ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN ĐŨA LỢN (ASCARIOSIS)
TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: Thú Y
Mã số: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS. NGUYỄN VĂN QUANG
2. PGS. TS. NGUYỄN THỊ KIM LAN
THÁI NGUYÊN - 2010
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trương Thị Thu Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..............................................................xii
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ..........................................................xii
1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa Ascaris suum.............................. xii
1.1.2. Bệnh giun đũa lợn (Ascariosis)................................................... xxiii
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH GIUN ĐŨA LỢN ................. xxxviii
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.............................................. xxxviii
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước .................................................. xli
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................xliii
2.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ....................... xliii
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................... xliii
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................... xliii
2.1.3. Thời gian nghiên cứu ................................................................... xliii
2.2. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ................................................................... xliii
2.2.1. Mẫu nghiên cứu............................................................................ xliii
2.2.2. Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm................................................... xliv
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ..................................................................xliv
2.3.1. Một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa lợn (Ascariosis)............. xliv
2.3.2. Nghiên cứu bệnh giun đũa lợn (Ascariosis)...................................xlv
2.3.3. Biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho lợn ...................................xlv
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................................................xlv
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu.....................................................................xlv
2.4.2. Phương pháp xét nghiệm mẫu...................................................... xlvi
2.4.3. Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng
3.2.4. Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn bị bệnh giun đũa .xciii
3.2.5. Xác định mối tương quan giữa số lượng giun đũa ký sinh ở lợn
và số trứng giun đũa trong một gam phân.....................................xcix
3.3. BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH GIUN ĐŨA CHO LỢN.................ci
KẾT LUẬN..................................................................................................... cvi
1. Kết luận................................................................................................... cvi
2. Đề nghị...................................................................................................cvii
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ cviii
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
-
: Đến
%
: Tỷ lệ phần trăm
≤
: Nhỏ hơn hoặc bằng
: Vệ sinh thú y
CN
: Công nghiệp
TT
: Truyền thống
Đ- X
: Đông - Xuân
H- T
: Hè - Thu
TGN
: Trước gây nhiễm
SGN
: Sau gây nhiễm
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.2. Ảnh giun đũa lợn............................................................................ xiv
Hình 1.3. Ảnh trứng giun đũa lợn Ascarris suum........................................... xv
Hình 2.1. Ảnh mẫu phân để tự nhiên ở nhiệt độ và ẩm độ không khí bình thường xlviii
Hình 2.2. Ảnh mẫu phân được bổ sung nước hàng ngày để duy trì ướt nhão ..xlix
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm gây nhiễm giun đũa cho lợn......................... l
Hình 2.4. Ảnh gây nhiễm giun đũa cho lợn ....................................................... l
Hình 2.5. Ảnh thí nghiệm gây nhiễm giun đũa cho lợn....................................li
Hình 2.6. Ảnh các thuốc dùng tẩy giun đũa ở lợn ..........................................liv
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh
Thái Nguyên ....................................................................................lix
Hình 3.2 Biểu đồ cường độ nhiễm giun đũa lợn tại các địa phương ............... lx
Hình 3.3. Ảnh mẫu phân lợn nhiễm giun đũa nặng ........................................lxi
Hình 3.4. Đồ thị tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo tuổi .....................................lxiv
Hình 3.5. Đồ thị tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y ....lxviii
Hình 3.6. Ảnh lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém........................lxviii
Hình 3.7. Ảnh lợn nuôi trong tình trạng vệ sinh thú y kém..........................lxix
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở lợn theo mùa vụ..........................lxxi
Hình 3.9. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun A.suum theo phương thức chăn nuôi.lxxiii
Hình 3.10. Ảnh trứng giun đũa lợn phát triển thành trứng chứa 2 nhân...lxxviii
Hình 3.11. Ảnh trứng giun đũa lợn phát triển thành trứng chứa 4 nhân...lxxviii
Hình 3.12. Ảnh trứng giun đũa lợn phát triển thành trứng chứa ấu trùng ..lxxix
Hình 3.13. Ảnh ấu trùng nằm cuộn tròn trong trứng có sức gây bệnh .......lxxix
Hình 3.14. Ảnh trứng giun đũa có sức gây bệnh bị chết.............................lxxxi
viii
Hình 3.15. Ảnh biểu hiện lâm sàng của lợn số 1 ở ngày 35 sau gây nhiễm
.................................................................................................... lxxxv
Hình 3.16. Ảnh giun đũa ký sinh ở ruột non của lợn..............................lxxxviii
kê Thái Nguyên (2007) [6], Sở Nông nghiệp và PTNT Thái Nguyên (2010)
[43], trong những năm gần đây, số lượng đàn lợn trong cả nước nói chung và
tỉnh Thái Nguyên nói riêng có sự tăng lên đáng kể hàng năm.
Theo Chu Minh Khôi (2009) [74]: “Chăn nuôi lợn được coi là một
trong những ngành chăn nuôi chủ lực trong sản xuất nông nghiệp”.
Với vai trò cung cấp lượng thực phẩm lớn nhất cho con người, thịt lợn
luôn chiếm tỷ lệ cao từ 76 - 77% tổng sản lượng thịt các loại trong cả nước,
Nguyễn Thanh Sơn và Phạm Văn Duy (2010) [75] cho biết: Theo ước tính
của Cục chăn nuôi, mỗi tháng cả nước ta sản xuất và tiêu thụ khoảng 290 300 nghìn tấn thịt lợn hơi. Năm 2009 tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng
x
trong cả nước là 2,93 triệu tấn. Dự báo, tổng sản lượng này trong 6 tháng đầu
năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm 2009.
Nhận thấy vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với con
người và xã hội, Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008) [1], đã định hướng phát
triển đàn lợn ở Việt Nam như sau: “Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn lợn của
Việt Nam đạt 32,9 triệu con và đến năm 2020 đạt 34,7 triệu con. Tổng sản
lượng thịt hơi xuất chuồng đến năm 2015 đạt 3,9 triệu tấn và con số này sẽ
tăng lên 4,8 triệu tấn năm 2020”
Mặc dù được coi là một trong những ngành chủ lực của sản xuất nông
nghiệp nhưng chăn nuôi lợn vẫn gặp không ít khó khăn, những khó khăn mà
ngành chăn nuôi lợn gặp phải đó chính là việc quản lý chất lượng thức ăn,
chất lượng thuốc thú y lưu thông trên thị trường cũng như quản lý con giống.
Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển chăn nuôi lợn. Ngoài
những khó khăn kể trên, sản xuất chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay còn chịu
ảnh hưởng rất lớn từ thị trường quốc tế nhất là khi nước ta chính thức ra nhập
WTO (Theo Vũ Đình Tôn, 2009 [59]).
Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là nỗi lo ngại lớn nhất của người chăn nuôi vì
Làm sáng tỏ và bổ sung thêm những thông tin khoa học về bệnh giun
đũa ở lợn, từ đó có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun
đũa cho lợn có hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn của tỉnh
Thái Nguyên phát triển.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin
khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại một số địa phương
thuộc tỉnh Thái Nguyên, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng giun đũa
ở ngoại cảnh, về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh, về biện pháp phòng trị
bệnh có hiệu quả.
xii
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh giun
đũa lợn có hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun đũa cho lợn, từ đó hạn chế những
thiệt hại do bệnh gây ra.
xiii
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa Ascaris suum
1.1.1.1. Vị trí của giun đũa Ascaris suum trong hệ thống phân loại động vật
Giun đũa lợn là những giun tròn thuộc họ Ascarididae (bộ phụ
Ascaridata), loài Ascaris suum. Chúng ký sinh và gây bệnh giun đũa ở lợn.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [61], giun đũa lợn Ascaris suum có vị
(Nguồn: Phạm Văn Khuê, 1996 [19])
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [51], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [9]
giun đũa lợn có hình thái, kích thước như sau:
Giun đũa thân dài, hình trụ, hai đầu thót mầu trắng sữa, thân cứng và
đàn hồi. Chóp đầu mang ba môi, bờ môi có răng cưa rất nhỏ, môi bọc lấy
miệng, một môi ở phía lưng, đáy môi có hai gai thịt; hai môi kia ở giữa phía
cạnh và bụng và chỉ có một gai thịt.
Con đực dài 15 - 20 cm, đường kính từ 3,2 - 4,4 mm. Đoạn đuôi cong
về phía bụng mang hai gai giao hợp ngắn, bằng nhau, hơi cong. Trên mặt
bụng ở mỗi bên có từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt
xếp trên một hoặc hai hàng, một gai thịt lẻ ở trước hậu môn.
xv
Con cái dài từ 20 - 30 cm, đường kính từ 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng.
Đuôi mang hậu môn về phía bụng (ở gần chóp đuôi). Hậu môn có hình dạng
một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên. Âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình
bầu dục, gần về phía bụng khoảng một phần ba đoạn trước thân, ngang một
vùng có một cái vòng thắt lại một chút (gọi là thắt lưng).
Hình 1.2. Ảnh giun đũa lợn
(Nguồn http://www.nehu.ac.in/BIC/HelMinth_Parasite_NE [73])
Giun đũa có cấu tạo giống các loại giun tròn khác: Tiết diện ngang tròn.
Dưới vỏ cutin dày là lớp hạ bì cùng với hệ cơ tơ hợp thành bao biểu mô cơ.
Chúng chỉ có một lớp cơ dọc nên chỉ có cách vận chuyển duy nhất là cong
gập cơ thể. Xoang cơ thể là xoang nguyên sinh khá rộng và chứa đầy dịch
(Trần Tố và cs, 2002 [58]).
* Đặc điểm hình thái, cấu tạo trứng giun đũa Ascaris suum
Trứng giun đũa lợn có hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056 0,087 × 0,046 - 0,067 mm, vỏ rất dầy, có 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là màng
cả các loại hoá chất (axit, bazơ), chống đỡ kém với sự khô ráo và ánh nắng
mặt trời chiếu trực tiếp. Trứng giun đũa lợn gồm 4 lớp:
+ Lớp trong cùng của trứng có tác dụng bảo vệ phôi thai giúp cho các
chất hữu cơ không ảnh hưởng đến trứng.
+ Hai lớp giữa giữ cho chất lỏng của trứng không bốc hơi.
+ Lớp protit ngoài cùng có mầu cánh dán, giữ cho tia tử ngoại không
xâm nhập vào bên trong.
1.1.1.3. Vòng đời của giun đũa lợn
Vòng đời (hay chu kỳ sinh học) của giun đũa lợn đã được nghiên cứu
hoàn chỉnh và có nhiều tác giả ghi nhận. Nghiên cứu về vòng đời giun đũa lợn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [21], Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [28] cho
biết: Vòng đời giun đũa lợn không cần vật chủ trung gian, lợn trực tiếp nuốt
phải trứng giun đũa có sức gây bệnh rồi phát triển thành giun trưởng thành.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1968) [52], trong ruột của lợn, giun đũa có con
đực, con cái. Chúng giao hợp với nhau, giun cái thụ tinh và đẻ trứng. Trứng
khi thải qua phân đã có phôi thai.
Giun cái đẻ trung bình 1 con là 27 triệu trứng, mỗi ngày đẻ 200.000
trứng. Trứng theo phân lợn ra ngoài gặp oxygen, độ ẩm, nhiệt độ thích hợp
(khoảng 240C) sau 2 tuần thành phôi thai, qua 1 tuần nữa phôi thai lột xác
thành trứng có sức gây bệnh. Trứng này lợn nuốt phải thì ấu trùng nở ra ở
ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít chui vào ống
lâm ba màng treo ruột rồi vào gan. Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu
trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ và muộn nhất là sau 12 ngày
vẫn có ấu trùng vào phổi. Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III.
Ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản, và cùng với
niêm dịch ấu trùng lên hầu rồi xuống ruột non, lột xác lần nữa thành giun
trưởng thành. Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần. Trong khi di hành một
xviii
xix
Theo Lương Văn Huấn và cs (1997) [14], giun đũa lợn không truyền
qua bào thai và không truyền qua sữa.
Như vậy, chu kỳ phát triển của giun đũa lợn chỉ có một vật chủ là lợn,
không có vật chủ trung gian, nhưng có giai đoạn phát triển bên ngoài môi
trường vì thế gọi là chu kỳ phát triển qua đất (Trần Tố và cs, 2002 [58]).
1.1.1.4. Sự phát triển của trứng giun đũa lợn ở ngoại cảnh.
Trịnh Văn Thịnh và cs (1985) [56] cho biết: Sự phát dục của trứng
thành phôi thai ngoài thiên nhiên phụ thuộc chặt chẽ vào nhiệt độ, ẩm độ và
mùa vụ. Tác giả đã tiến hành thí nghiệm theo dõi sự phát triển của trứng tại
Hà Nội, kết quả cho thấy, thời gian này là 12 - 13 ngày ở 320C và 20 - 28
ngày ở nhiệt độ 24 - 250C.
Trứng giun đũa lợn khi thải qua phân chưa có phôi thai. Trứng tiếp tục
phát triển phụ thuộc vào áp lực oxy, ẩm độ, nhiệt độ môi trường. Ở nhiệt độ
22 - 330C trong vòng 9 - 13 ngày tế bào trứng phát triển thành ấu trùng nằm
cuộn tròn trong trứng (Đào Trọng Đạt và cs, 1996 [9]).
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [19], nhiệt độ thích hợp cho trứng
phát triển là 250C, khi nhiệt độ xuống thấp (120C) trứng phát triển chậm.
Trứng ở sâu 3 m, nhiệt độ đất trong khoảng 26 - 330C, độ ẩm đất từ 9,5 - 19%
thì 89% trứng phát triển. Trứng ngừng phát triển ở điều kiện nhiệt độ và độ
ẩm đất thấp (-4,80C đến -13,40C và 6,3 - 17%).
Nghiên cứu về điều kiện thích hợp cho trứng phát triển thành trứng có
sức gây bệnh, tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) [26] cho biết: Điều kiện
nhiệt độ để trứng phát triển là 15 đến 350C nhưng điều kiện thích hợp nhất
cho trứng phát triển là 30 đến 330C và ẩm độ 80 - 95%.
Theo nhận xét của Nguyễn Văn Đức (2005) [10], trứng giun được thải
ra môi trường đã chứa phôi dâu, gặp điều kiện thuận lợi sau 10 - 15 ngày phát
triển thành ấu trùng cảm nhiễm nằm cuộn tròn trong vỏ trứng.
xxi
Trứng giun đũa cũng có thể bị chết khi gặp một trong ba điều kiện sau:
Độ ẩm quá thấp; độ ẩm quá thấp và nhiệt độ cao; độ ẩm và nhiệt độ cao. Khi
nhiệt độ 45 - 500C trứng chết trong nửa giờ. Và ở nhiệt độ từ 660C trở lên
trứng giun đũa rất dễ bị chết (Bùi Quý Huy, 2006 [12]). Chính vì vậy mà việc
ủ phân để tăng nhiệt độ trong đống phân sẽ diệt hết trứng giun đũa.
Theo quan điểm của Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) [14],
thì trứng giun A.suum có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh. Trứng có
thể sống ở môi trường bên ngoài một vài năm.
Trịnh Văn Thịnh và cs (1976) [53] cho rằng: Trong dung dịch tyrode
(NaCl 8g, KCl 20g, CaCl2 0,2g, MgCl2 0,1g, Na2CO3 1g, glucoza 1g, nước cất
1000ml) giun đũa có thể sống nhiều ngày, khi thay đổi pH của môi trường, đặc
biệt khi chuyển sang môi trường axit hoặc môi trường quá bazơ thì giun đũa
tăng cường hoạt động. Còn với trứng của giun đũa, trong suốt mùa xuân, hè
chúng đều có điều kiện phát triển, tuy nhiên trong từng điều kiện cụ thể thì sự
phát triển đó cũng có sự sai khác. Tác giả cho biết:
- Nếu có ánh sáng chiếu trực tiếp vào môi trường có trứng giun đũa thì
tác dụng huỷ diệt trứng xảy ra nhanh và rõ rệt. Với số giờ nắng là 97 giờ, số
bức xạ là 259 kcal/cm2 sau bốn ngày 76% trứng giun đũa bị huỷ diệt.
- Nhiệt độ trung bình là 280C và độ ẩm bình quân là 86% ở môi trường
tự nhiên thấy trứng giun đũa phát triển rất thuận lợi.
- Môi trường có bóng râm mát là môi trường thuận lợi cho sự phát triển
của trứng giun đũa. Dưới bóng râm mát, 78% trứng giun đũa có thể phát triển
tới giai đoạn ấu trùng.
Một thử nghiệm sức đề kháng của trứng giun đũa với các hoá chất đã
được Phạm Văn Chức (1980) [2] tiến hành. Tác giả đã nghiên cứu hiệu lực
diệt trứng của các chất hoá học ở ba giai đoạn phát triển của trứng (trứng chưa
Gây nhiễm nhân tạo cho 85 giun đất Perionoyx excavatus, sau 30 ngày đã
phát hiện được 17/85 (20%) giun đất nhiễm ấu trùng A.suum vẫn ở giai đoạn
gây nhiễm nhưng không còn nằm trong vỏ trứng. Cường độ nhiễm ấu trùng
A.suum trong giun đất Peryonyx excavatus là 1 - 4 ấu trùng/giun.
xxiii
Các tác giả này còn cho biết, trong giun đất, ấu trùng A.suum tồn tại tới
25 ngày với tỷ lệ nhiễm 6,7%. Ở trong giun đất, ấu trùng A.suum có sự tăng
trưởng về kích thước và cấu tạo ống tiêu hoá.
Như vậy, giun đất nhiễm trứng giun đũa lợn có sức gây bệnh thì trứng
này sẽ phát triển thành ấu trùng trong giun đất, khi đó những giun đất này
được coi là nguồn tàng trữ mầm bệnh. Hay nói cách khác giun đất đã tạo điều
kiện cho ấu trùng giun đũa lợn tồn tại, phát triển, chờ cơ hội xâm nhập vào cơ
thể để ký sinh và gây hại cho lợn.
1.1.1.7. Mối quan hệ giữa giun đũa lợn và giun đũa người
Nghiên cứu về khả năng nhiễm chéo giữa giun đũa lợn và giun đũa
người Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [19], Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(1999) [21] cho biết: Gây nhiễm nhân tạo thấy giun đũa người có thể nhiễm
cho lợn và giun đũa lợn có thể nhiễm cho người. Tuy nhiên xét về mặt dịch tễ,
ở một khu vực lợn bị nhiễm giun đũa với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm
giun đũa không cao, hoặc người nhiễm với tỷ lệ rất cao nhưng lợn nhiễm
không cao. Điều đó chứng tỏ giun đũa ở lợn và ở người là khác loài và không
có liên quan trực tiếp.
Về hình thể hai loài giun đũa lợn và giun đũa người đều có màu trắng
sữa hoặc màu trắng hồng, giun đũa lợn dài hơn giun đũa người nhưng đường
kính của giun đũa lợn lại nhỏ hơn so với giun đũa người (Hoàng Văn Tân và
cs, 2006 [44]).
Phạm Văn Khuê (1982) [17] cho biết: Giun đũa lợn có khả năng lây
gây nên các bệnh có diễn biến mạn tính, làm giảm sức sinh trưởng và sinh sản
và làm giảm sản phẩm chăn nuôi. Đối với gia súc non, bệnh giun đũa lợn là
bệnh gây thiệt hại nhiều nhất ở nước ta.
Một loạt các công trình nghiên cứu về tác hại của giun đũa đối với cơ
thể lợn đã được tiến hành, các tác giả đều thống nhất: Tác dụng bám của giun;
khi ấu trùng chui vào thành ruột, sự di hành của ấu trùng tạo ra các vết thương