NGHIÊN cứu BỆNH cầu TRÙNG ở đàn gà NUÔI tại một số xã THUỘC HUYỆN yên PHONG TỈNH bắc NINH - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
[\ NGUYỄN NGỌC VƯỢNG
NGHIÊN CỨU BỆNH CẦU TRÙNG Ở ĐÀN GÀ
NUÔI TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THỌ HÀ NỘI, 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn Nguyễn Ng
ọc Vượng



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu chung của đề tài 2
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu về bệnh cầu trùng 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
2.2 M
ột số đặc điểm của cầu trùng 9
2.2.1 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 9
2.2.2 Vòng đời phát triển của cầu trùng. 10
2.2.3 Tính chuyên biệt của cầu trùng 14
2.3 Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gà 15
2.3.1 Các loài gây bệnh trên gà đã được nghiên cứu 15
2.3.2 Đặc điểm dịch tễ học 18
2.3.3. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của gà bị bệnh cầu trùng 19
2.3.4. Các phương pháp chẩ
n đoán bệnh cầu trùng gà 21
2.4. Miễn dịch học trong bệnh cầu trùng 22

Lương Phượng từ 1 đến 7 tuần tuổi 54
4.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo các tháng trong năm 60
4.2. Một số đặc điểm bệnh lý chủ
yếu của bệnh cầu trùng gà 62

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

4.2.1. Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở gà mắc bệnh
cầu trùng 62
4.2.2. Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà mắc bệnh
cầu trùng 66
4.2.3. Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể chủ yếu ở một số cơ quan của
gà mắc bệnh cầu trùng 70
4.2.4. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết h
ọc của gà mắc bệnh
cầu trùng 74
4.2.5 Hiệu lực phòng bệnh của một số loại thuốc phòng trị cầu trùng 80
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà tại huyện Yên Phong tỉnh
Bắc Ninh. 44

STT Tên hình Trang

4.1. Eimeria mitis 59
4.2. Eimeria maxima 59
4.3. Eimeria tenella 59
4.4. Eimeria necatrix 59
4.5. Eimeria tenella, Eimeria brunetti 59
4.6. Eimeria tenella, Eimeria mitis, Eimeria brunetti 59
4.7. Manh tràng sưng chất chứa có máu 70
4.8. Niêm mạc ruột sưng xuất huyết 70 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

SMKT : Số mẫu kiểm tra
SMN : Số mẫu nhiễm
TLN : Tỷ lệ nhiễm
E : Eimeria Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

PHẦN I. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia súc, gia cầm từ lâu đã trở thành một vị trí quan trọng
trong ngành chăn nuôi của nước ta. Trong những năm gần đây ngành chăn
nuôi đã có những thay đổi đáng kể cùng với quá trình phát triển của ngành

1.2. Mục tiêu chung của đề tài
- Đánh giá được tình hình nhiễm cầu trùng của đàn gà Ai cập nuôi theo
phương thức công nghiệp và đàn gà Lương Phượng nuôi theo phương thức
thả vườn tại hai xã Tam Giang và Thuỵ Hoà qua xét nghiệm phân. Từ đ
ó
cung cấp những thông tin cơ sở cho việc phòng bệnh cầu trùng ở gà.
* Mục tiêu cụ thể
- Xác định tỉ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo các lứa tuổi, mùa vụ và
phương thức nuôi khác nhau.
- Làm rõ các đặc điểm biến đổi bệnh lý chủ yếu của bệnh cầu trùng gà
qua quan sát triệu trứng lâm sàng, mổ khám quan sát bệnh tích đại thể và
quan sát bệnh tích vi thể trên tiêu bản. Từ đó giúp người chăn nuôi phát hi
ện
sớm, chẩn đoán nhanh và chính xác về bệnh cầu trùng gà để có biện pháp
điều trị kịp thời
- Xác định rõ các loại cầu trùng gây bệnh ở gà Ai Cập và Lương
Phượng nuôi theo hướng công nghiệp và thả vườn. So sánh hiệu lực phòng
và trị bệnh của một số thuốc. Từ đó đưa ra khuyến cáo cho người chăn nuôi
dung thuốc có hiệu quả. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Lịch sử nghiên cứu về bệnh cầu trùng
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Cầu trùng là động vật đơn bào có hình thái đa dạng phụ thuộc vào từng
loài cầu trùng như: hình trứng, hình bầu dục…, chúng ký sinh chủ yếu ở tế
bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả người.

Sau này, một số tác giả khác ở Trung Âu và Liên Xô (cũ) như
Yakimoff, Kotlan đã đưa ra một số công bố về 3 loài: Eimeria beachi,
Eimeria tyzzeri, Eimeria johnsoni.
Tại Ấn Độ, năm 1945, Ray đã tìm thấy một loài cầu trùng ở
một ổ dịch
tự nhiên trên gà con 4 – 6 tuần tuổi tại bang Mukteswar. Loài cầu trùng này
chưa được công bố trước đó. Tác giả cho rằng đây là loài không thuộc giống
Eimeria và đặt tên cho nó là Nenyolella gallinae, tuy nhiên kết quả này của
tác giả chưa được giới khoa học công nhận.
Sau những năm 1990, các nhà khoa học như J.Eckert, R.Brawn,
M.W.Shirley và P.Coudert đã viết những hướng dẫn nghiên cứu về cầu trùng
và bệnh cầu trùng gà.
Singh.U.M (1996, 1997) đã nghiên cứu chế
tạo vaccine cầu trùng mới
bao gồm E. maxima, E.acervulina, E. necatrix, E. tenella đã được sử dụng thử
nghiệm tại Trung Quốc.
* Nghiên cứu về khả năng đề kháng của cầu trùng đối với hóa chất
Nyberg và Knapp (1976) qua kính hiển vi điện tử cho thấy, lớp ngoài
cùng của noãn nang có thể khử bằng dung dịch Sodium hypochlorid 2-3%
trong 15 phút, (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008)
Pernard (1925) đã chứng minh noãn nang tiếp tục sinh bào tử sau nhiều
ngày tiếp xúc với nhi
ều loại hóa chất, chất sát trùng nhưng lại không có khả
năng phát triển trong điều kiện khô và nhiệt độ cao. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

Stotish, Wang và Mayenhofer (1978), cùng nghiên cứu về bản chất hóa
học của thành Oocyst qua xử lí bằng Sodium hypochlorid 5% lại cho rằng

C, ẩm độ 21 – 30% thì Oocyst dễ bị chết
sau 4 – 5 ngày.
* Nghiên cứu về ảnh hưởng của các tia tử ngoại đến sức sống của
cầu trùng
Theo nghiên cứu của Fish (1932) ở phòng thí nghiệm thấy, Oocyst bị tiêu
diệt khi chiếu tia tử ngoại vừa phải (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

Cũng theo Warner D.E (1933), Oocyst tồn tại 18 tuần trong đất râm mát
một phần, 21 tuần trong đất râm mát hoàn toàn. Song ánh nắng chiếu trực tiếp
tác động gây hại đến Oocyst, nhưng cỏ dại đã bảo vệ chúng tránh tia X (Long
P.L và cộng sự, 1979).
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nhà nghiên cứu dự đoán bệnh cầu trùng gà đã có từ rất lâu trong
chăn nuôi hộ gia đình. Từ thời Pháp thuộc người ta đã thấy gà có những triệ
u
chứng như: ỉa ra máu, khi mổ gà chết thì thấy hai manh tràng sưng to giống
với bệnh tích của cầu trùng ngày nay.
Theo những tài liệu để lại thì đến 1970 hầu như các trang trại gà đã
phát hiện bệnh cầu trùng và một số trại thì bệnh rất nặng gây thiệt hại lớn cho
người chăn nuôi. Những năm sau đó, các nghiên cứu về cầu trùng cũng được
tiến hành bao gồm: việc định loài, d
ịch tễ, bệnh lý và phòng trị,…nhờ có
những nghiên cứu bước đầu này mà việc ngăn chặn bệnh cầu trùng phần nào
có hiệu quả. Có thể nói những tác giả như Dương Công Thuận, Đào Hữu
Thanh, Nguyễn Văn Lốc là những người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho
việc nghiên cứu về cầu trùng và bệnh cầu trùng gà ở miền Bắc nước ta.
Dương Công Thuận đã phân tích hàng ngàn m
ẫu phân gà và đưa ra kết

Về sự biến động của bệnh theo mùa vụ, Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(2008) sau khi tập hợp các nghiên cứu của một số tác giả đã rút ra kết luận:
bệnh cầu trùng gà phân bố không đồng đều qua các tháng trong năm. Vào
những tháng có khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều, nhiệt độ thích hợp từ 18 – 35
0
C
bệnh thường xuất hiện và dễ bùng phát hơn các tháng khác. Vì vậy, ở nước ta
mùa xuân và mùa hè là hai mùa có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn mùa đông
và mùa thu.
Đào Hữu Thanh và cs (1978) đã nhận xét, bệnh cầu trùng gà có tính lây
lan mạnh, đặc biệt ở gà dưới 2 tháng tuổi, được coi như một bệnh truyền nhiễm
của gà con 10 - 49 ngày tuổi. Theo Hồ Thị Thuận (1985), gà nuôi công nghiệp ở
một số tỉnh phía Nam nhiễm cầu trùng chủ yế
u ở giai đoạn 3 - 6 tuần tuổi.
Hoàng Thạch (1996, 1997, 1998) đã khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng,
thấy: tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng có

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

đệm lót là trấu nhiễm 22,49 - 57,38%. Như vậy, gà nuôi trong lồng không tiếp
xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cấu trùng giảm rất thấp.
Hoàng Thạch (1996, 1997, 1998) đã nghiên cứu và cho thấy ở những cơ
sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ
nhiễm cầu trùng 5 – 10%, còn ở những cơ sở chăn nuôi có điều kiện không đảm
bảo thì tỷ
lệ nhiễm là từ 30 – 69%, (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008).
Vấn đề sinh bệnh học đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về nhiều mặt.
Quá trình sinh bệnh học trước hết do tác động trực tiếp của mầm bệnh
qua các giai đoạn phát triển nội sinh trong cơ thể gà: làm cho các tế bào biểu
bì bị phá hủy hàng loạt, các mạch quản, thần kinh bị hủy hoại, tạo điều ki

2.2 Một số đặc điểm của cầu trùng
2.2.1 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst (noãn nang) cầu trùng có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu,
gần tròn, hình trứng hay hình oval có khi có hình quả lê,… kích thước cũng
khác nhau thay đổi theo từng loài. Tuy nhiên phần lớn Oocyst cầu trùng có
đặc điểm cấu tạo như sau: Cấu tạo Oocyst giống Eimeria gây bệnh
1. Nắp Oocyst (Micropyle cap) 2. Hạt cực (Pular granule)
3. Lỗ noãn nang (Micropyle) 4. Thể Stieda (Stieda body)
5.Hạt triết quang nhỏ trong Sporozoite (Small
Refractile Globule in Sporozoite)
6. Hạt triết quang lớn trong Sporozoite (Large
Refractile Globule in Sporozoite)
7. Bào tử trùng (Sporocyst) 8. Thể cặn Sporocyst (Sporocyst residuum)
9. Thể cặn Oocyst (Oocyst residuum) 10. Lớp vỏ trong (Inter layer of Oocyst wall)
11. Lớp vỏ ngoài (Outer layer of Oocyst wall) Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

Oocyst màu sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt. Lớp
vỏ ngoài thường nhẵn, cũng có loài xù xì (E. spinosa). Vỏ được chia thành 2
lớp: Vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng. Vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời nhau
bằng cách làm nóng Oocyst ở trong nước hoặc xử lý bằng acid H
2
SO
4


nhân. Braunius (1982) cho rằng, Sporozoit của loài E. necatrix chui vào đỉnh
các nhung mao ruột non, qua biểu mô, vào tuyến ruột. Nhiều tác giả đã chứng
minh rằng Sporoit của các loài cầu trùng khác nhau cũng xâm nhập vào tế bào
biểu mô của các đoạn ruột khác nhau.

Vòng đời phát triển của cầu trùng giống Eimeria .spp.
Chú thích:

+ Giai đoạn sinh sản vô tính (Schyzogonie)
Khi các bào tử nang cầu trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu
hóa, dưới tác dụng của các enzyme trong dịch tiêu hóa làm cho vỏ noãn nang
bị phá hủy, giải phóng các bào tử thể. Các bào tử thể nhanh chóng xâm nhập
vào tế bào tế bào biểu bì ruột, thận, mật,…đôi khi vào mô bào dưới niêm mạc.
Tại đây cùng với sự phân chia của hạt nhân các noãn nang lớn lên nhanh
chóng có hình tròn, hình oval hoặc hình elip với nhiều nhân gọi là thể phân
lập thuộ
c thế hệ 1 (Schizont 1). Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

Ở Schizont 1, xung quanh mỗi nhân nguyên sinh chất xuất hiện và bao
quanh để hình thành dạng ký sinh nhỏ, hình bầu dục. lúc này chúng được gọi
thể phân lập trung gian (Merozoite). Các Merozoite thế hệ 1 (kích thước 5 x
15µm) sinh trưởng rất nhanh làm tan vỡ tế bào biểu bì của vật chủ. Số lượng
Merozoite trong một Schizont thay đổi rất lớn tùy loài, dao động từ 8 đến 16,
có khi tới 120.000. Khi các tế bào biểu bì nơi cầu trùng cư trú bị phá hủy thì
các Merozoite lậ
p tức tấn công sang các tế bào biểu bì mới và quá trình phát
triển này được lặp lại như cũ. Đến đây các ký sinh này thuộc thế hệ thứ hai và

trong lòng ruột và kết thúc quá trình sinh sản hữu tính.
Thời gian nội sinh kết thúc, Oocyst theo phân gà ra ngoài môi trường.
Thời gian sinh sản h
ữu tính kéo dài từ 3 – 22 ngày tùy vào từng loài cầu trùng.
Bessay (1995) đã nghiên cứu và thấy rằng, thời gian từ khi gà chứa
Oocyst có sức gây bệnh đến khi gà thải Oocyst trong phân là 4,5 – 5 ngày đối
với loài E. acervulina, E. mitis, 6,5 ngày với loài E. tenella.
+ Sinh sản bào tử (Sporogonie)
Khi Oocyst theo phân ra ngoài, trong lớp vỏ bọc bên ngoài đã chứa đầy
nguyên sinh chất. Ở ngoại cảnh, gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ, độ ẩm
thì chỉ sau vài giờ
trong nguyên sinh chất đã xuất hiện khoảng sáng và nguyên
sinh chất bắt đầu phân chia. Sau 13 – 48 giờ tùy vào từng loài cầu trùng
nguyên sinh chất sẽ hình thành 4 túi bào tử (Sporocyst). Trong mỗi túi bào tử,
nguyên sinh chất lại phân chia, kéo dài ra tạo thành 2 bào tử con (Sporozoit).
Lúc này, trong Oocyst đã hình thành 8 bào tử con và trở thành Oocyst có sức
gây bệnh. Giai đoạn sinh sản bào tử kết thúc. Những Oocyst có sức gây bệnh
lẫn vào thức ăn, nước uống và được gà nuốt vào trong đường tiêu hóa.
Như v
ậy, trong quá trình sinh sản bào tử, đối với cầu trùng thuộc giống
Eimeria, từ mỗi noãn nang (Oocyst) hình thành 4 túi bào tử (Sporozoite), trong
mỗi túi bào tử lại chứa 2 thể bào tử con (Sporozoit). Tất cả 8 bào tử con được
bao bọc xung quanh bởi một vỏ cứng dày gồm hai lớp gọi là bào tử nang
(Sporocyst), kết thúc giai đoạn 3 của quá trình phát triển cầu trùng. Chỉ có các
Oocyst sau khi trở thành Oocyst gây bệnh mới có khả năng gây b
ệnh và truyền
bệnh từ gà này sang gà khác, (N.A.Kolapxki, P.I. Paskin, 1980)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14


ký sinh trong đường tiêu hóa của bò nhưng lại ký sinh ở niêm mạc ruột già.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

Nếu xem xét tính chuyên biệt của cầu trùng thì giống Eimeria biểu hiện
rất rõ rệt, tính chuyên biệt đó đã hình thành trong quá trình thích ứng lâu dài
của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ
quan, mô bào riêng biệt.
Như vậy có thể nói rằng, tùy theo loài cầu trùng mà chúng có thể sống
ở trên vật chủ này hay vật chủ khác, hoặc các vị trí ký sinh khác nhau trên
cùng một cơ thể gia súc gia cầm. Đ
iều này có ý nghĩa quan trọng giúp một
phần trong việc phân loại cầu trùng được chính xác.
2.3 Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gà
2.3.1 Các loài gây bệnh trên gà đã được nghiên cứu
Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về các loài cầu trùng gây bệnh trên các
loài gia súc, gia cầm khác nhau tuy nhiên thì những nghiên cứu, công bố về
loài cầu trùng gây bệnh trên gà và thỏ được đề cập đến nhiều nhất.
+ Loài E. acervulina (Tyzzer, 1929): loài này ký sinh ở đoạn đầu ruột
non củ
a gà và còn ký sinh ở ruột gà rừng Gallus lafayettei ở Srilanka. Oocyst
có hình trứng, vỏ nhẵn, kích thước 16,0 - 20,3 x 12,7 - 16,3µm. Oocyst có hai
lớp vỏ, không có Micropyle, có một hạt cực, không có thể cặn. Sporocyst có
hình trứng có thể Stieda, không có thể cặn.
E. acervulina gây bệnh nhẹ nhưng nếu có nhiều Oocyst có thể gây nên
những bệnh tích trầm trọng, có thể gây chết gà. Thời gian nung bệnh khoảng
4 ngày và bệnh tích chủ yếu trên ruột non: làm thành ruột non dày lên và viêm
catar, ít khi xuất huyết.
Oocyst nằm trong ruột tạo nên những điểm màu trắng
hay xám hoặc lan rộng ở mặt ruột non.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status