ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN
DƯ
Đề tài
“NGHIÊN CỨU BỆNH CẦU TRÙNG
Ở ĐÀN THỎ NUÔI TẠI TỈNH BẮC
GIANG
VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG
TRỊ”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN -
2010
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN
DƯ
Đề tài
“NGHIÊN CỨU BỆNH CẦU TRÙNG
Ở ĐÀN THỎ NUÔI TẠI TỈNH BẮC
GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG
TRỊ”
CHUYÊN NGÀNH: THÚ
Y
MÃ SỐ: 60 62
50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn Hội đồng cơ sở và hội đồng chấm
luận văn cấp Nhà nước đã giúp đỡ và cho phép tôi được bảo vệ bản luận văn
này.
Tôi xin được cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình đã
động viên, tạo điều kiện về thời gian, về vật chất và tinh thần để tôi hoàn
thành tốt khoá học.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010
Tác
giả
Hoàng Văn
Dƣ
ái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU
1
Chƣơng
1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
1.1. Cơ sở khoa học của đề
tài
4
1.1.1. Những hiểu biết về cầu trùng thỏ
4
1.1.2. Thành phần loài cầu trùng
thỏ
24
1.2.1. Thiệt hại về kinh tế do bệnh cầu trùng thỏ gây
ra24
1.2.2. Dịch tễ học của bệnh cầu trùng thỏ
25
1.2.3. Đường truyền
lây27
1.2.4.Cơ chế sinh bệnh của bệnh cầu trùng
thỏ
29
1.2.5. Triệu chứng, bệnh tích của bệnh cầu trùng
thỏ30
1.2.6. Chẩn đoán bệnh cầu trùng
thỏ34
1.2.7. Phòng và điều trị bênh cầu trùng
thỏ
43
2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng thỏ
43
guyên
2.3.2. Xác định loài cầu trùng ký sinh trên
thỏ43
2.3.3.
Nghiên
cứu một số đặc
điểm
bệnh cầu trùng ở thỏ
43
2.3.4. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh cầu trùng thỏ
43
2.4. Phương pháp nghiên
cứu43
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu
43
2.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên
55
3.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo mùa
vụ62
3.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tình trạng vệ sinh thú y . 65
3.1.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo trạng thái phân 68
3.2. Kết quả xác định loài cầu trùng ký sinh ở
thỏ72
3.3. Kết quả nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng và bệnh tích ở thỏ
mắc bệnh cầu
trùng76
3.3.1. Kết quả theo dõi các biểu hiện
lâm
sàng của thỏ mắc bệnh cầu
trùng
76
3.3.2. Bệnh tích của thỏ mắc bệnh cầu
trùng78
3.3.3. Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị và hướng dẫn điều trị
SMKT Số mẫu kiểm tra
SMN Số mẫu nhiễm
guyên
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
TRONG LUẬN VĂN
Hình 1.1. Hình dạng các Oocyst gây bệnh cầu trùng thỏ 8
Hình 1.2. Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng
thỏ
8
Hình 1.3.Chu trình sinh học phát triển của cầu
trùng
10
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm nhiễm cầu trùng trên giống thỏ nội và thỏ New
Zealand tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 51
Bảng 3.2.
Cường
độ
nhiễm
cầu trùng thỏ tại một số
huyện
thuộc tỉnh Bắc
Giang
53
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở thỏ nội theo lứa tuổi
57
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở thỏ New Zealand theo lứa tuổi 58
Bảng 3.5. Cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo lứa tuổi tại một số huyện
thuộc tỉnh Bắc Giang 59
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng của hai giống thỏ nội và thỏ New
Bảng 3.14. Kết quả xác định bệnh tích vi thể của thỏ nhiễm cầu trùng. 81
Bảng 3.15. Hiệu quả của một số phác đồ điều trị bệnh cầu trùng
thỏ
84
1. Đặt vấn đề
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước
phát triển vượt bậc, số lượng, chất lượng gia súc, gia cầm ngày một nâng cao
đã và đang đem lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi. Tuy nhiên
cùng với sự phát triển của ngành, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi diễn
biến hết sức phức tạp, nhiều dịch bệnh nguy hiểm như dịch Cúm gia cầm
H5N1, dịch “tai xanh” ở lợn, dịch LMLM … đã làm giảm đáng kể số lượng
gia súc, gia cầm và gây thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi. Do đó
việc tìm ra loài động vật khác có thể cung cấp nguồn thực phẩm thay thế đã
được nhiều người quan tâm, trong đó thỏ là loài động vật đang được nhiều
người chú ý.
Phong trào chăn nuôi thỏ ở Việt Nam vài năm gần đây đang phát triển
mạnh do tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ngày càng phức tạp và
nhu cầu ngày càng tăng về tiêu thụ thịt thỏ. Chăn nuôi thỏ với mục đích lấy
thịt vì thịt thỏ ngon và bổ dưỡng, thịt thỏ có hàm lượng protein cao (21%) và
hàm lượng mỡ thấp (10%) giàu chất khoáng (1,2%) (Nguyễn Thiện,
2007[30]) nên là món ăn cần thiết cho nhiều người. Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư
ban đầu thấp, chuồng trại có thể tận dụng các vật liệu sẵn có, rẻ tiền, tận dụng
được lao động nhàn rỗi ở nông thôn. Thỏ rất dễ nuôi, thức ăn dễ kiếm chủ
yếu là rau, cỏ, lá cây. Tuy nhiên, chăn nuôi thỏ thành công cần phải nắm vững
các kỹ thuật chăn nuôi thỏ, cách chọn giống và đặc biệt là công tác vệ sinh
phòng bệnh.
Thỏ là loại gia súc yếu, sức đề kháng kém dễ cảm nhiễm các mầm bệnh
và phát triển dịch do các yếu tố của môi trường ngoại cảnh gây nên. Khi mắc
bệnh thỏ dễ chết, có khi chết hàng loạt, một trong các bệnh thường gặp nhất
Xác định đặc điểm bệnh lý lâm sàng, bệnh tích đại thể, vi thể của bệnh
cầu trùng thỏ.
Xác định được các loài cầu trùng ký sinh ở thỏ nuôi tại một số huyện
của tỉnh Bắc Giang. Theo dõi sự phát triển Oocyst của một số loài cầu trùng
phổ biến gây bệnh cho thỏ tại Bắc Giang.
Thử nghiệm phác đồ điều trị, xác định hiệu lực một số thuốc điều trị
bệnh cầu trùng thỏ.
Đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh cầu trùng cho thỏ.
3.Ý nghĩa của đề tài
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về thành phần loài cầu
trùng ký sinh ở thỏ nuôi tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Giang.
Sự phát triển và khả năng tồn tại của Oocyst trong môi trường ngoại
cảnh là dẫn liệu dịch tễ học trong nghiên cứu bệnh cầu trùng ở thỏ
Từ kết quả của đề tài có thể ứng dụng trong công tác chẩn đoán, phòng
và chữa bệnh cầu trùng thỏ. Đề ra các biện pháp khống chế và tiêu diệt
Oocyst cầu trùng thỏ ở ngoại cảnh, giúp người chăn nuôi thỏ giảm bớt những
thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra
Ch
ƣ
ơng
1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Bệnh cầu trùng là một bệnh nội ký sinh trùng nguy hiểm, thấy ở nhiều
loài động vật và cả ở người. Cách đây hơn 370 năm, cầu trùng được các nhà
khoa học phát hiện và nghiên cứu nhưng chưa xác định rõ các loài cầu trùng
gây bệnh trên động vật.
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về cầu
trùng và bệnh cầu trùng ở gà, ở lợn song các nghiên cứu về cầu trùng và bệnh
cầu trùng ở thỏ còn rất ít và chưa thực sự được quan tâm.
nghiên cứu
Eimeria stiedae: Các nang trứng hình bầu dục hay hình elip mầu vàng
nâu, vỏ nang trứng trơn nhẵn, có lỗ noãn ở phần hẹp của nang trứng. Sau giai
đoạn sinh sản bào tử trong nang trứng và trong bào tử có những thể cặn. Kích
thước nang trứng 30-48 x 16-25 micron, trung bình là 37,5 x 24,5 micron.
Sinh bào tử kéo dài tối đa là 3-4 ngày. Chu kỳ nội sinh tiến triển trong biểu bì
ống dẫn mật (Fidamann, 1865; Kisskalf và Hartmann, 1970).
Eimeria perforans: Nang trứng có dạng elip hay tròn. Lỗ noãn trông rõ
ở những nang trứng lớn, còn nang trứng bé thì không rõ. Vỏ nang trứng
không mầu, kích thước 13,3-30,6 x 10,6-17,3 micron, trung bình là 20,3-24,5
x 12,4-15,3 micron. Loài cầu trùng này thường hay gặp nhất trong ruột thỏ.
Sau thời kỳ sinh bào tử các thể cặn hình thành trong nang trứng và trong bào
tử. Thời gian sinh bào tử 24- 48 giờ. Theo tài liệu của E.M. Khâyxin (1967)
chu kỳ phát triển nội sinh của loài cầu trùng này xảy ra ở biểu bì nhung mao
và các khe thuộc phần dưới ruột non và cả trong ruột già (Leuckart, 1879;
Sluiter và swllengrebel 1912).
Eimeria media: Nang trứng hình bầu dục nhưng có thể có dạng elip. Lỗ
noãn trông rất rõ có thể thấy bề dầy lớp vỏ ngoài. Vỏ nang trứng mầu vàng
sáng hay nâu vàng, kích thước: 18,6-33,3 x 13,3- 21,3 micron. Sau thời kỳ
sinh bào tử hình thành các thể cặn trong nang trứng và trong bào tử. Thời gian
sinh bào tử 2-3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh trong tá tràng và phần trên
ruột non (Kessel, 1929).
Eimeria magna: Nang trứng hình bầu dục, lỗ noãn trông rất rõ, trong lỗ
noãn thấy được vỏ ngoài dầy. Vỏ nang trứng mầu vàng da cam hay nâu. Sau
thời kỳ sinh bào tử có thể cặn trong nang trứng và bào tử. Kích thước nang
trứng 26,6- 41,3 x 17,3- 29,3 micron, trung bình là 32,9- 37,2 x 21,5- 25,5
micron. Sinh sản bào tử 3-5 ngày. Phát triển nội sinh ở phần giữa và phần
dưới ruột non. Đôi khi các giao tử loài này còn thấy trong manh tràng và trực
tràng (Perard, 1925).
Eimeria irresidua: Các nang trứng hình elip hay bầu dục, phần cuối
Eimeria exigua: Nang trứng có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục. Vỏ
nang trứng mầu vàng nhạt hoặc không mầu. Kích thước trung bình 28,0 x
18,0 micron, thời gian hình thành bào tử từ 70-90 giờ. Sau thời kỳ sinh sản
bào tử cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì ruột non (Yakimoff, 1934).
Eimeria flavescens: Loài này gây bệnh rất nặng cho thỏ. Ký sinh ở
đoạn sau ruột non, manh tràng và kết tràng. Oocyst có hình trứng, kích thước
25- 37 x 14 - 24 µm với hai lớp vỏ. Lớp ngoài nhẵn mầu vàng dầy 1,4 µm.
Lớp trong sậm mầu dầy 0,4 µm với micropile nhô lên ở đầu rộng. Không có
hạt cực hay thể cặn. Sporocyst có hình trứng dài 13-17 x 7- 10 µm nằm dài từ
đầu đến đuôi của Sporocyst. Thời gian hình thành bào tử là 38 giờ hoặc ít hơn
(Marotel and Guilhon, 1941).
Hình 1.1. Hình dạng các Oocyst gây bệnh cầu trùng
thỏ
(Sophia Renaux, 2001)[64]
Hình 1.2. Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng
thỏ
(Sophia Renaux, 2001)[64]
1.1.4. Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst cầu trùng có nhiều hình dạng, kích thước khác nhau tùy thuộc
vào từng loài. Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo
như sau:
Oocyst màu vàng sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt.
Vỏ ngoài của Oocyst thường nhẵn. Vỏ chia làm 2 lớp: lớp vỏ ngoài dày, vỏ
trong mỏng, vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời nhau bằng axit H
2
SO
4
hoặc
bằng cách làm nóng Oocyst trong nước.
Về cấu tạo hóa học: vỏ ngoài là lớp quinone protein, vỏ trong là lớp
biểu bì ký chủ mới.
13,14,15. Quá trình hình thành thể phân lập thế hệ II, III
16. Hình thành giao tử đực và cái.
17,18,19,20. Quá trình sinh sản hữu tính.
21,22,23. Quá trình thụ thai để tạo nên các hợp tử.
Vòng đời của cầu trùng không cần ký chủ trung gian, vòng đời của cầu
trùng được tính từ khi thỏ nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh, qua quá trình
sinh trưởng, phát triển trong và ngoài cơ thể cho đến khi chúng lại tạo ra
những noãn nang có sức gây bệnh.
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng trên hành tinh của chúng ta là nhờ
vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp
tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên ( Lê Văn Năm, 2006) [20].
Chu trình phát triển sinh học của các loài cầu trùng thỏ giống như ở các
loài động vật khác.Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[10] cầu trùng sinh
sản theo 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn sinh sản vô tính ( Schyzogonie)
+ Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogonie)
+ Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogonie)
Hai giai đoạn đầu tiến hành trong cơ thể ký chủ nên gọi là thời kỳ nội
sinh sản. Thời kỳ nội sinh sản diễn ra trong tế bào biểu bì ruột gia súc
(Kolapxki N.A. và cs, 1980) [33]. Giai đoạn sau tiến hành ngoài cơ thể ký
chủ nên gọi là thời kỳ ngoại sinh sản. Cụ thể như sau:
- Giai đoạn sinh sản vô tính:
Lê Văn Năm (2006)[20] cho biết: Thỏ nuốt Oocyst có sức gây bệnh, vào
đến dạ dày, dưới tác động của dịch dạ dày, Oocyst vỡ ra, giải phóng 4
Sporocyst. Đến ruột non, các Sporozoit bên trong Sporocyst được hoạt hoá bởi
dịch mật và men Trypsin, chúng trở nên hoạt động, phá vỡ lớp màng của
Sporocyst và được giải phóng ra. Lập tức, Sporozoit xâm nhập tế bào biểu mô
ruột và tiến hành sinh sản vô tính. Chúng lớn lên rất nhanh, hình tròn hoặc
hình bầu dục, phân chia theo hình thức liệt phân thành nhiều thể phân lập thế
thể cặn trong noãn nang hay trong bào tử (Lê Văn Năm, 2006)[20].
- Giai đoạn sinh sản bào tử:
Sau khi Oocyst rơi vào lòng ruột, chúng cùng với phân được thải ra ngoài
môi trường và bắt đầu giai đoạn phát triển mới ngoài cơ thể.
Theo Bhurtei J.E (1995) [40] có từ 70 - 80% Oocyst thải ra vào ban ngày,
tập trung khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù lúc này chỉ
có 25% lượng phân trong ngày được thải ra.
Trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt hoàn toàn khác với môi trường
bên trong cơ thể ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì được sự sống
buộc phải thích nghi với điều kiện mới, trong đó nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,
không khí… luôn thay đổi. Nang trứng tự bảo vệ bằng cách nhanh chóng tạo
ra vỏ cứng, dày gồm 1 - 2 lớp với màu sắc khác nhau tùy thuộc vào chủng cầu
trùng. Sau đó, trong mỗi nang trứng hình thành 4 nguyên bào tử có hình bầu
dục, xung quanh mỗi nguyên bào tử lại được bao bọc một lớp màng mỏng và
trở thành túi bào tử (Sporocyst) Trong mỗi túi bào tử, nhân của tế bào lại chia
đôi về hai phía, được ngăn cách bởi một màng mỏng nữa để trở thành thể bào
tử có hình lưỡi liềm gọi là bào tử con (Sporozoit).
Như vậy, trong quá trình sinh sản bào tử, đối với cầu trùng Eimeria từ
mỗi nang trứng (Oocyst) hay còn gọi là noãn nang tạo ra 4 tiền bào tử
(Sporocyst), trong mỗi tiền bào tử lại chứa 2 thể bào tử (Sporozoit). Tất cả 8
thể bào tử được bao bọc xung quanh bởi một vỏ cứng dày gồm 2 lớp gọi là
bào tử nang (Oocyst gây bệnh). Kết thúc giai đoạn 3 của quá trình phát triển
cầu trùng hay kết thúc giai đoạn sinh sản bào tử. Chỉ có các Oocyst sau khi trở
thành Oocyst gây bệnh mới có khả năng gây bệnh và truyền bệnh từ gia súc
này sang gia súc khác. (Kolapxki N.A và cs, 1980) [33].
1.1.6. Tính chuyên biệt của cầu trùng
Tính chuyên biệt của cầu trùng là sự thích nghi phức tạp và lâu dài của
cầu trùng đối với cơ thể ký chủ hoặc cụ thể hơn đối với các cơ quan, các mô
bào hay tế bào nhất định phù hợp cho sự tồn tại, phát triển của chúng (Lê Văn
Năm, 2006)[20].