Nghiên cứu bệnh đơn bào leucocytozoon ở gà tại một số địa phương của tỉnh thái nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƢƠNG THỊ HỒNG DUYÊN
NGHIÊN CỨU BỆNH LEUCOCYTOZOON Ở GÀ TẠI
MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ Chuyên ngành : Thú y
Mã số : 60 62 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ii
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự
giúp đỡ, hƣớng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn
của tôi đã hoàn thành. Nhân dịp này, cho phép tôi đƣợc bày tỏ lòng biết ơn và
cảm ơn chân thành tới cô giáo hƣớng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan đã
tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của khoa
Chăn nuôi Thú y – Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa Sau
Đại học Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trƣờng.
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ, công nhân
viên Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ƣơng, Bệnh viện Đa
khoa Trung ƣơng Thái Nguyên, cán bộ trạm thú y và nhân dân của các huyện
Phổ Yên, Đồng Hỷ, Võ Nhai và thị xã Sông Công đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi cũng nhận đƣợc sự quan tâm, động
viên sâu sắc của gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trƣớc mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả

:
Dung lƣợng mẫu
P
:
Độ tin cậy
S
:
Simulium
spp
:
species
TX
:
Thị xã
VSTY
:
Vệ sinh thú y
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

v
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà 9
Hình 3.1. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 huyện, thị
thuộc tỉnh Thái Nguyên 45
Hình 3.2. Biểu đồ về cƣờng độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4
huyện, thị thuộc tỉnh Thái Nguyên 46
Hình 3.3. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà theo mùa vụ 50
Hình 3.4: Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà giữa các
phƣơng thức chăn nuôi khác nhau 53
Hình 3.5. Đồ thị minh họa tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà 58
Hình 3.6. Biểu đồ về sự thay đổi số lƣợng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hàm
lƣợng huyết sắc tố của gà khỏe và gà bị bệnh Leucocytozoon 68
Hình 3.7. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của gà khỏe so với gà bị
bệnh Leucocytozoon 71 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

vi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3
2.1. Mục đích nghiên cứu 3
2.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 4

51
3.1.6. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà 54
3.1.7. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà 56
3.1.8. Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà 59
3.1.9. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ
sinh thú y 60
3.2. Bệnh Leucocytozoon ở gà tại Thái Nguyên 63
3.2.1. Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại Thái Nguyên 63
3.2.3. Một số chỉ số máu của gà mắc bệnh Leucocytozoon 66
3.2.4. Bệnh tích của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon 71
3.3. Nghiên cứu hiệu quả của 3 phác đồ điều trị bệnh đơn bào
Leucocytozoon ở gà 74
3.3.1. So sánh hiệu lực của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon ở gà 74
3.3.2. Độ an toàn của các phác đồ điều trị bệnh Leucocytzoon cho gà 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
1. Kết luận 78
1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 huyện, thị
thuộc tỉnh Thái Nguyên 78
1.2. Bệnh Leucocytozoon ở gà tại Thái Nguyên 78
2. Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chăn nuôi đã trở thành một ngành sản xuất

trùng với tỷ lệ và cƣờng độ cao, diễn ra quanh năm, bất kể mùa vụ và thời tiết
nào. Hàng năm, thiệt hại do bệnh ký sinh trùng gây ra chiếm một tỷ lệ khá cao
trong tổng thu nhập của ngành.
Là một nƣớc nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thảm
thực vật và hệ động vật phong phú, đa dạng, thích hợp cho nhiều loài ký sinh
trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh. Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có
những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh
dƣỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm
lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng. Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng
gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém
các bệnh truyền nhiễm, trong đó có bệnh đơn bào đƣờng máu Leucocytozoon.
Bệnh do các loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu (đôi
khi thấy trong bạch cầu), gây ra xuất huyết, tan vỡ hồng cầu, dẫn đến thiếu
máu và ỉa chảy phân xanh màu lá cây, làm gà chết với tỷ lệ cao tới 30 - 50%
(Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006 [14]).
Theo Lê Đức Quyết và cs (2009) [21], tình hình lƣu hành đơn bào
Leucocytozoon trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung bộ là 13,29%, trong đó ở
Phú Yên là 20,00%, Bình Định là 9,54%, Khánh Hoà là 12,65%.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gà ở tỉnh Thái Nguyên phát triển
khá mạnh, trong đó chăn nuôi gà thả vƣờn chiếm một số lƣợng lớn. Nhiều đàn
gà có triệu chứng ỉa phân xanh, thiếu máu và gầy yếu. Việc phòng bệnh truyền
nhiễm bằng các loại vacxin không đƣa lại hiệu quả mong muốn. Một câu hỏi
đặt ra là: những triệu chứng trên ở gà của Thái Nguyên có phải do đơn bào
Leucocytozoon gây ra hay không? Tuy nhiên, cho đến nay câu hỏi trên vẫn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

3
chƣa đƣợc trả lời, và bệnh do đơn bào Leucocytozoon và biện pháp phòng trị
vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu ở khu vực phía Bắc nói chung và ở tỉnh Thái


1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trƣởng và phát triển trong hoặc
trên cơ thể một sinh vật khác – gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dƣỡng của
ký chủ mà nó ký sinh. Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký
sinh trùng mà ngƣời ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành:
nguyên trùng, giun sán và tiết túc. Trong đó, nguyên trùng là ký sinh trùng
đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thƣờng ký sinh trong máu
(Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột ký chủ (cầu
trùng) (Dƣơng Công Thuận, 1995 [26]).
Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Tỷ lệ lƣu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nƣớc Châu Á khá cao: ở
Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 – 18%), Malaysia (15 – 31%).
Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà (đôi khi ký sinh trong bạch
cầu, tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ
lệ cao, ảnh hƣởng đến thu nhập của ngƣời chăn nuôi gà. Bệnh cũng đƣợc phát
hiện ở nhiều loài chim hoang dã.
1.1.1. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà
1.1.1.1. Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật
Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di
động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng đƣợc, khi thì có màng bọc và
có hình dạng nhất định. Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch
thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó. Chúng tự nuôi dƣỡng
bằng cách thẩm thấu dinh dƣỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

5
Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của
nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã. Gà là vật

thƣớc từ 20 - 25 µm.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13] cho biết: các loài Leucocytozoon spp.
có nhiều hình dạng khác nhau trong quá trình phát triển ở ký chủ cũng nhƣ ở
ký chủ trung gian. Kích thƣớc của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng và loài đơn
bào Leucocytozoon.
- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elip nhọn 2 dầu, kích
thƣớc 10 - 15 µm. Thể này thấy ở tuyến nƣớc bọt của dĩn (ký chủ trung gian).
- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thƣớc 15 - 20 µm.
- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thƣớc 20 - 45µm.
- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích
thƣớc 350 - 400 µm.
- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích
thƣớc 20 - 25 µm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [14]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2008)
[15], hai loài L. caullergyi và L. sabrazeis có hình dạng gần giống nhau, chỉ
khác về tính chất gây bệnh. Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lƣỡi
liềm; kích thƣớc 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký sinh ở
hồng cầu của gà, gà rừng.
1.1.1.3. Vòng đời của Leucocytozoon ở gà
Saif Y.M. (2003) [45] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật
chủ trung gian và có thể đƣợc hoàn thành sau 3 – 4 ngày. Noãn nang phát
triển và có thể tìm thấy trong đƣờng tiêu hóa của dĩn trong vòng 12 giờ sau
khi dĩn hút máu. Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nƣớc bọt của
dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nƣớc bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút
máu gà bệnh 18 ngày.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

7
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [13] cho biết: các loài Leucocytozoon có

chu kỳ nhất định. Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu.
* Giai đoạn ở trong hồng cầu: giai đoạn này tạo thể tự dƣỡng và thể
phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái). Giai đoạn
ở trong hồng cầu bắt đầu từ khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề
mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tƣơng ứng và xâm nhập vào hồng
cầu qua 5 giai đoạn:
- Nhận diện và gắn bám
- Hình thành điểm tiếp giáp
- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu
- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động
- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào
Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và phát triển
trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:
Thể tự dƣỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể
Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già.
Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già.
Sau khi kết thúc 1 chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont phá
vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào
hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tƣơng tự.
Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng
cầu, nhƣng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có
giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte – giao tử cái và Microgametocyte –
giao tử đực). Sau đó giao tử dực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp
tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu.
Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ
trung gian và tiếp tục vòng đời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

9

10
Tuy nhiên Lê Văn Năm (2011) [19] lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh
học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất là giai
đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là
giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:
- Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh (dĩn)
Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này
kết thúc trong vòng 3 – 4 ngày. Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn
giao tử đực và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau khi
hút máu gia cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của
ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp
tử. Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm
mạc dạ dày, ruột của dĩn. Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành bào tử nang
(Oocyst). Toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm
dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối.
Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trƣởng và phát triển
thành 4 thoi trùng (Sporozoite). Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và di
hành đến cƣ trú trong tuyến nƣớc bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh. Chỉ
có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh. Ký chủ trung gian truyền
bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó
hút máu của gia cầm khỏe và truyền nƣớc bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh
vào cơ thể gia cầm khỏe. Nhƣ vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần
cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày.
- Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm.
Ngay sau khi thoi trùng theo nƣớc bọt của ký chủ trung gian truyền
bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể
phân lập trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay
vào các tế bào máu và theo máu đi khắp cơ thể. Từ đây, chúng phát triển theo
hai hƣớng:



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

12
đôi, làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng ký chủ. Sau đó chúng phát
triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là Megaloschizont với kích thƣớc lên
đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ. Để tiếp tục phát
triển, trong mỗi Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian
Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ
quan ký chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển đƣợc
tiếp tục lặp lại nhƣ hƣớng thứ nhất – kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong
các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm.
* Tính chuyên biệt của Leucocytozoon
Theo Johannes Kaufmann (1996) [35], mỗi loài Leucocytozoon chỉ
ký sinh trong một hoặc một số ký chủ nhất định.
1.1.2. Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà
1.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra
Bệnh ký đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy
hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trƣờng hợp đặc biệt).
Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trƣởng và
phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng
giảm, số lƣợng và chất lƣợng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn
nuôi giảm thấp.
Olsen O. W. (1986) [42] cho biết: ngoài gà (tỷ lệ nhiễm cao và mắc
bệnh nặng nhất), vịt nhiễm Leucocytozoon cũng thƣờng bị bệnh ở thể nặng,
các triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ rệt, tỷ lệ tử vong cao.
Theo Shane S. M. (2005) [46], Leucocytozoonosis thƣờng gặp ở các
nƣớc nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ. Đàn
gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trƣởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến
100% nếu không đƣợc chữa trị kịp thời.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

14
Vật chủ trung gian của L. caulleryi là các loài dĩn thuộc giống
Culicoides nhƣ: C. arakava, C. circumscriptus, C. Odibilis.
* (Mathis et Leger, 1910)
Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà và chim hoang dã ở các nƣớc
Đông Nam Á : Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam.
Vật chủ trung gian của L. sabrazeis: các loài dĩn Culicoides spp. và
Simulium spp.
* L. simondi (Mathis et Leger, 1910)
L. simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời, ngỗng nhà và
ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nƣớc vùng
Balkan và Việt Nam.
Vật chủ trung gian: các loài dĩn Simulium spp.
* (Laveran et Lucet, 1905)
Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc
Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nƣớc vùng Balkan
Vật chủ trung gian của L. smithi là các loài dĩn Simulium spp.
Lƣơng Văn Huấn và Lê Hữu Khƣơng (1997) [5] cho biết loài L.
caullergyi có đặc điểm nhƣ sau: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích thƣớc 15,0 -
15,5 µm. Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thƣớc 20 µm. Ở trong cơ thể dĩn –
KCTG, Zygote có dạng tròn đƣờng kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thƣớc 21
µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thƣớc 4 -
14 x 5-14 µm. Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite). Các thoi trùng
đến tuyến nƣớc bọt của dĩn có kích thƣớc 7 - 11 x 1 - 2 µm.
Tuổi mắc bệnh: Gà ở các lứa tuổi đều bị bệnh. Tuổi gà càng cao tỷ lệ
và cƣờng độ nhiễm bệnh càng tăng.
Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhƣng nhiễm nhiều

bắt đầu chết từ 2 – 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

16
Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001) [29]; (2002) [30], triệu
chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:
- Ho ra máu và chết đột ngột
- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái
- Nhịp thở nhanh
- Phân có mầu xanh
- Giảm sản lƣợng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)
- Xuất huyết da chân.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) [11] cho biết: Bệnh thƣờng xảy ra
thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nƣớc Đông
Nam Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - ký chủ trung
gian phát triển và hoạt động mạnh.
Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày.
Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trƣng sau:
Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết
các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng,
phân có màu xanh lá cây, thƣờng có lẫn máu. Gà mái đang đẻ bị bệnh sẽ giảm
đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản. Gà trƣởng thành
mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhƣng chết ít hơn gà con. Gà ở
lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao.
Lê Văn Năm (2011) [19] cho biết, triệu chứng của bệnh Leucocytozoon
gồm các thể nhƣ sau:
- Thể quá cấp:
Trong suốt thời gian ủ bệnh, gà bị sốt cao nhƣng có thể vẫn ăn uống
bình thƣờng nên ngƣời chăn nuôi hầu nhƣ không để ý, hoặc không quan sát

khối lƣợng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc
ngƣợc lại vỏ rất dầy. Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh
Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày
đầu chiếm tỷ lệ rất cao.

Trích đoạn Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoo nở gà tại 4 huyện, thị Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tính biệt gà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status