1
TR : Trang
Cs : Cộng sự
% : Tỷ lệ phần trăm
≤ : Nhỏ hơn hoặc bằng
< : Nhỏ hơn
> : Lớn hơn
Kg : Kilogram
µm : Micrômét
mm : Milimét
NXB : Nhà xuất bản
T. suis : Trichocephalus suis
TT : Thể trọng
n : Dung lượng mẫu
THT : Tụ huyết trùng
LMLM : Lở mồm long móng
1
2
2
3
3
4
4
5
vật nuôi tương đối cao, gây khó khăn cho việc phát triển chăn nuôi.
5
6
- Mùa khô (kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau),có ngày thời tiết
lạnh và khô, nhiệt độ khá thấp (trung bình từ 15 - 24
0
C), độ ẩm trung bình
76 - 80%. Ngoài ra, mùa đông còn có gió mùa Đông Bắc kéo dài, gây rét
đậm, rét hại và có thể có sương muối là điều kiện bất lợi gây ảnh hưởng xấu
đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng và
vật nuôi.
Nhìn chung, Phú Bình là một huyện có điều kiện khí hậu và thời tiết
thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi so
với các địa phhương khác của tỉnh Thái Nguyên.
1.1.1.4. Giao thông, thủy lợi
Phú Bình có tuyến Quốc lộ 37 chạy dọc theo chiều dài của huyện,
đường liên tỉnh nối với Bắc Giang và hệ thống đường tỉnh lộ, đặc biệt có
đường tỉnh lộ nối Quốc lộ 37 với Quốc lộ 3 thông sang khu công nghiệp
Sông Công nên rất thuận lợi cho giao thông, đi lại, trao đổi hàng hóa và giao
lưu văn hóa.
Ngoài ra, trong huyện còn có hệ thống đường liên xã, liên thôn về cơ
bản đã được bê tông hóa thuận lợi cho việc đi lại và phát triển sản xuất.
Nguồn nước của huyện Phú Bình khá dồi dào với dòng Sông Cầu và
Sông Máng chảy qua cộng với hệ thống kênh mương đã được bê tông hóa
đảm bảo cung cấp nước tưới cho phần lớn diện tích trồng trọt của huyện. Do
vậy, việc tưới tiêu được chủ động, đảm bảo cho ngành trồng trọt phát triển
khá thuận lợi.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Điều kiện xã hội
Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn.
3 trường trung học cơ sở). Chất lượng dạy và học được tăng lên, số lượng học
sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp đều
tăng dần qua các năm.
Ngoài ra, huyện có 2 trung tâm (Trung tâm giáo dục thường xuyên,
Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề) và 1 trường đào tạo nghề với 187 phòng
học phục vụ cho việc học văn hóa và đào tạo ngành nghề cho các đối tượng
khác nhau.
7
8
1.1.2.2. Điều kiện kinh tế
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của huyện Phú Bình có nhiều
khởi sắc và có những thay đổi đáng kể.
Phú Bình với đặc điểm là một huyện thuần nông, nên sản xuất nông
nghiệp vẫn là hướng phát triển chủ yếu với cả 2 lĩnh vực chính là trồng trọt và
chăn nuôi với kinh tế hộ đóng vai trò chủ đạo.
Từ khi chuyển đổi sang cơ chế quản lý mới, các hộ dân đã tận dụng
mọi nguồn lực của bản thân và sự hỗ trợ từ các chính sách của Đảng và Nhà
nước để đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, phát triển
kinh tế. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới đã được đưa vào thử nghiệm và
sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống cho bà con
nông dân.
1.1.3. Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1.Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt
Nằm trong vùng có khí hậu có gió mùa nên Phú Bình có điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây lương thực và cây thực phẩm theo
các mùa khác nhau. Với tổng diện tích đất nông nghiệp hiện có, Phú Bình đã
đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất nông nghiệp so với các huyện
khác trong tỉnh, là địa phương cung cấp nguồn sản phẩm nông nghiệp lớn
nhất cho thị trường trong tỉnh. Đặc biệt, trong những năm gần đây nhờ áp
dụng các thành tựu khoa học công nghệ - công nghệ và kỹ thuật vào sản xuất
cầm theo phương thức công nghiệp. Theo thống kê, huyện Phú Bình năm
2012 có gia cầm 1.450.000 con.
1.1.4. Hoạt động của trạm thú y huyện Phú Bình
Trạm Thú y huyện Phú Bình được thành lập từ năm 1981 đến nay đã
phát triển rất mạnh, trạm có hệ thống mạng lưới thú y cơ sở gồm 21 ban chăn
nuôi thú y của các xã, thị trấn.
Trạm có chức năng và nhiệm vụ như sau:
- Tổ chức, hướng dẫn tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm theo định kỳ
hàng năm.
- Phát hiện tình hình dịch bệnh, quản lý các ổ dịch cũ, báo cáo tình hình
dịch bệnh cho UBND huyện và chi cục Thú y tỉnh.
- Chẩn đoán, điều trị bệnh, bao vây dập tắt các ổ dịch theo hướng dẫn
của chi cục Thú y tỉnh.
- Quản lý thuốc thú y, hướng dẫn sử dụng các loại thuốc thú y.
9
10
- Kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y về động vật và
sản phẩm động vật, thanh tra theo pháp luật thú y.
- Cấp phát hoặc thu hồi các loại giấy tờ về quản lý nhà nước trong lĩnh
vực thú y.
- Đào tạo và tập huấn đội ngũ cán bộ thú y viên cơ sở, phổ biến tuyên
truyền sâu rộng đến các hộ nông dân về kiến thức thú y trong toàn huyện.
- Nghiên cứu và đưa ra những tiến bộ khoa học kỹ thuật thú y vào thực
tế chăn nuôi cho người dân.
1.1.5. Đánh giá chung
Qua điều tra tình hình thực tế của huyện, chúng tôi có nhận xét như sau:
1.1.5.1. Thuận lợi
- Huyện được thụ hưởng rất nhiều chính sách đầu tư của Đảng và
Nhà nước.
- Huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển mô hình
- Khi xảy ra dịch bệnh, người dân chưa ý thức được sự nguy hiểm
của dịch bệnh nên đã thải gia súc chết ra sông Cầu gây ô nhiễm và lan
truyền dịch bệnh.
+,!-#./01(.0203456$7#*08'389*:#;$
1.2.1. Nội dung phục vụ sản xuất
Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình, thuận lợi và khó khăn của cơ
sở, chúng tôi đề ra nội dung công tác phục vụ sản xuất trong thời gian thực
tập tốt nghiệp như sau:
- Tiêm phòng cho gia súc, gia cầm.
- Chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm.
1.2.2. Phương pháp thực hiện
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, chúng tôi đã đề ra biện pháp sau:
- Xây dựng kế hoạch công tác chi tiết, cụ thể, sắp xếp thời gian cho hợp
lý, có thái độ làm việc đúng đắn.
- Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy, quy định của nhà trường và của
cơ sở.
- Thực hiện nghiêm túc quy trình, giờ giấc làm việc.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc và rèn luyện ý thức tổ
chức, kỷ luật.
- Bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình của cơ sở.
- Thường xuyên học tập, củng cố kiến thức chuyên môn.
- Khiêm tốn học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ
sở, cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi.
11
12
- Năng động, sáng tạo trong công việc, mạnh dạn áp dụng các kiến thức
đã học vào thực tế.
- Xây dựng mối quan hệ tốt, hòa nhã vui vẻ với mọi người.
1.2.3. Kết quả phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Trạm Thú y huyện Phú Bình,
phản xạ trung tiện.
+ Ức chế quá trình lên men sinh hơi bằng cách: Dùng 15 - 20 củ tỏi giã
nhỏ hòa với 11 ml nước cho uống.
+ Trợ tim, trợ hô hấp bằng Cafein Natri benzoat, B.Complex.
+ Kết quả điều trị: 2 con, khỏi 2 con, đạt 100%.
* Bệnh lợn con phân trắng
Đây là bệnh do vi khuẩn E.coli gây ra và là một bệnh truyền nhiễm cấp
tính có đặc trưng là tiêu chảy, nhiễm trùng và nhiễm độc huyết. Lợn con từ 1 -
21 ngày tuổi mắc nhiều.
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn đường ruột E.coli có hại thuộc họ vi khuẩn
đường ruột Enterobacteriaceae gây nên. Chúng gồm những chủng có độc tính
kháng nguyên khác nhau. Ngoài ra, có thể do các yếu tố bất lợi về thời tiết,
điều kiện nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, hay do gia súc mẹ lúc mang thai
không được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nên ít sữa đầu dẫn đến sức đề kháng
của lợn con kém.
- Triệu chứng: Bệnh xảy ra thể cấp tính, á cấp tính và mãn tính. Lợn
con bệnh không bú, nằm một chỗ, da nhăn nheo, lông xù, mắt trũng, đi lại
xiêu vẹo, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, phân trắng, mùi hôi tanh khó chịu.
Nếu không điều trị kịp thời sẽ chết sau 3 - 5 ngày
- Điều trị:
+ Thuốc uống: Thuốc bột Clivet, hòa tan trong nước, cho uống ngày 2
lần, liều lượng 5g/con/ngày.
+ Dùng thuốc tiêm: EnroFlox - T, tiêm 2 lần trên ngày, liều lượng
1ml/5 -7 kg TT/lần, kết hợp vitamin B1 2ml/lần/ ngày.
Liệu trình điều trị 3 - 5 ngày.
Chúng tôi tiến hành điều trị 47 con, khỏi 41 con, đạt 87,23%.
* Bệnh viêm tử cung ở lợn nái
- Nguyên nhân: Do nhiều nguyên nhân gây nên, chủ yếu do vi khuẩn
xâm nhập vào dạ con trong thời gian đông dục hoặc thụ tinh nhân tạo sai kỹ
thuật cũng có thể do một số bệnh truyền nhiễm gây ra.
phương, trong thời gian thực tập tại cơ sở chúng tôi còn tham gia một số công
tác khác như: Tẩy sán lá gan cho trâu, bò, tẩy giun đũa lợn, thiến lợn đưc, thụ
tinh nhân tạo cho bò, tiêm Dextran - Fe cho lợn con…
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được trình bày ở bảng 1.1:
14
15
*.<6$7#*'=.$2'08'389*:#;$
,!-#.'=.3!>' ?@1A.B'CD
<6$7#*
?@1A.
B'CD
E@>BFD
!GH0I. An toàn
vaccin LMLM trâu bò 23 23 100
Vaccin THT trâu bò 250 250 100
Vaccin cúm gia cầm 3000 3000 100
Vaccin Tụ dấu lợn 550 550 100
Vaccin Dịch tả lợn 500 500 100
+ !"#$%J Khỏi
Bệnh chướng hơi dạ cỏ ở bò 2 2 100
Bệnh phân trắng lợn con 47 41 87,23
Viêm tử cung ở lợn nái 4 4 100
Bệnh cầu trùng gà 500 479 95,80
K=.$2'52' Đạt kết quả
Tẩy sán lá gan trâu, bò 5 5 100
Tẩy giun cho lợn 100 100 100
Thiến lợn đực 10 10 100
Thụ tinh bò 1 1 100
Tiêm Dextran - Fe cho lợn con 11 11 100
K<6$@#L34M".J
- Trạm thú y huyện cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa với chính quyền các
cấp từ huyện về xã để làm tốt công tác vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh cho
gia súc, gia cầm.
- Cần đẩy mạnh tuyên truyền nhân dân thấy rõ tính chất cần thiết và
tầm quan trọng của việc phòng bệnh hơn chữa bệnh và tổ chức công tác tiêm
phòng triệt để hơn nữa.
16
17
+
NO POQ<RS
Tên đề tài:
“Tình hình mắc bệnh giun tròn Trichocephalus suis ở đàn lợn nuôi
tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp
phòng trị”
+ T$3;M"
2.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa hiện đại hóa. Cùng với
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi cũng từng bước phát
triển cả về số lượng và chất lượng nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất.
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở
các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Chăn nuôi lợn cung cấp một khối lượng lớn thực phẩm có giá trị cho
con người. Ở nước ta, thịt lợn tiêu thụ chiếm từ 75 - 80% tổng khối lượng thịt
tiêu thụ còn trên thế giới tỷ lệ này khoảng 40% và đang có xu hướng tăng lên
(Vũ Đình Tôn, 2009 [26]). Chăn nuôi lợn phát triển không chỉ cung cấp
nguồn thực phẩm cho xã hội mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến và phân bón cho ngành trồng trọt. Hiện nay, phân lợn còn
được dùng làm nguyên liệu để sản xuất khí đốt (bioga) vừa đem lại hiệu quả
kinh tế cao vừa có tác dụng chống ô nhiễm môi trường, đặc biệt là những khu
một số xã của huyện Phú Bình.
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh.
- Xác định một số loại thuốc điều trị bệnh giun T. suis ở lợn.
2.1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về
đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn do T. suis gây ra ở lợn tại một số xã ở huyện
Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên; về một số đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện
pháp phòng trị.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu
quả, từ đó hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra.
++V.7#&$4!@!>#
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1. Những hiểu biết về giun tròn Trichocephalus suis ký sinh ở lợn
- Vị trí của giun tròn T. suis trong hệ thống phân loại động vật
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], vị trí của Trichocephalus suis
(T. suis) trong hệ thống phân loại động vật như sau:
18
19
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz. 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz. 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephaliae Ranson, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
- Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [14]: Giun có màu trắng đục; thân
chia ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc, phần sau
ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản.
Thọc sâu vào niêm mạc ruột
Ấu trùng
Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 - 52 ngày. Giun cái đẻ trong ruột
già của ký chủ. Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28
ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Trứng này theo thức ăn,
nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào
niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy loài giun tròn nhưng
đối với T. suis cần 30 ngày.
Skrjabin K.I. (1979) [29] cho rằng. giun T.suis phát triển vòng đời
không cần vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi
trường ngoại cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành
dạng cảm nhiễm từ 3 - 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã
hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.
Trịnh Văn Thịnh (1985) [24] cho biết, chu kỳ sinh học của giun T. suis
gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến
ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát
triển thành giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ.
Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [22], Đào trọng Đạt và cs (1996) [2] cho
rằng , tuổi thọ của giun T. suis ở lợn từ 4 - 5 tháng . Theo Lương Văn Huấn và
cs (1990) [4], giun T.suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày.
20
21
* Sức đề kháng của trứng giun T.suis
Ở môi trường ngoại cảnh , trứng giun T. suis phát triển thuận lợi nhất ở
nhiệt độ từ 18 - 30
0
C, ẩm độ 80 - 85%.
21
22
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [14] cho biết, bệnh thường xảy ra đối với
lợn dưới 6 tháng tuổi. Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun nhẹ hơn, ít thể
hiện các triệu chứng lâm sàng.
Bùi Quý Huy (2006) [5] cho biết, giun T.suis ở lợn và giun Trichuris
trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng
nguyên, do đó bệnh giun T.suis ở lợn dễ lây sang người.
+ Tuổi mắc bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13], bệnh giun T.suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các
tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm giun T.
suis từ 4,3 - 30% (ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng tuổi) và 0,56 - 7,8 % (ở lứa tuổi
trên 6 tháng tuổi).
Lương Văn Huấn và cs (1990) [4], cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T. suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4%
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2%
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4%
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [22], kết quả điều tra ở 37 nông
trường quốc doanh (1965 - 1968) trên 372 lợn mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm một
số loài giun sán là: Ascaris suis 55 - 100% (22 - 88 giun/ lợn);
Trichocephalus suis cao nhất 100% (từ 155 đến vô số giun trên một con lợn).
Phạm Văn Khuê (1982) [6] nghiên cứu biến động nhiễm giun sán theo
tuổi lợn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, theo tác giả điều này rất quan
trọng vì qua đó có thể nắm được lứa tuổi nào nhiễm giun sán cao, lứa tuổi nào
nhiễm thấp để có cơ sở khoa học xây dựng các biện pháp phòng trừ. Qua
kiểm tra 289 lợn ở 4 lứa tuổi (dưới 2 tháng, 3 - 4 tháng, 5 - 7 tháng và trên 8
tháng), kết quả cho thấy: Lợn con dưới 2 tháng tuổi đã nhiễm tới 12 loài trong
đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ nắng 2000 -
2300 giờ/ năm) nhiệt độ những tháng nóng có thể lên tới 38 - 40
0
C nên tỷ lệ
nhiễm các loài giun sán nói chung đều thấp, đặc biệt là các loài giun sán nhiễm
trực tiếp như T. suis (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [22]).
+ Phương thức nuôi
Phương thức chăn nuôi là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh
hưởng tới khả năng nhiễm giun T. suis của lợn. Phạm Sỹ Lăng và cs (2009)
[14] cho rằng các cơ sở chăn nuôi mà điều kiện vệ sinh kém, lợn bị nhiễm
bệnh với tỷ lệ cao, gây thiệt hại đáng kể cho đàn lợn con.
23
24
Phạm Văn Khuê (1967) đã mổ khám 141 lợn và xét nghiệm 619 mẫu
phân ở tỉnh Hà Bắc, thấy 13 loài giun sán. Trong đó, những loài phổ biến là:
Fasciolopsis buski, Ascaris suum, Trichocephalus suis, Taenia hydatigena.
Những loài giun tròn phát triển như Trichocephalus suis thì tỷ lệ nhiễm đến
100%. Những loài giun sán phải qua ký chủ trung gian như sán lá ruột, giun
đầu gai thì tỷ lệ nhiễm khác nhau tùy theo điều kiện đất đai, thức ăn (trồng ở
nước hay ở cạn), sự tồn tại hay không của các ký chủ trung gian và điều kiện
vệ sinh chăn nuôi (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [22]).
Phan Văn Lan (1970) mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân tại
xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở lợn
nuôi thả rông là 96,5%. Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn nuôi nhốt là
30%; lợn nuôi thả rông là 47% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [22]
+ Yếu tố Stress
Các yếu tố stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ và ẩm độ môi trường thay đổi ) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ
lây lan bệnh giun T. suis ở lợn.
- Cơ chế sinh bệnh
lượng giun ký sinh trong từng cơ thể lợn. Ở những lợn trưởng thành không
thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng khi kiểm tra phân mới thấy lợn
nhiễm giun T. suis.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2001) [11], Phan Địch Lân và cs (2005)
[15], khi lợn nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ ràng. Khi nặng thì con vật
gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật
bị kiết lỵ. Nếu nhiễm bệnh nhân tạo với lượng trứng lớn (20.000 - 200.000
trứng), thì triệu chứng biểu hiện rất nặng: Ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết.
Lợn bị nhiễm bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [14] cho biết: Lợn ở lứa tuổi 2 - 4 tháng
tuổi nhiễm bệnh xuất hiện các dấu hiệu như ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng, sau
phân sệt có nhiều chất nhầy, lẫn máu. Mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong
lưng rặn nhưng lượng phân thải ra ít. Nếu không được điều trị, lợn bệnh sẽ
kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày.
Theo Skrjabin K.I (1979) [29], triệu chứng bệnh giun T. suis phụ thuộc
vào cường độ cảm nhiễm. Khi nhiễm nặng, lợn có biểu hiện da khô, xù lông,
ỉa chảy rồi bị táo bón Độc tố do T. suis tiết ra có tác động gây bệnh mạnh,
làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị
phân hủy.
25