguồn: Phạm Văn Khuê, 1996 [19])
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [51], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [9]
giun đũa lợn có hình thái, kích thƣớc nhƣ sau:
Giun đũa thân dài, hình trụ, hai đầu thót mầu trắng sữa, thân cứng và
đàn hồi. Chóp đầu mang ba môi, bờ môi có răng cƣa rất nhỏ, môi bọc lấy
miệng, một môi ở phía lƣng, đáy môi có hai gai thịt; hai môi kia ở giữa phía
cạnh và bụng và chỉ có một gai thịt.
Con đực dài 15 - 20 cm, đƣờng kính từ 3,2 - 4,4 mm. Đoạn đuôi cong
về phía bụng mang hai gai giao hợp ngắn, bằng nhau, hơi cong. Trên mặt
bụng ở mỗi bên có từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt
xếp trên một hoặc hai hàng, một gai thịt lẻ ở trƣớc hậu môn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
Con cái dài từ 20 - 30 cm, đƣờng kính từ 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng.
Đuôi mang hậu môn về phía bụng (ở gần chóp đuôi). Hậu môn có hình dạng
một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên. Âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình
bầu dục, gần về phía bụng khoảng một phần ba đoạn trƣớc thân, ngang một
vùng có một cái vòng thắt lại một chút (gọi là thắt lƣng).
7
Đào Trọng Đạt và cs (1995) [8] cho biết: Trứng giun đũa có hình bầu
dục hoặc oval, vỏ dầy, bề mặt nhăn nheo, mầu vàng, trong có nhân mầu vàng
thẫm. Kích thƣớc 45 - 85 x 35 - 55

m. Vỏ trứng giun đũa có tác dụng phòng
vệ cao trong vòng đời phát triển của giun. Vỏ trứng đƣợc chia thành 3 lớp cơ
bản: một lớp noãn hoàng bên ngoài, một lớp kitin ở giữa và một lớp lipid ở
trong. Lớp lipid bên trong có tác giả gọi là màng noãn hoàng và lớp noãn
hoàng thực sự là màng bên ngoài cùng. Ở Ascaris còn có một lớp uterine ở
bên ngoài lắng trên trứng, lớp này cũng đƣợc gọi là lớp protein, nó có một
phức hợp protein acid - mucopolysaccharide. Lớp noãn hoàng bên ngoài của
Ascaris dầy khoảng 0,05

m và là lipo - protein. Lớp kitin ở giữa chứa chất
kitin, thành phần khác nhau tuỳ loài. Ở họ Ascaroides và Oxyuroidea lớp này
phần lớn là kitin ít protein. Song ở Trichuis và Calpillaria lại có nhiều protein
ít kitin. Lớp lipid (bên trong) là proteolipid có một lƣợng lớn ascaroside
esters, chắc chắn nó có vai trò trong sự đề kháng của trứng với các điều kiện
môi trƣờng khắc nghiệt với các hoá chất.
Hình 1.3. Ảnh trứng giun đũa lợn Ascarris suum

ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít chui vào ống
lâm ba màng treo ruột rồi vào gan. Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu
trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ và muộn nhất là sau 12 ngày
vẫn có ấu trùng vào phổi. Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III.
Ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản, và cùng với
niêm dịch ấu trùng lên hầu rồi xuống ruột non, lột xác lần nữa thành giun
trƣởng thành. Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần. Trong khi di hành một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
số ấu trùng vào một vài khí quan khác nhƣ lách, tuyến giáp trạng, não hoàn
thành vòng đời cần 54 - 62 ngày (Lƣơng Văn Huấn và cs, 1997 [14]; Nguyễn
Thị Kim Lan và cs, 1999 [21]).
Đào Trọng Đạt và cs (1995) [8], đã nghiên cứu và bổ sung chi tiết hơn
chu kỳ sinh học của A.suum: Sau khi nuốt trứng có ấu trùng, trứng nở dƣới
ảnh hƣởng của một số yếu tố ở ruột (đặc biệt là áp lực CO
2
). CO
2
thâm nhập
nhanh qua nhiều màng và tế bào, tác động vào cơ quan nhận cảm, cơ quan
nhận cảm kích thích neurosecretion tiết ra các men tham gia vào quá trình nở.
Phần lớn trứng nở ở tá tràng nhƣng một số ở dạ dày. Sau khi có kích thích nở,
một dịch chứa ít nhất 2 men chitinase và esterase đƣợc tiết ra. Những men này
tác động vào vỏ kitin và lipid của màng trứng và giúp cho ấu trùng thoát ra
ngoài hoặc ở giai đoạn 2 (đã lột xác một lần trong trứng) hoặc vẫn còn lớp vỏ
ở giai đoạn 1. Ấu trùng này rất nhỏ, chúng lách qua những tế bào của vách
ruột mà theo đƣờng máu về gan và ở gan vài ngày, lột xác thành ấu trùng kỳ

ngày ở nhiệt độ 24 - 25
0
C.
Trứng giun đũa lợn khi thải qua phân chƣa có phôi thai. Trứng tiếp tục
phát triển phụ thuộc vào áp lực oxy, ẩm độ, nhiệt độ môi trƣờng. Ở nhiệt độ
22 - 33
0
C trong vòng 9 - 13 ngày tế bào trứng phát triển thành ấu trùng nằm
cuộn tròn trong trứng (Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [9]).
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [19], nhiệt độ thích hợp cho trứng
phát triển là 25
0
C, khi nhiệt độ xuống thấp (12
0
C) trứng phát triển chậm.
Trứng ở sâu 3 m, nhiệt độ đất trong khoảng 26 - 33
0
C, độ ẩm đất từ 9,5 - 19%
thì 89% trứng phát triển. Trứng ngừng phát triển ở điều kiện nhiệt độ và độ
ẩm đất thấp (-4,8
0
C đến -13,4
0
C và 6,3 - 17%).
Nghiên cứu về điều kiện thích hợp cho trứng phát triển thành trứng có
sức gây bệnh, tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) [26] cho biết: Điều kiện
nhiệt độ để trứng phát triển là 15 đến 35
0
C nhƣng điều kiện thích hợp nhất
cho trứng phát triển là 30 đến 33

giun đũa phát triển thành phôi thai bình thƣờng trong dung dịch phormol 2%,
acid acetic và lactic 20%. Tuy nhiên, dƣới ánh sáng mặt trời trực tiếp trứng
chết trong một vài tuần, bị phá huỷ trong NaOH 10% ở 70
0
C trong vòng 15 -
20 phút, vỏ kitin của trứng có thể bị dung giải bởi acid piric đặc và formalin
10% làm cho trứng không nở và ấu trùng trở nên không gây nhiễm.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [19], trứng giun đũa có sức đề
kháng mạnh với một số chất hoá học nhƣ creolin 3%, dung dịch bão hoà
sulfat đồng, axit sunfuric 10%, hypochlorit canxi 10% không diệt đƣợc trứng,
song, vào mùa hè ánh nắng chiếu trực tiếp lên đất cát thì trứng bị chết nhanh.
Trứng cần oxy để phát triển trong môi trƣờng yếm khí, nếu thiếu oxy trứng
không phát triển đƣợc nhƣng vẫn duy trì sức sống, vì thế trứng sống đƣợc một
thời gian ở nƣớc bẩn hoặc ở môi trƣờng thiếu oxy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12
Trứng giun đũa cũng có thể bị chết khi gặp một trong ba điều kiện sau:
Độ ẩm quá thấp; độ ẩm quá thấp và nhiệt độ cao; độ ẩm và nhiệt độ cao. Khi
nhiệt độ 45 - 50
0
C trứng chết trong nửa giờ. Và ở nhiệt độ từ 66
0
C trở lên
trứng giun đũa rất dễ bị chết (Bùi Quý Huy, 2006 [12]). Chính vì vậy mà việc
ủ phân để tăng nhiệt độ trong đống phân sẽ diệt hết trứng giun đũa.
Theo quan điểm của Lƣơng Văn Huấn và Lê Hữu Khƣơng (1997) [14],
thì trứng giun A.suum có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh. Trứng có

diệt trứng của các chất hoá học ở ba giai đoạn phát triển của trứng (trứng chƣa
phân chia, trứng hình thành ấu trùng kỳ I, trứng hình thành ấu trùng xâm
nhiễm). Kết quả cho thấy:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
- Nuôi trứng trong môi trƣờng là acid vô cơ mạnh (acid sunfuric, nitric,
photphoric, clohidric) với nồng độ 10% trứng đều có thể phát triển đến giai
đoạn xâm nhiễm, vỏ trứng không bị phá hoại. Còn nếu nuôi trứng trong môi
trƣờng acid hữu cơ vỏ kitin của trứng không bị ảnh hƣởng và trứng có thể
phát triển trong dung dịch 20% của các loại acid này.
- Trứng giun đũa có sức đề kháng mạnh với các loại bazơ nhƣ NaOH,
Ca(OH)
2
. Nuôi trứng trong dung dịch NaOH 10% chỉ thấy lớp vỏ ngoài cùng
tan đi làm mất vỏ sần sùi bên ngoài, khi nâng nhiệt độ lên 70
0
C thì hiệu lực
các bazơ tăng và làm trứng chết sau 15 - 20 phút.
- Các chất sát trùng và oxy hoá mạnh: Lizon là chất có khả năng diệt
trứng cao, trứng ở giai đoạn chƣa phân chia chỉ cần nồng độ 2 phần vạn tác
động trong 15 - 20 phút là tiêu diệt đƣợc hết. Trứng có ấu trùng xâm nhiễm, khi
xử lý với nồng độ nhƣ trên sau 45 phút thì trứng mất khả năng xâm nhiễm động
vật thí nghiệm. Hipoclorit natri (HClONa) nồng độ 10% trở lên làm trứng bị
dung giải, và ở nồng độ 5%, điều chỉnh về pH = 6 thì trứng chết sau 60 phút.
Nhƣ vậy, tổng hợp các nghiên cứu của nhiều tác giả về sức đề kháng
của trứng giun đũa chúng tôi nhận thấy: Trứng giun đũa có sức đề kháng
mạnh với nhiều chất hoá học nhƣng lại rất dễ bị tiêu diệt bởi sức nóng.

không cao. Điều đó chứng tỏ giun đũa ở lợn và ở ngƣời là khác loài và không
có liên quan trực tiếp.
Về hình thể hai loài giun đũa lợn và giun đũa ngƣời đều có màu trắng
sữa hoặc màu trắng hồng, giun đũa lợn dài hơn giun đũa ngƣời nhƣng đƣờng
kính của giun đũa lợn lại nhỏ hơn so với giun đũa ngƣời (Hoàng Văn Tân và
cs, 2006 [44]).
Phạm Văn Khuê (1982) [17] cho biết: Giun đũa lợn có khả năng lây
truyền giữa lợn và ngƣời.
Nghiên cứu về hai loài giun đũa này, tác giả Bùi Quý Huy (2006) [12]
cho biết: Giun đũa lợn A.suum có nhiều đặc điểm hình thái, cấu tạo kháng
nguyên tƣơng tự giun đũa ngƣời A.lumbricoides. Sự di chuyển của hai loài này
cũng giống nhau: Gan - phổi - ruột non. Do những đặc điểm trên nên bệnh giun

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
đũa lợn có thể truyền sang ngƣời nhƣng hiếm thấy giun đũa lợn phát triển
thành giun trƣởng thành trong ruột non ngƣời. Tuy nhiên, ngƣời nhiễm ấu
trùng giun đũa lợn thì khá phổ biến, gây lên hội chứng Loeffler và các phản
ứng tăng dị ứng của cơ thể với các triệu chứng đặc trƣng thở khò khè, ho, sốt,
tăng bạch cầu ƣa eosin trong máu.
1.1.2. Bệnh giun đũa lợn (Ascariosis)
1.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do giun đũa gây ra
Theo Lƣơng Văn Huấn (1998) [15], ở Việt Nam lợn nhiễm giun sán nói
chung làm giảm tăng trọng từ 1 - 3 kg/con/tháng.
Bệnh giun đũa lợn là bệnh nội ký sinh trùng quan trọng nhất, gây nhiều
tổn thất cho chăn nuôi lợn do làm lợn chậm lớn, giảm trọng lƣợng, có tỷ lệ lợn
chết và tổn thƣơng gan, bệnh là tiền đề gây bội nhiễm hàng loạt bệnh truyền
nhiễm đƣờng tiêu hoá và hô hấp ở lợn (Nguyễn Hữu Vũ và cs, 2002 [63])

2+

làm cho gia súc bị co giật, mềm, còi xƣơng.
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [23], (2009)
[25], giun đũa A.suum là nguyên nhân gây tiêu chảy cho đàn lợn nuôi ở một số
địa phƣơng của tỉnh Thái Nguyên. Lợn bị tiêu chảy nhiễm giun đũa nhiều hơn và
nặng hơn rõ rệt so với lợn phân bình thƣờng.
1.1.2.2. Dịch tễ học bệnh giun đũa lợn
* Phân bố bệnh giun đũa lợn
Theo Bùi Quý Huy (2006) [12], bệnh giun đũa lợn phổ biến ở khắp mọi
nơi trên thế giới, nhƣng nhiều nhất ở các nƣớc có khí hậu nóng ẩm, tỷ lệ mắc
bệnh có thể tới 80 - 90%.
Ở nƣớc ta, điều tra ở các nông trƣờng quốc doanh, lợn nuôi tập trung
hay nuôi tại các nông hộ, lợn ở miền núi, trung du, đồng bằng đều nhiễm giun
đũa. Nguyên nhân là do khí hậu nƣớc ta nóng ẩm, thuận lợi cho trứng giun
phát triển, mặt khác vệ sinh thú y ở các cơ sở chăn nuôi chƣa tốt, chƣa ủ phân,
bón phân tƣơi vào ruộng trồng thức ăn cho lợn.
Theo Lƣơng Văn Huấn và Lê Hữu Khƣơng (1997) [14], bệnh giun đũa
lợn phân bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về bệnh giun đũa lợn của các tác giả
trong nƣớc cho thấy: Bệnh giun đũa lợn phân bố rộng khắp trong cả nƣớc
(Trịnh Văn Thịnh, 1963 [50]; Phan Thế Việt, 1977 [61]; Bùi Lập, 1979 [33];
Phạm Văn Khuê, 1982 [17]; Phạm Văn Chức (1986) [3], [4]; Lƣơng Văn
Huấn, 1995 [13]; Nguyễn Đăng Khải, 1996 [20]; Vũ Tứ Mỹ, 1999 [40]).
* Động vật mắc bệnh

Nhƣ vậy, lợn ở mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm giun đũa, lợn đang
trong thời kỳ sinh trƣởng mạnh dễ bị bệnh giun đũa và bệnh phát triển nhanh
hơn, nặng hơn so với lợn trƣởng thành (nhiễm với tỷ lệ cao và nặng nhất là ở
tháng thứ 4). Lợn trên 1 năm tuổi mắc giun đũa biểu hiện lâm sàng ít hơn,
hoặc không biểu hiện lâm sàng, song chúng là động vật mang trùng và là
nguồn bệnh nguy hiểm đối với lợn con.
* Về tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở lợn
Phạm Văn Khuê (1982) [17], đã công bố về tỷ lệ nhiễm A.suum ở lợn
vùng đồng bằng Sông Hồng là khá cao với tỷ lệ nhiễm trung bình là 35,3%.
Nghiên cứu ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, tác giả Lƣơng Văn
Huấn (1995) [13] cho biết: Tình hình nhiễm giun sán của lợn là 87,8% trong
đó A.suum là 64,30%.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [19], Phan Địch Lân và cs
(2005) [32], tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun đũa qua mổ khám nhƣ sau:
- Nghĩa Lộ 43,5% Cƣờng độ nhiễm trung bình 5,4 giun
- Quảng Ninh 26,65% Cƣờng độ nhiễm trung bình 4,5 giun
- Hà Bắc 42,1% Cƣờng độ nhiễm trung bình 9,2 giun
- Thanh Hoá 13,2% Cƣờng độ nhiễm trung bình 3,0 giun
- Hải Hƣng 40,5% Cƣờng độ nhiễm trung bình 4,8 giun
- Nam Hà 33,3% Cƣờng độ nhiễm trung bình 21,5 giun
- Hà Tĩnh 43,6% Cƣờng độ nhiễm trung bình 5,9 giun
Lƣơng Văn Huấn (1998) [15] cho biết: Qua mổ khám 891 lợn thuộc 4
lứa tuổi và xét nghiệm phân của 5.044 lợn thuộc 12 tỉnh thành phía Nam cho
thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn là 53%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19
Nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán trên đàn lợn tỉnh Thái Nguyên

Chuồng trại, phương thức chăn nuôi, thức ăn dinh dưỡng
Nghiên cứu về ảnh hƣởng của phƣơng thức chăn nuôi đến tỷ lệ nhiễm
giun đũa, Lƣơng Văn Huấn và Lê Hữu Khƣơng (1997) [14] cho biết: Lợn chăn
nuôi theo hƣớng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình.
Thức ăn dinh dƣỡng cũng có ảnh hƣởng nhất định đến sự nhiễm giun
sán ở lợn. Nghiên cứu về vấn đề này, Trịnh Văn Thịnh (1963) [50], (1985)
[56] cho biết: Ăn thiếu và vệ sinh thú y kém làm tăng rõ rệt tỷ lệ cảm nhiễm
giun đũa (từ 3,5% đến 5,8%, thậm chí có thể tăng đến 27%) đối với cùng
giống và cùng tuổi lợn. Do vậy, tăng cƣờng chăm sóc, nuôi dƣỡng cũng là
một trong những biện pháp hữu hiệu phòng chống bệnh giun đũa ở lợn.
- Ngoài ra các yếu tố stress cũng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ
phát triển bệnh giun sán. Các yếu tố này bao gồm: chuồng trại chật chội, thức
ăn kém dinh dƣỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trƣờng thay đổi đột ngột
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh thải trứng theo phân ra ngoại cảnh. Ở ngoại cảnh những
trứng này đƣợc phát tán rộng rãi và bắt đầu quá trình phát triển để trở thành
trứng giun đũa có sức gây bệnh.
* Con đường lây nhiễm của bệnh giun đũa lợn
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [19]; Nguyễn Thị Kim Lan
và cs (1999) [21], thì sự truyền lây bệnh giun đũa nhƣ sau:
+ Lây nhiễm trực tiếp: lợn bệnh bài xuất trứng giun đũa qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống. Vì vậy lợn
khoẻ dễ dàng bị nhiễm trứng giun đũa. Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa lợn
bệnh và lợn khoẻ trong cùng một ô chuồng. Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi
bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ.
+ Lây nhiễm gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, ngƣời chăm sóc cũng là tác
nhân mang mầm bệnh. Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm giun
đũa từ lợn bệnh sang lợn khoẻ từ ô chuồng này sang ô chuồng khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về biểu hiện lâm sàng của lợn bị
bệnh giun đũa. Về lâm sàng của bệnh giun đũa lợn, các tác giả đều thấy: súc
vật non thƣờng phát bệnh ở thể cấp tính (giai đoạn từ 1 - 4 tháng tuổi), súc vật
trƣởng thành và súc vật già thì bệnh thƣờng ở thể mãn tính. Thể bệnh nặng
thể hiện viêm ruột, đau bụng, ỉa chảy, đặc biệt là gầy yếu, suy nhƣợc, còi cọc
và thiếu máu. Đôi khi giun đũa chọc thủng ruột rơi vào xoang bụng gây chết đột
ngột hoặc viêm phúc mạc cấp. Thể mãn tính cũng thể hiện các triệu chứng trên
nhƣng không rõ rệt. (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [21]; Phan Địch Lân và
cs, 2005 [32]; Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài, 2006 [28], Phạm Sỹ Lăng và cs,
2007 [29]).
Một số tác giả cho biết, lợn bị bệnh giun đũa cũng giống nhƣ mắc các
bệnh ký sinh trùng khác nói chung có sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý máu.
Theo các tác giả, lợn bị bệnh ký sinh trùng thì số lƣợng hồng cầu giảm, hàm
lƣợng huyết sắc tố giảm, tăng bạch cầu eosin, giảm bạch cầu trung tính. (Trịnh
Văn Thịnh, 1968 [52]; Soulsby E.J.L, 1982 [70]; Cao Văn và cs, 2003 [60]).
Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun đũa, Trịnh Văn
Thịnh (1968) [52] cho biết thêm: Về phƣơng diện bệnh lý, ngƣời ta chia bệnh
giun đũa lợn thành hai thể bệnh: Thể thông thƣờng và thể đặc biệt. Cụ thể:
Thể bệnh thông thường: Thể hiện ở 4 loại triệu chứng sau đây
- Ỉa chảy không mạnh nhƣng hay lặp lại, có biểu hiện đau bụng
- Lợn gầy yếu, lông xù, dáng điệu lờ đờ, chậm lớn, còi cọc, gầy rạc
- Một vài con bị co giật nhƣ động kinh
- Một vài con nổi những mụn mủ, hay mụn nƣớc ngoài da, sau từ 5 - 6
ngày những mụn này khô đi và thành vẩy.
Thể bệnh đặc biệt: Gọi là thể bệnh đặc biệt vì ít thấy, nhƣng đã bị thì

với giun sán là hạn chế sự phát dục của giun sán, rút ngắn thời gian ký sinh.
Khi nhiễm ấu trùng giun đũa, cơ thể lợn hình thành trạng thái miễn
dịch. Miễn dịch giun đũa là miễn dịch mang trùng.
Nghiên cứu về những nhân tố ảnh hƣởng đến sức miễn dịch của cơ thể,
trong đó có ảnh hƣởng của tuổi đến sức miễn dịch, Trịnh Văn Thịnh (1963) [50]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24
cho biết: Ở nƣớc ta nghé và lợn con mắc bệnh giun đũa với tỷ lệ nhiều hơn và
nặng hơn. Đến ngoài 2 tháng tuổi nghé đã bắt đầu có miễn dịch với Neoascaris
vitulorum, trong khi đó, lợn phải đến ngoài 6 tháng tuổi mới có một phần sức
chống đỡ với Ascaris suum.
Theo Đào Trọng Đạt (1995) [8], (1996) [9], ở lợn, miễn dịch bị động
qua nhau thai chỉ phòng vệ đƣợc 3 tuần lễ đầu. Chỉ lợn từ 2 - 5 tháng tuổi có
dấu hiệu lâm sàng của nhiễm A.suum, lợn già chịu đựng với giun tốt hơn và
ngăn cản sự di hành của ấu trùng. Do đó nó không nhiễm hoặc nhiễm mức độ
thấp và không có triệu chứng lâm sàng.
Ấu trùng A.suum có hoạt tính kháng nguyên cao hơn giun trƣởng thành.
Các kháng nguyên bề mặt ấu trùng có thể gắn với một loạt kháng thể của ký
chủ khác nhau. Các ấu trùng non (16 - 25 giờ sau khi nhiễm) có thể bị phủ
protein của ký chủ, do đó, bằng cách giảm hoạt tính, nó đã thực hiện đƣợc bƣớc
đầu xâm nhiễm vào ký chủ, sau 48 - 72 giờ các tế bào bạch cầu hạt kết dính
vào bề mặt ấu trùng đã đƣợc phủ và mất hạt, tạo nên một môi trƣờng có hại cho
ấu trùng. Giai đoạn lột xác ấu trùng 2 thành ấu trùng 3 cũng là thời gian dung
giải kháng nguyên. Ở lợn đã đƣợc miễn dịch, đa số ấu trùng chết trong gan.
Hiện nay, áp dụng những thành tựu về miễn dịch học, ngƣời ta đã chế
tạo đƣợc các vắc xin chống các loại giun sán nhƣ: Dictyocaulus, Ascaris,
Haemonchus, Moniezia, Echinococcus, Ancylostoma Hiệu lực miễn dịch của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status