1
PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1.Điều tra tình hình cơ bản huyện Phổ Yên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Phổ Yên là huyện trung du nằm ở vùng phía nam tỉnh Thái Nguyên.
Huyện lỵ Phổ Yên đặt tại thị trấn Ba Hàng, cách tỉnh lỵ Thái Nguyên 26km về
phía Nam và cách thủ đô Hà Nội 56km về phía Bắc. Xưa nay, Phổ Yên đều
giữ vị trí cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên.
Phổ Yên có vị trí địa lý: Trong giới hạn địa lý có toạ độ từ 21
0
19’ đến
21
0
34’ độ vĩ Bắc, 105
0
40’ đến 105
0
56’ độ kinh Đông.; phía Tây giáp huyện
Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc); phía Bắc, Tây Bắc giáp thành phố Thái Nguyên,
huyện Đại Từ và thị xã Sông Công (tỉnh Thái Nguyên); phía Đông và Đông
Bắc giáp các huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang) và Phú Bình (tỉnh Thái
Nguyên); phía Nam giáp huyện Sóc Sơn (thành phố Hà Nội).
Huyện Phổ Yên có tổng diện tích tự nhiên 256,68km2; (trong đó, diện
tích đất nông nghiệp 124,99km
2
, bằng 48,69% tổng diện tích tự nhiên; diện
tích đất lâm nghiệp 73,68 km
2
, bằng 287% tổng diện tích tự nhiên; diện tích
mưa lại lớn, chế độ thuỷ văn lại không đều, nên thường gây ngập úng, lũ lụt.
1.1.1.3. Địa hình đất đai
Phổ Yên là huyện trung du nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên. Phần
lớn là đồi núi, điạ hình không bằng phẳng, đất bạc màu, đất vàng nhạt trên đá
cát, độ phì kém.
Căn cứ vào các chỉ tiêu về loại đất, tầng dầy và độ dốc của đất, toàn
huyện có 120,045 km
2
đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và 50,39 km
2
đất thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp. Trên 50% diện tích đất nông nghiệp ở
Phổ Yên là đất bạc màu, đất vàng nhạt trên đá cát, độ phì kém.
1.1.1.4. Giao thông thủy lợi
Đặc điểm nổi bật của huyện Phổ Yên là có đường Quốc lộ số 3 và đường
sắt Hà Nội - Thái Nguyên chạy dọc từ nam lên bắc, mang lại cho huyện nhiều
thuận lợi về kinh tế - xã hội.
Phổ Yên có mạng lưới giao thông tương đối phong phú huyện có
quốc lộ 3 chạy suốt chiều dài của huyện, gần như chia đôi huyện thành hai
phần, hệ thống giao thông đến các xã đã và đang được bê tông hoá và dải
nhựa từng phần, các xã đều có giao thông liên xã thuận lợi cho việc trao
đổi thông tin, văn hoá, khoa học kỹ thuật nên kinh tế của huyện Phổ Yên
tương đối phát triển.
3
1.1.2. Tình hình kinh tế xã hội
1.1.2.1. Tình hình xã hội
Đây là địa phương có trình độ dân trí tương đối cao so với cả khu vực.
Công tác an ninh, trật tự xã hội liên tục được giữ vững; Hệ thống chính trị ổn
định, đời sống nhân dân ngày một nâng cao; Các hoạt dộng văn hóa xã hội
được quan tâm và phát triển Đó là những thuận lợi cơ bản cho sự phát triển
Đưa ra các biện pháp xử lý cụ thể khi đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn mắc
bệnh. Lập các chốt kiểm dịch để kiểm soát sự giao lưu gia súc trong khu vực.
1.1.3.3. Công tác thực hiện pháp lệnh thú y.
Kiểm dịch chặt chẽ, không vận chuyển động vật mắc bệnh từ bên ngoài
vào trong địa bàn huyện hoặc từ trong khu vực huyện ra bên ngoài.
Gia súc, gia cầm mắc bệnh truyền nhiễm có khả năng phát triển thành
dịch phải được lập biên bản rồi tiêu hủy.
Khu vực lò mổ phải được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo vệ sinh thú y.
Kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh thú y về động vật và sản phẩm động vật ở
các chợ và những điểm buôn bán thực phẩm tươi sống.
Quản lý và hướng dẫn thực hiện pháp lệnh thú y, xử lý những trường hợp
vi phạm pháp lệnh thú y.
- Xây dựng cơ sở vật chất
Chú trọng quan tâm tới việc đầu tư vốn và kỹ thuật cho chăn nuôi
- Xây dựng vùng an toàn dịch
Xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh, phát hiện ngăn chặn dập tắt
các ổ dịch xảy ra trong huyện. Đồng thời quản lý các ổ dịch cũ để có biện
pháp phòng chống dịch xảy ra.
Báo cáo định kỳ, đột xuất tình hình dịch bệnh cho UBND huyện và Chi
cục thú y tỉnh.
5
1.1.4. Những thuận lợi và khó khăn của cơ sở
Qua thực tế điều tra cơ bản của huyện về điều kiện tự nhiên, tình hình
kinh tế xã hội của huyện tôi rút ra một số vấn đề sau:
1.1.4.1. Thuận lợi.
Huyện Phổ Yên nằm ở vị trí thuận lợi gần trung tâm thành phố Thái
Nguyên, có đường quốc lộ 3 và đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên chạy dọc
từ nam tới bắc chạy qua huyện nên rất thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán
và vận chuyển hàng hóa, vật tư nông nghiệp dịch vụ ở địa phương với các
quy mô lớn. Ngoài ra, no ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nắm rõ được
vấn đề đó, cần quan tâm đến công tác thú y. Cụ thể như sau:
- Công tác phòng bệnh thường xuyên và định kỳ.
- Phát hiện và điều trị kịp thời.
1.2.2.3. Công tác khác
Tích cực tham gia mọi hoạt động phong trào của cơ sở và tham gia các
hoạt động của công ty.
1.2.2.4. Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu tình hình mắc
bệnh ký sinh trùng đường máu Leucocytozoon của gà tại một số địa điểm của
tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”.
1.2.3. Biện pháp thực hiện
Để thực hiện tốt nội dung trên, trong thời gian thực tập bản thân tôi đã đề
ra một số biện pháp thực hiện như sau:
- Tìm hiểu kỹ tình hình chăn nuôi – thú y ở nơi thực tập và khu vực vành
đai, nhất là công tác thú y. Có những ý kiến đống góp cụ thể với ban lạnh đạo
nơi thực tập nhằm phát triển chăn nuôi hơn nữa.
- Tiêm phòng, chẩn đoán, mổ khám và điều trị bệnh cho gia cầm.
- Tham gia mọi hoạt động thú y, phát triển, mạng lưới thú y cơ sở.
7
- Tham gia hoạt động chuyển giao con giống và kỹ thuật chăn nuôi cho
các hộ chăn nuôi.
- Thực hiện áp dụng khoa học – kỹ thuật mới mà bản thân đã đượchọc
đưa vào thực tiễn sản xuất.
- Tịch cực tham gia các hoạt động tại cơ sở, kiêm tốn, nhiệt tình, học hỏi
và sống hòa mình với mọi người.
- Nghiêm túc thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học.
1.3. Kết quả đạt được
1.3.1. Công tác chăn nuôi
đến việc giữ ấm cho gia cầm lúc còn nhỏ. Phòng bệnh cho gia cầm với những
bệnh thường gặp như: Gumboro,
1.3.1.1. Công tác chuẩn bị trước khi nuôi gà
- Chuồng nuôi: phỉa đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè, ấm
áp về mùa đông, có rèm che chắn gió lùa, có cống rãnh thoát nước đầy đủ.
- Trước khi nuôi gà 2 tuần chúng tôi tiến hành quét dọn sạch sẽ, bên
ngoài cũng như bên trong chuồng nuôi, lối đi, cống rãnh… Sau đó, phun
thuốc sát trùng bằng dung dịch Formol nồng độ 2%, phun 300ml dung dịch
1m
2
chuồng, phun quanh khu vực chuẩn bị nuôi gà.
- Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ chăn nuôi như máng ăn, uống, chụp sưởi,
rèm che… Các dụng cụ đều được vệ sinh sạch sẽ và phun thuốc sát trùng
trước khi sử dụng 5 -7 ngày.
- Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho gà.
- Đệm lót chuồng trước khi sử dụng: Phun thuốc sát trùng bằng dung
dịch Formol 2% sau đó đem phơi khô, trải vào nền chuồng với độ dày tối
thiểu là 5 cm.
1.3.1.2. Công tác chọn giống
Đối với gà bố mẹ sinh sản, sau một thời gian đẻ, căn cứ vào số lượng
trứng đẻ, tỷ lệ ấp nở. Chúng tôi tiến hành loại thải một con số con không đủ
tiêu chuẩn sinh sản. Công việc kiểm tra đàn gà được tiến hành thường xuyên
đặc biệt đối với gà mái đã bắt đầu thay lông một phần hay thay lông toàn bộ.
9
1.3.2. Công tác thú y.
Trong thời gian thực tập tại cơ sở, dựa vào kiến thức của bản thân và
xin ý kiến chỉ đạo của cô giáo hướng dẫn, tôi tiến hành điều trị một số
bệnh đã gặp.
* Bệnh lợn con ỉa phân trắng
Trong đàn con to mắc bệnh trước tiên.
- Điều trị.
+ Hộ lý: Cách ly lợn ốm, nhốt vào chỗ tối để yên tĩnh. Cho nhịn ăn 1 – 2
ngày, chỉ cho uống nước sạch và ăn rau xanh để làm tăng nhu động ruột, đẩy
mạnh vi khuẩn ra ngoài.
+ Dùng kháng sinh:
ND-Sone : 1 ml/ 5 – 7 kg TT/ lần
Bcomplex : 3 - 5 ml/ con/ lần
Liệu trình điều trị 1 lần/ ngày, liên tục trong 3 – 5 ngày
* Bệnh suyễn lợn.
Bệnh do Mycoplasma gây ra, đây là một loại virus qua lọc. Bệnh còn có
tên gọi khác như viêm phổi nhiễm trùng, viêm phế quản, viêm phổi địa
phương, là một bệnh truyền nhiễm mãn tính, cấp tính lưu hành địa phương.
Loài vật mắc: Trong thiên nhiên các loài lợn đều mắc bệnh, lợn các lứa
tuổi nhất là lợn con 1, 2, 3 tháng sau cai sữa mắc và chết nhiều nhất.
- Triệu chứng điển hình.
Lúc đầu nhẹ khó phát hiện, lợn rời đàn, đứng hoặc nằm ở góc
chuồng, lợn ăn ít, chậm hoặc không tăng trọng, da xanh nhợt, thân nhiệt
sốt nhẹ 39 – 40,5
0
C.
Bắt đầu triệu chứng hắt hơi từng hồi dài do chất dịch bài tiết. Sau ho lúc
vận động hoặc vào buổi sáng sớm, ho về ban đêm, sau 2 – 3 tuần ho giảm,
con vật ủ rũ.
Khi phổi tổn thương nghiêm trọng là thở khó, khò khè 60 – 100 – 150
lần hoặc 200 lần/phút. Tần số hô hấp tăng, lợn thở khó, thở dốc ngồi thở như
chó ngồi.
11
Bệnh tiến triển phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và sức đề
0
C, chui đầu vào rơm, viêm
kết mạc mắt, mi mắt sưng có đốm tím bầm, rối loạn chức năng cơ quan tiêu
hóa dẫn tới ỉa chảy, phân có màu vàng sáng lẫn chất nhày có mùi hôi đặc biệt,
bị nôn mửa. Da xuất hiện những đốm đỏ hoặc tím bầm ở vùng da mỏng quanh
tai, bẹn, 4 chân
Lợn gầy tọp, da khô, lông xù, bụng thóp, đít nhọn, mõm thường chống
xuống đất dáng vẻ kiệt sức.
- Phòng và trị bệnh:
+ Vệ sinh phòng bệnh:
Xác lợn chết, phân, rác thải mang đốt rồi đem chôn.
Chuồng lợn ốm phải tiêu độc kỹ bằng: Vôi 2%, Formol 2%.
Giữ vệ sinh thức ăn, nước uống.
Nuôi dưỡng chăm sóc tốt đàn lợn (nhất là lợn con trước và sau khi cai sữa).
+ Điều trị:
Sử dụng các loại kháng sinh có phổ rộng để điều trị kết hợp dùng các
loại thuốc trợ sức, trợ lực.
TD Flox 30% 1 ml/ 20 – 25 kg TT/ ngày
TD Analgin C 1 ml/ 5 – 7 kg TT/ ngày
Bcomplex 5 ml/ con/ ngày
Liệu trình điều trị 3 – 5 ngày
Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng.
* Bệnh viêm tử cung lợn
Khi lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, làm niêm mạc tử
cung bị xây xát, tổn thương vi khuẩn xâm nhập vào phát triển gây viêm.
Ngoài ra một số bệnh truyền nhiễm mà lợn mắc phải cũng thường gây viêm
như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn
13
- Triệu chứng
B6: Làm tương tự đối với dịch hoàn còn lại.
B7: Rắc bột kháng sinh và dùng chỉ khâu lại.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1. Công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả
(con)
Tỷ lệ
(%)
Tiêm phòng vaccin An toàn
1 Dịch tả lợn 801 801 100
2 Tụ dấu lợn 704 704 100
3 Tụ huyết trùng trâu bò 358 358 100
Điều trị bệnh Khỏi
1 Bệnh lợn con phân trắng 30 29 96,67
2 Bệnh E.coli dung huyết 26 24 92,30
3 Bệnh phó thương hàn lợn 22 20 90,90
4 Bệnh suyễn lợn 7 5 71,43
5 Viêm tử cung lợn 2 2 100
Công tác khác An toàn
1 Thiến lợn đực 12 12 100
2 Tiêm Dextran – Fe 36 36 100
3 Tẩy giun, sán cho lợn 27 27 100
1.4. Kết luận và đề nghị
1.4.1. Kết luận
Qua 5 tháng thực tập tại cơ sở, tôi đã nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận
tình của thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Văn Sửu, các cán bộ trong công ty và
nhân dân địa phương. Tôi đã có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn sản xuất củng
Chăn nuôi gia cầm đã giúp tạo nguồn thực phẩm tự cung cấp cho nhân
dân và góp phần tăng thêm thu nhập cho họ trong những năm gần đây, chăn
nuôi gia cầm đã không ngừng phát triển do nhu cầu thực phẩm của người dân
ngày càng tăng cao và nhu cầu phát triển kinh tế.
Vì thế nhiều trang trại chăn nuôi gia cầm với quy mô lớn, nhỏ khác
nhau, từ vài nghìn tới vài chục nghìn con gia cầm đã được xây dựng ở nhiều
địa phương trong khắp cả nước.
Theo Cục Chăn nuôi tổng đàn gia cầm tai thời điểm 01/04/2011 là 277,4
triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm năm 2010. Ước tính tới
30/06/2011, tổng đàn gia cầm 298 triệu con, tăng trên 7% (Theo TS. Đoàn
Xuân Trúc). Số lượng gia cầm tăng lên cùng với xuất hiện nhiều giống gia
cầm năng xuất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với khí hậu, phương thức chăn
nuôi của người Việt Nam. Làm cho các giống gia cầm ngày càng phong phú,
hình thức chăn nuôi thì đa dạng, quy mô ngày càng được mở rộng.
Nhưng song song với việc chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển, nhập
khẩu nhiều giống gia cầm mới thì tình hình dịch bềnh của vật nuôi trên toàn thế
giới luôn có những biến động và đe doạ đến tình hình chăn nuôi gia cầm nước
ta.
Với tốc độ lây lan nhanh đã gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gia
cầm ở nước ta trong những năm gần đây như dịch Cúm gia cầm, ký sinh trùng
đường máu ở gia cầm, Tụ huyết trùng, Newcastle, gumboro, Ký sinh trùng
17
đường máu… trong khi đó người chăn nuôi và cán bộ Thú y cơ sở lại chưa
cập nhật được nhanh chóng tình hình đó nên dịch bệnh rất rễ dàng sảy ra và
gây thiệt hại cho nền kinh tế đáng kể.
Vì vậy đòi hỏi chúng ta phải có một chút kiến thức cơ bản về một số
bệnh thường gặp trong chăn nuôi gia cầm và cách sử lý các trường hợp bệnh
đó đặc biệt là bệnh Ký sinh trùng đường máu Leucocytozoon gà vì trong điều
kiện khí hậu nước ta (Nóng ẩm, mưa nhiều) thì bệnh Ký sinh trùng đường
2.2.1.1. Đại cương về đặc điểm sinh lý giải phẫu của gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ chim hoang dại, có bộ xương xốp, nhẹ và thân
phủ lông vũ, chi trước biến thành cánh để bay, con cái đẻ trứng sau khi ấp thì
nở thành gia cầm con.
Gia cầm khác với động vật khác ở chỗ cường độ của quá trình trao đổi
chất lớn, thân nhiệt cao,gia cầm sinh trưởng nhanh, khối lượng gà Broiler lúc
50 ngày tuổi gấp 40-50 lần trọng lượng lúc mới nở (Nguyễn Duy Hoan và
cộng sự, 1997).
Cấu tạo chức năng của bộ máy tiêu hoá cũng có những điểm riêng biệt,
gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ, khoang miệng không có răng và môi, mặt trên
lưỡi có những răng rất nhỏ hoá sừng hướng về phía cổ họng để đưa thức ăn
vào thực quản. Thức ăn không được nghiền nhỏ mà chỉ được nước bọt làm
trơn ướt để nuốt. Thức ăn từ miệng vào thực quản, thực quản có đoạn phình to
tạo thành diều, thức ăn được làm mền, khuấy trộn và tiêu hoá từng phần do
các men và vi khuẩn có trong thức ăn, nhờ mem Amilaza mà tinh bột phân
giải thành đường Glucose, ở gà không có phản xạ nôn thức ăn từ diều không
trở lại miệng được.
Sau một thời gian ở diều thức ăn được làm mềm xuống dạ dày tuyến và
thức ăn không ở dạ dày tuyến lâu, sau khi thức ăn đã được làm ướt và mền thì
được chuyển xuống dạ dày cơ, tại dạ dày cơ diễn ra đồng thời hai quá trình
tiêu hoá hoá học và tiêu hoá cơ học. Các men tiêu hoá được tiết ra từ dạ dày
tuyến thấm vào thức ăn xuống dạ dày cơ. Tại đây quá trình tiêu hoá Protein
được diễn ra như sau.
Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá, nhờ có cơ và lớp sừng phát triển mà
thức ăn được nghiền nát và trộn lẫn dịch vị của dạ dày tuyến. Acid HCl tác
19
động làm Protein căng phồng, và nhờ có pepsin mà Protein được phân giải
thàn pepton và một phần acid amin.
Từ dạ dày cơ thức ăn đi vào ruột, thức ăn ở ruột non được trộn đều ướt
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Ngoài ra còn các chỉ tiêu về chất lượng thịt của gia cầm như:
*) Khả năng sinh sản của gia cầm:
Năng xuất sinh sản của gia cầm thể hiện sức sản xuất của gia cầm, được
đánh giá qua các chỉ tiêu:
- Sức đẻ trứng của gia cầm: Là chỉ tiêu chủ yếu của gia cầm hướng trứng
và là chỉ tiêu quan trọng của gia cầm hướng thịt hoặc kiêm dụng. Đồng thời,
nó cũng là đặc điểm vi sinh vật quan trọng, là chỉ tiêu kinh tế, sử dụng trong
việc sản xuất trứng thương phẩm, trứng ấp, sản xuất gia cầm non.
- Cường độ đẻ trứng: Được biểu thị qua số trứng đẻ trong một khoảng
thời gian xác định không kể đến chu kỳ hay nhịp đẻ.
- Trật đẻ: Là số trứng đẻ ra liên tục, trật đẻ có thể kéo dài vài ngày hay
vài trục ngày tùy thuộc vào loài, giống và cá thể. Thời gian trật đẻ có mối
quan hệ tương quan thuận với năng suất sinh sản của gia cầm, nếu thời gian
trật đẻ của gia cầm có năng suất sinh sản càng cao.
- Sức bền đẻ trứng: Được biểu thị bằng số trứng đẻ ra trong thời gian từ
khi gia cầm bắt đầu đẻ trứng đến khi nghỉ thay lông. Những gia cầm có năng
suất sinh sản cao thì thường có sức bền đẻ trứng tốt.
2.2.1.3. Cơ sở khoa học về phát dục
*) Sinh trưởng và cơ sở di truyền của sinh trưởng
+ Khái niệm về sinh trưởng:
Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ do quá trình
đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về kích thước các chiều, về khối lượng,
thể tích của các cơ quan bộ phận và của toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di
truyền từ đời trước.
Quá trình sinh trưởng của con vật được tính từ khi trứng được thụ tinh
cho đến khi con vật trưởng thành, quá trình cốt hóa đã xảy ra hoàn toàn.
21
+ Cơ sở di truyền của sinh trưởng:
22
*) Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng:
Trong chăn nuôi, sinh trưởng là tập hợp tính trạng số lượng, nó mang
tính di truyền tương đối cao (h
2
= 0,3 – 0,5) và có liên quan đến trao đổi chất,
kiểu hình của dòng, giống.
+ Ảnh hưởng của dòng, giống:
Mỗi dòng, giống đều có tốc độ sinh trưởng khác nhau, sự sinh trưởng
đó là do gen được di truyền từ bố mẹ. Nhưng hầu hết các gen này là các
gen quy định tính trạng số lượng. Do vậy, nó ảnh hưởng rất lớn bởi các
yếu tố ngoại cảnh như: chế độ nuôi dưỡng, chăn sóc, quản lư đặc biệt là
thức ăn dinh dưỡng.
Sự tương tác giữa yếu tố di truyền và ngoại cảnh có ý nghĩa rất lớn trong
chăn nuôi. Ở động vật có cùng kiểu gen ở môi trường này thì biểu hiện tốt
hơn nhưng ở môi trường khác thì kém, thậm chí không biểu hiện được. Cho
nên cần thiết phải tạo ra môi trường thích hợp để cho kiểu gen đó được biểu
hiện tốt nhất, đầy đủ nhất tính di truyền của dòng, giống.
+ Ảnh hưởng của tính biệt đến sinh trưởng:
Tính biệt là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến khối lượng cơ
thể gà. Gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24 – 32%. Sự sai khác này cũng
được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do
hormone sinh học mà do các gen liên kết giới tính.
Lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sự khác
nhau này càng lớn: ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi là >11%
+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sinh trưởng:
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng.
Theo Lê Hồng Mận và cộng sự, 1995 protein trong thức ăn thích hợp
nuôi gà Broiler sẽ cho năng suất cao.Tác giả cũng cho biết ý nghĩa của việc
cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và axit amin với năng lượng đến khả
*) Đặc điểm hình thái (Phạm Sỹ Lăng, 2005)[4]
24
Các loài Leucocytozoon spp có nhiều hình dạng khác nhau trong quá
trình phát triển ở ký chủ cũng như ký chủ trung gian. Kích thước thay đổi tùy
thuộc dạng ký sinh trùng và loài ký sinh trùng. Chúng có hình dạng gần giống
nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh, mức độ ăn màu khi nhuộm giemsa.
+ Trên chủ trung gian:
- Dạng bào tử (Sporozoite): Hình thuẫn, hình elip nhọn 2 đầu. Kích
thước: 10-15 µm. Thể này thấy ở tuyến nước bọt.
+ Trên vật chủ:
- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, đường kính 1-3 µm,
Megaloschizont kích thước 30-45µm x 100-500µm. 1 số megaloschizont có
kích thướt lên đến 640 µm. (Lâm Thị Thu Hương, 2006)[4]
- Dạng bào tử (Schizont): hình elip nhỏ 2 đầu, kích thướt 20-45 µm.
- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích
thước 350-400 µm.
- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích
thước 20-25 µm.
Vòng đời
Các loài Leucocytozoon spp phát triển vòng đời rất phức tạp,cần vật chủ
trung gian là các loài dĩn thuộc giống Simulium spp, Culicoides spp. Tùy các
vùng sinh thái khác nhau thành phần các loại dĩn cũng thay đổi. (Phạm Sỹ
Lăng, 2005)[5].
Theo Lâm Thị Thu Hương, 2006[3], chu kì phát triển của leucocytozoon
gồm 3 giai đoạn:
-Trên Dĩn: Theo Phạm Sỹ Lăng, 2005[4] sau khi xâm nhập vào dĩn do
dĩn hút máu chim bệnh hay gà bệnh các tiểu thể (Merozoite) phát triển qua
một số giai đoạn ở vách dạ dày thành noãn nang (Ocyst) để thành thể bào
tử (Sporozoite), chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn sau khoảng thời gian