1
DANH MỤC CÁC BẢNG
1
2
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
TR : Trang
Cs : Cộng sự
% : Tỷ lệ phần trăm
≤ : Nhỏ hơn hoặc bằng
< : Nhỏ hơn
> : Lớn hơn
Kg : Kilogram
µm : Micrômét
mm : Milimét
NXB : Nhà xuất bản
T. suis : Trichocephalus suis
TT : Thể trọng
n : Dung lượng mẫu
2
3
MỤC LỤC
3
4
DANH MỤC CÁC HÌNH
4
5
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển các ngành kinh tế nói chung, ngành chăn
so với lợn không bị bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16]).
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam có nghề
chăn nuôi lợn khá phát triển. Tuy nhiên, công tác phòng chống bệnh giun
Trichocephalus suis chưa được chú ý và nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái
Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Bệnh giun tóc nuôi tại một số xã thuộc
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tóc Trichocephalus suis ở lợn tại
một số xã của huyện Phú Bình.
- Nghiên cứu sự phát tán trứng và ấu trùng giun tóc Trichocephalus
suis ở ngoài ngoại cảnh.
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh.
- Xác định một số loại thuốc điều trị bệnh giun tóc Trichocephalus suis
ở lợn
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa học tập
- Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn và học hỏi được thêm
nhiều kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường học.
- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có
điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành chăn nuôi nước nhà.
6
7
1.3.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công
tác nghiên cứu khoa học.
- Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu về đặc điểm dịch tễ của bệnh
Trichocephalus suis ở lợn.
- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các biện pháp phòng và trị bệnh
Trichocephalus suis có hiệu quả nhất.
Con cái: Cơ thể dài 37,89 – 50,60 mm; rộng 0.734 – 1,012 mm; phần
trước cơ thể dài 23 – 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày,
chứa đầy trứng. Kích thước trứng 0,024 – 0.027 x 0,056 – 0,061mm.
8
9
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17]: Giun có màu trắng đục; thân chia
ra làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, trông giống như sợi tóc; phần sau ngắn
và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản.
Giun đực dài 37,52 – 40,63 mm, rộng 0,634 – 0,713 mm, đuôi hơi tù,
cuộn tròn lại,có một gai giao hợp dài 1,70 – 2, , lỗ huyệt thông ra ngoài ở
phần cuối của giun .
Giun cái dài 37,89 – 50,6mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào đoạn cuối thân,
âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản.
Trứng giun hình giống hạt chanh, có hai núm ở hai đầu; kích thước
(0,024 – 0,027) x (0,056 – 0,061) mm, màu vàng nhạt.
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [18]: Hình thể giống roi ngựa hoặc sợi
tóc màu trắng, cơ thể chia thành hai phần rõ rệt, thực quản có các tế bào xếp
thành chuỗi hạt dài 2/3 cơ thể. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ
quan sinh sản. Giun đực dài 20 – 52 mm đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại
chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 -7 mm, gai giao hợp được bọc trong một cái
màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của
giun. Giun cái dài 39 – 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào đoạn cùng, âm hộ
ở vào đoạn cuối cùng của thực quản.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [26], trứng màu vàng thẫm, vỏ dày, có
nút ở mỗi cực, kích thước 50 - 56 x 21 - 25 μm. Tuy nhiên, những trứng tác
giả đo được thấy tương đối to hơn (66 x 30 - 37 μm). Trứng không phân chia
khi đẻ.
2.1.1.3. Vòng đời của giun T. suis
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], cho biết, vòng đời phát
triển của giun tóc diễn ra như sau:
cần vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường
ngoại cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng
cảm nhiễm từ 3 – 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình
thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.
10
11
Trịnh Văn Thịnh (1985) [32] cho biết, chu kỳ sinh học của giun T. suis
gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến
ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát
triển thành giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1976) [8], Phan Địch Lân và cs (2005) [18],
thời gian hoàn thành vòng đời của giun T. suis là 30 ngày.
Trịnh Văn Thịnh và cs (1985) [29], Đào trọng Đạt và cs (1996) [3] cho
rằng , tuổi thọ của giun T. suis ở lợn từ 4 – 5 tháng . Theo Lương Văn Huấn
và cs (1990) [5], giun T.suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày.
2.1.1.4. Sức đề kháng của trứng giun T.suis
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động
đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng giun T. suis, Việc
nghiên cứu sức đề kháng của trứng giun T. suis ở môi trường ngoại cảnh có ý
nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun T. suis, đồng thời là cơ sở khoa
học để đề ra những biện pháp phòng trị của bệnh giun T. suis có hiệu quả.
Ở môi trường ngoại cảnh , trứng giun T. suis phát triển thuận lợi nhất ở
nhiệt độ từ 18 – 30
0
C, ẩm độ 80 - 85%.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], các chất sát trùng như dung dịch
NaOH – 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% diệt được trứng T. suis. Theo
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], trứng giun T. suis bị diệt dưới tác dụng của
ủ phân nhiệt sinh học. Sau 3 – 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên tới 45
0
2.1.2.2. Dịch tễ học bệnh giun Trichocephalus suis
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1995) [33], lợn nhà và lợn rừng đều có khả
năng nhiễm bệnh.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17] cho biết, bệnh thường xảy ra đối với
lợn dưới 6 tháng tuổi. Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun nhẹ hơn, ít thể
hiện các triệu chứng lâm sàng.
12
13
Bùi Quý Huy (2006) [7] cho biết, giun T.suis ở lợn và giun Trichuris
trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng
nguyên, do đó bệnh giun T.suis ở lợn dễ lây sang người. Theo Nguyễn Phước
Tương (2002) [32], người nhiễm bệnh khi nuốt phải trứng giun T. suis lẫn
trong nước hay thức ăn thực vật chưa được nấu chín. Sau khi vào ruột người,
ấu trùng phát triển thành giun T.suis trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây
bệnh cho người. Giun đẻ trứng, trúng này được bài xuất ra ngoài qua phân
người, sau khi phát triển và chứa ấu trùng thì có khả năng gây nhiễm lại lợn
(tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11%, trong khi trứng giun T.suis ở lợn
có tỷ lệ phát triển là 86%).
* Tuổi mắc bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [16], bệnh giun T.suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh
miền Bắc, miền trung và miền Nam. Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm giun T. suis từ
4,3 – 30% (ở lứa tuổi từ 2 – 6 tháng tuổi) và 0,56 – 7,8 % (ở lứa tuổi trên 6
tháng tuổi).
Lương Văn Huấn và cs (1990) [5], cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T. suis theo
tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4%
Từ 3 – 4 tháng tuổi nhiễm 21,2%
Từ 5 – 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu
hóa do lợn nuốt phải trứng có sức cảm nhiễm lẫn trong thức ăn nước uống.
+ Lây nhiễm trực tiếp: lợn bệnh bài xuất trứng giun tóc qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống. Vì vậy lợn
14
15
khoẻ dễ dàng bị nhiễm trứng giun tóc. Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa lợn
bệnh và lợn khoẻ trong cùng một ô chuồng. Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi
bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ.
+ Lây nhiễm gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc cũng là tác
nhân mang mầm bệnh. Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm
giun tóc từ lợn bệnh sang lợn khoẻ từ ô chuồng này sang ô chuồng khác.
Ngoài ra ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng
giun theo bụi, mang trứng giun tóc từ chuồng này sang chuồng khác gây phát
tán mầm bệnh.
* Mùa vụ
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [17], bệnh giun T. suis lây nhiễm
quanh năm nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu. Mùa đông, thời tiết
lạnh, ẩm độ thấp, không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng cảm
nhiễm nên tỷ lệ nghiễm giun trong đàn lợn giảm đi.
Nguyễn Đăng Khải, Nguyễn Đăng Nhượng (1975) mổ khám 89 con lợn
ở vùng đồng bằng và miền núi thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Bình
Định cho biết: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis có sự khác nhau giữa các
vùng, trong đó sự khác nhau này có liên quan đến khí hậu giữa các vùng.
Vùng đồng bằng, do mùa khô hạn kéo dài, nhiều ánh sáng (tổng số giờ nắng
2000 – 2300 giờ/ năm) nhiệt độ những tháng nóng có thể lên tới 38 – 40
0
C
nên tỷ lệ nhiễm các loài giun sán nói chung đều thấp, đặc biệt là các loài giun
cảnh. Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát
triển bắt đầu để tạo thành các trứng có sức gây bệnh (trứng có chứa ấu trùng
bên trong).
16
17
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp
không qua vật chủ trung gian. Trứng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể vật
chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn nước uống có chứa trứng giun.
* Vị trí gây bệnh
Giun T. suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng và
kết tràng.
* Quá trình sinh bệnh
Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn, giun T. suis còn gây tác
hại nặng nề cho lợn.
- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], Phạm Sỹ
Lăng và cs (2006) [16], phần đầu của giun nhỏ dài cắm sâu vào thành ruột
gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn
tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ .
- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3], giun T. suis
ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm nhập. Nhân
tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn.
- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun bài tiết ra cho ký
chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu gây rối loạn tiêu hóa.
2.1.1.4. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn bị bệnh Trichocephalus suis
* Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tùy thuộc vào tuổi con vật, số
lượng giun ký sinh trong từng cơ thể lợn. Ở những lợn trưởng thành không
thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng khi kiểm tra phân mới thấy lợn
nhiễm giun T. suis.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun T.
suis ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết loét
và tạo ra nhiều niêm dịch.
Theo Rutter. J. M và Beer. R. J. S (1974) [41], khi mổ khám những con
con bị bệnh giun T. suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường
hợp, thành ruột già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhầy, máu và
các tế bào hoại tử bong ra từ lớp niêm mạc.
2.1.2.5. Chẩn đoán
Việc chẩn đoán bệnh giun T. suis ở lợn có thể dựa vào đặc điểm dịch tễ,
triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm phân lợn và kiểm tra bệnh tích.
* Với lợn còn sống:
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], để chẩn đoán bệnh có thể
áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ
và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm lại
gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính
nhằm xác định có hoặc không có giun T. suis ký sinh. Đây là phương pháp
thông dụng để nghiên cứu tình hình nhiễm giun T. suis ở lợn. Nghiên cứu định
lượng nhằm xác định số lượng trứng trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và
hiệu quả của một số thuốc tẩy giun.
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những biểu
hiện lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô lông xù, ỉa chảy
Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình
trạng vệ sinh thú y Tuy nhiên, nếu căn cứ vào các đặc điểm nói trên để chẩn
đoán thì sẽ không chính xác. Bởi vì các bệnh ký sinh trùng thường có những
triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể trạng gầy, da khô,
lông xù ). Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành xét nghiệm
phân tìm trứng giun T. suis.
19
20
Theo Phan Lục (2006) [22], có 4 phương pháp xét nghiệm phân:
lưới lọc. Phần cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và ly
tâm với tốc độ 3000 vòng/ phút trong thời gian 3 – 5 phút. Sau đó, đổ bỏ lớp
nước phía trên và giữ lại cặn trong các ống ly tâm. Tiếp theo cho nước muối
bão hòa vào các ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hòa đều
trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần 2 với tốc độ và thời gian như trên. Dùng
vòng sắt vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến kính sạch và soi dưới
kính hiển vi tìm trứng giun T. suis.
- Phương pháp Cherbovich: Phương pháp này hoàn toàn giống phương
pháp Darling, chỉ khác dung dịch bão hòa sử dụng ở đây là MgSO
4
.
Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số trứng giun T.
suis trong buồng đếm Mc. Master nhằm xác định số trứng giun T. suis/g phân.
Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc. Master gồm các bước sau:
- Bước 1: Cân 4g phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch ( khoảng
100 – 150 ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô. Nước lọc để lắng trong 1 –
2 giờ, gạt bỏ nước, giữ lại cặn.
- Bước 2: Cho 56 ml dung dịch nước muối bão hòa vào, khuấy đều cho
tan cặn. Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1 ml dung dịch phân nhỏ
đầy hai buồng đếm Mc. Master. Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi
(độ phóng đại 10 x 10).
Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của hai buồng đếm, rồi tính theo
công thức sau:
Số trứng/ 1 gam phân =
Tổng số trứng ở hai buồng đếm x 60
4
21
22
* Với lợn chết:
Đối với nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán khi con vật chết là
kg TT.
* Mebendazol (chế phẩm là Telmin, Mebenvet): Trong phân tử có nhóm
Ceto. Ít phân hủy trong cơ thể, sản phẩm phân hủy không còn hoạt tính sinh học.
+ Tác dụng tốt với giun tròn và sán dây. Thuốc không gây quái thai cho
súc vật.
+ Ứng dụng: Dùng để tẩy giun T. suis ở lợn với liều lượng: 20 mg/ kg TT
hoặc 30 mg/ kg thức ăn x 5 – 10 ngày.
*Oxfendazol (chế phẩm là Synanthic): Là sản phẩm chuyển hóa
Sulfocid của Fenbendazol.
+ Phổ tác dụng: Hoạt lực chống giun T. suis cơ bản giống Fenbendazol
nhưng có tác dụng phụ gây quái thai ở liều cao.
+ Liều lượng: Lợn và loài nhai lại 5mg/ kg TT.
* Pro – Benzimidazol: Đây là các chất không có tác dụng chống ký sinh
trùng nói chung và giun T. suis nói riêng ở các thí nghiệm invitro. Nhưng khi
ở trong cơ thể (invivo) các Benzimidazol tương ứng sẽ được hình thành và có
hoạt tính. Do đó về cơ chế tác dụng, phổ tác dụng, tác dụng phụ giống như
những Benzimidazol đã đề cập ở trên.
Một số thuốc dung trong thú y: Febantel (Rital), Netobinmin (Hapadex).
b/ Các Imidazothiazol
Các thuốc nhóm này tan trong nước, phổ chống giun tròn rộng .
Tác dụng chống ký sinh trùng nhanh hơn so với các Benzimidazol.
Cơ chế tác dụng giống như Nicotin, nghĩa là thuốc có tác dụng đối kháng
với hệ Cholinergic.
23
24
* Tetramisol, Levamisol (Chế phẩm là Biverm, Ripercol)
Tetramisol có hai đồng phân:
S (-) tetramisol (tức là L – tetramisol = Levamisol)
S (+) tetramisol (tức là D – tetramisol = Dexamisol).
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [4], chế phẩm chống ký sinh trùng có thể
Febentel: Liều 20 mg/kg TT thuốc dùng dạng uống.
Ivermectin: Liều 0,2 - 0,3 mg/kg TT, thuốc dùng tiêm cho lợn 2 lần,
cách nhau 1 - 2 ngày.
Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [21] cho biết: Levamisol tên
thương phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha
nước uống có phổ tác dụng rộng với giun T. suis. Ngoài ra, Fenbendazol tên
thương phẩm là Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong
3 ngày, không tồn dư trong cơ thể, có hiệu quả mạnh đối với giun T. suis.
Thuốc Ivocip - sản phẩm của công ty CIPLA LTD sử dụng tẩy giun T.
suis cho lợn đạt hiệu quả cao chỉ với một liều duy nhất. Ivocip có thành phần
chính là Ivermectin base (trong 1 ml Ivocip có chứa 10 mg Ivermectin base và
tá dược vừa đủ), sử dụng Ivocip tẩy giun T. suis ở lợn với liều 1 ml/33 kg TT.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19] đã khuyến cáo, để tẩy giun T. suis có
hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác. Sau đó tẩy cho những lợn bị
nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng. Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho
cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được.
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp. Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân
(tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9). Lượng phân lợn thải ra phải đem ủ
nhiệt sinh học để diệt mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu
quả của thuốc.
25