1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản của huyện Võ Nhai
1.1.1. Điều tra tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Võ Nhai là một huyện vùng cao, nằm ở phía Đông của tỉnh Thái Nguyên,
cách trung tâm thành phố 37 km, có đường quốc lộ 1B chạy qua. Địa giới
hành chính gồm 14 xã và 01 thị trấn, trong đó có 11 xã vùng cao đặc biệt khó
khăn, toàn huyện có 172 xóm bản:
- Phía Bắc giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn).
- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn).
- Phía Nam giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang).
- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ và Phú Lương (Thái Nguyên).
1.1.1.2. Điều kiện khí hậu thủy văn
Là một huyện nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm không đồng
nhất do địa hình phức tạp nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 - 27
o
c, nhiệt độ
cao nhất vào tháng 6 lên đến 33
0
C và hấp nhất vào tháng 1 là 10
0
c, lượng mưa
hàng năm khá cao từ 1500 - 2000mm, song lại có sự phân bố khác nhau giữa các
vùng, thời gian mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, độ ẩm không
khí trung bình khoảng 85%, vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2 năm có các hiện
tượng rét đậm, rét hại, sương muối. Trong năm chia thành 4 mùa rõ rệt.
1.1.1.3. Cơ sở hạ tầng
có trạm y tế. Cơ sở y tế ngày càng được hoàn thiện nâng cấp và đảm bảo nhu
cấu khám chữa bệnh của nhân dân.
* Tóm lại cơ sở hạ tầng phát triển nhằm phục vụ cho toàn ngành kinh tế
của huyện nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng và từ đó từng bước nâng
cao đời sống nhân dân.
1.1.2. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Võ Nhai
Đất là nhân tố không thể thiếu trong quá trình CNH-HĐH nền kinh tế
của huyện, đất gắn liền với quá trình phát triển công nghiệp và dịch vụ, phát
triển các khu công nghiệp và hệ thống giao thông vận tải. Đất đai không chỉ là
môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, vật
nuôi. Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào nhóm nhân tố
điều kiện tự nhiên bao gồm: Điều kiện đất đai, thời tiết, khi hậu, nguồn nước,
rừng, khoáng sản,… Tuy nhiên, khác với các tư liệu sản xuất khác, nếu được
sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của nó không ngừng tăng lên. Do vậy, việc sử
dụng và quản lý tốt yếu tố đất đai sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định
kinh tế và chính trị xã hội. Để nắm rõ hơn sự biến đổi đó, ta có thể nghiên cứu
trong bảng 1.1.
10
Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn qua 3 năm 2007-2009
Năm
Chỉ tiêu
2007
2008
2009
Tốc độ phát triển (%)
DT
(ha)
11,1
9.370,83
11,15
121,43
99,92
110,68
1. Đất trồng cây hàng năm
6.877,14
8,14
7.813,6
9,25
7.806,57
9,3
113,62
99,91
106,77
2. Đất trồng cây lâu năm
846,5
1
1.565,05
1,85
1.564,26
1,86
184,88
99,95
142,42
II. Đất Lâm nghiệp
(DT đất rừng)
50.712,701
60,.1
22.819,29
27
22.086,30
26,29
91,92
96,79
94,36
(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Võ Nhai)
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Võ Nhai là: 84.010,44ha (năm
2009) Trong đó bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng,
đất thổ cư, đất chưa sử dụng núi đá vôi.
- Qua biểu ta thấy rõ diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất
và tốc độ tăng bình quân 5%, một phần do các dự án hỗ trợ, một phần người
dân tự trồng tiếp những diện tích rừng chưa sử dụng vì họ đã thấy hiệu quả từ
kinh tế đồi rừng.
- Diện tích đất nông nghiệp: Năm 2007: 7.723,64ha năm 2008:
9.378,65 ha, năm 2009: 9.370,83 ha. Bình quân 3 năm tăng 10%. Điều này
đòi hỏi huyện cần phải cải tạo, thâm canh tăng vụ để tăng hệ số sử dụng đất.
Trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm tỉ trọng cao nhất trong diện tích đất
nông nghiệp. Qua đây ta cũng thấy được người dân đã mạnh dạn áp dụng các
tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ theo hướng tăng mùa
sớm để mở rộng diện tích cây vụ đông. Diện tích trồng cây lâu năm cũng tăng
nhanh 2007: 846,5ha đến năm 2008 tăng lên 1.564ha, năm 2009 lại giảm nhẹ
phần lớn diện tích này là nhân dân trồng chè và cây ăn quả nhưng do một số
diện tích cây ăn quả đem lại hiệu quả kinh tế thấp nên họ đã thay đổi bằng
trồng chè cành giống mới và một số cây đặc sản cho thu nhập cao hơn.
11
- Diện tích đất chưa sử dụng giảm đi rõ rệt bình quân mỗi năm giảm 4-
6% nguyên nhân là do đảng và nhà nước đã dành vốn đầu tư cho các chương
2009
SL
CC
(%)
SL
CC
(%)
SL
CC
(%)
I.Tổng số nhân khẩu
Người
63.377
63.668
63.980
Nhân khẩu NN
Người
51.652
50.298
49.904
Nhân khẩu PNN
Người
11.725
31.371
100
31.706
100
31.975
100
Lao động NN
Người
25.096
80
25.074
79
25.100
78,5
LĐ PNN
Người
6.302
20
6.632
21
6.875
21.5
IV.Các chỉ tiêu phân tích
trung bình. Lao động nông nghiệp đã có xu hướng chuyển sang các ngành
khác, phù hợp với quá trình phát triển theo hướng CNH-HĐH và phát triển
bền vững nông nghiệp nông thôn.
1.1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai qua 3 năm
Cơ cấu các ngành của huyện Võ Nhai đã có xu hướng tăng phù hợp với
mục tiêu phát triển của đất nước theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành
nông nghiệp.
Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Võ Nhai qua 3 năm (2007 - 2009)
Năm
Chỉ tiêu
ĐVT
2007
2008
2009
1. Giá trị SX nông, lâm, ngư nghiệp
Giá hiện hành
1.1. Nông nghiệp
Triệu đồng
312.705
403.352
429.569
- Trồng trọt
Triệu đồng
200.380
258.548
270.628
- Trang trại nông nghiệp
Trang trại
10
10
12
- Trang trại lâm nghiệp
Trang trại
8
8
7
- Trang trại chăn nuôi
Trang trại
9
9
6
- Trang trại tổng hợp
Trang trại 11
3. Giá trị sản phẩm trồng trọt/1ha đất
Triệu đồng
23,62
33
38
4. Chỉ tiêu bình quân
Chỉ tiêu
2007
2008
2009
Tốc độ phát triển
(%)
GT
(Triệu đ)
CC
(%)
GT
(Triệu đ)
CC
(%)
GT
(Triệu đ)
CC
(%)
2008/
2007
2009/
2008
BQ
Tổng giá trị SX
212.321
100
271.331
100
11.966
2,97
0,78
1,26
1,02
14
Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành tăng đều qua 3
năm. Năm 2007: 212.321 triệu đồng, năm 2008: 271.331 triệu đồng, đến năm
2009 tăng lên: 403.352 triệu đồng, bình quân tăng 38% /năm. Ngành trồng
trọt tăng bính quân trong 3 năm là 50%/năm. Ngành chăn nuôi tăng bình quân
21%. Dịch vụ tăng nhẹ khoảng 2%.
1.1.3. Nhận xét chung
1.1.3.1.Thuận lợi
- Về vị trí: Huyện có đường quốc lộ 1B chạy qua, Trung tâm huyện
cách trung tâm thành phố Thái Nguyên không xa do vậy Võ Nhai cũng có rất
nhiều triển vọng về giao lưu hàng hoá nông sản trong và ngoài tỉnh.
- Về chính sách: Đảng và nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho
người dân, có sự chỉ đạo, sát sao của các sở, ban ngành các cấp trong việc
triển khai dự án tại cơ sở
- Về tổ chức bộ máy của trạm thú y:
+ Đội ngũ cán bộ thú y có trình độ chuyên môn, bám sát và nắm bắt địa
bàn tương đối tốt.
+ Cán bộ thú y thường xuyên có mặt ở cơ sở để chỉ đạo sản xuất ,
chuyển giao khoa học kỹ thuật và hướng dẫn cho người dân nắm bắt và vận
dụng vào sản xuất có hiệu quả.
1.1.3.2. Khó khăn
- Do địa hình phức tạp nhiều đồi núi đá vôi, công tác quản lý rừng chưa
được chặt chẽ nên hiện tượng chặt phá rừng, rừng đầu nguồn vẫn còn sảy ra
dẫn đến hiện tượng sói mòn, rửa trôi đất ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất.
xảy ra như: lở mồm long móng, tụ huyết trùng, dịch tả lợn, mà chúng ta
không thể cứu vãn được, khi đó nó sẽ gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi,
chế biến và tiêu thụ sản phẩm, gây thiệt hại lớn đến kinh tế của người dân.
Nếu có dập tắt được thì mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong đất, nó có thể phát
bệnh bất cứ lúc nào, vì vậy công tác tiêm phòng là rất quan trọng. Hơn nữa
tiêm phòng thường xuyên và định kỳ giúp hạn chế được những dịch bệnh
thường xuyên xảy ra trong năm và tăng thêm thu nhập cho người dân và sản
phẩm xuất khẩu.
Xuất phát từ lợi ích kinh tế lớn của việc tiêm phòng và đây cũng là yêu
cầu của người dân để bảo vệ đàn gia súc, gia cầm. Qua điều tra tình hình dịch
bệnh, cùng với sự hướng dẫn của cán bộ thú y cơ sở, chúng tôi tham gia vào
16
việc tiêm phòng đợt 2 vào năm 2011 với các loại vacxin: vacxin tụ dấu lợn,
vacxin tụ huyết trùng trâu, bò, phòng bệnh dịch tả lợn, Newcastle gà.
Chúng tôi đã cố gắng tuyên truyền vận động, mà kết quả đạt được vẫn
chưa cao. Tỷ lệ đạt được so với tổng đàn còn thấp.
Kết quả tiêm phòng sau khi tiêm an toàn 100%.
1.2.3.2. Công tác thú y
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh:
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh là một nhiệm vụ bao trùm nhất
trong công tác thú y. Vì vậy việc phát hiện và điều trị kịp thời những gia súc
ốm là một khâu quan trọng nhằm ngăn chặn lây lan dịch bệnh ra vùng khác,
giúp con vật phục hồi sức khỏe nhanh chóng và giảm thiệt hại do bệnh gây ra.
Đồng thời nó có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái.
Với kiến thức đã học được trong nhà trường và học hỏi kinh nghiệm
thực tế, trong thời gian thực tập cùng với sự giúp đỡ của cán bộ thú y cơ sở tôi
đã chẩn đoán và điều trị một số bệnh sau:
* Bệnh ở lợn
- Bệnh tụ huyết trùng ở lợn
2,5%, Bcomplex liều 2
5ml/lần/ngày. Kết quả điều trị 12 con khỏi 11 con.
- Bệnh giun tròn đường tiêu hóa
Bệnh giun tròn điều tiêu hóa rất phổ biến đặc biệt là loài giun đũa
và giun lươn. Chúng tôi đã gặp một số con lợn có biểu hiện, gầy còm,
lông sù, gầy gộc, chậm lớn, Những con nhiễm nhẹ thì triệu chứng không
biểu hiện rõ.
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi
Fullerborn qua kiểm tra những con có triệu chứng trên đều nhiễm giun.
Điều trị: Dùng 2 loại thuốc Levamisol hoặc Menbendazol trộn vào thức
ăn sau 2 tuần tiến hành kiểm tra phân đều đã sạch trứng, lợn trở lại bình
thường, ăn uống tốt.
* Bệnh ở trâu bò
- Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
Trong thời gian thực tập tại cơ sở chúng tôi đã gặp một trường hợp con
bệnh có triệu chứng sốt cao 41 - 42
0
C, niêm mạc mắt mũi, nước dãi chảy
nhiều, gia súc khó thở, thở nhanh.
Với những triệu chứng trên chúng tôi chẩn đoán gia súc đó mắc bệnh tụ
huyết trùng và tiến hành điều trị như sau:
Tiêm: Analgin - 30% để hạ sốt cho con vật.
Tiêm Gentamycin liều 6 - 8 ml/100kg thể trọng/lần. Phối hợp tiêm
Penicilin liều 10.000 - 20.000 UI/kg thể trọng tiêm bắp ngày 2 lần và tiêm
thuốc trợ sức trợ lực cho con vật như: vitamin B
1
2,5%, vitamin C. 5 - 10
ml/lần/ngày. Sau 3 - 5 ngày điều trị thấy con vật hồi phục trở lại.
18
tanh hôi.
19
Điều trị: tiêm atropin giảm nôn, liều lượng 0,15 - 0,6ml/10kg thể trọng.
Dùng kết hợp với Lincomycin tiêm bắp liều 1ml/4 - 8kg thể trọng và kết hợp
dùng các loại thuốc trợ sức, trợ lực như vitamin B
1
1 - 3ml. Điều trị 2 - 3 ngày
con vật tiến triển tốt.
Ngoài công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia
cầm, tôi và các cán bộ thú y của trạm còn tham gia công tác kiểm soát giết mổ
tại chợ và giúp đỡ bà con đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như:
tiêm Dextran - Fe cho lợn con ở 3 - 7 ngày tuổi, thiến lợn đực, thiến lợn cái,
phối giống cho lợn cái, kết quả đạt được ở bảng sau:
Bảng 2.5. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT
Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
I
Tiêm vacxin phòng bệnh
An toàn
1
Tụ huyết trùng lợn
50
Khỏi bệnh
1
Tụ huyết trùng trâu bò
1
1
100
2
Tụ huyết trùng lợn
5
4
80,0
3
Tiêu chảy ở chó
1
1
100
4
Lợn con phân trắng
12
11
91,6
5
Bệnh giun tròn lợn
45
45
100
III
Công tác khác
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn ký sinh đường tiêu
hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng
thuốc Mebendazol điều trị”
2.1. Đặt vấn đề
Trong số các loài gia súc nuôi ở Việt Nam hiện nay, con lợn giữ vai trò
rất quan trọng. Nó cung cấp một khối lượng lớn thịt, mỡ đáp ứng nhu cầu thực
phẩm trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra chăn nuôi lợn còn mang lại lượng
phân chuồng khá lớn, góp phần nâng cao năng xuất cây trồng và là nguồn cung
cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến.
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn của Việt Nam đang có tốc độ
tăng trưởng rất nhanh, số lượng đầu lợn năm 2002 là 23.17 triệu con đứng thứ
7 trên thế giới, đến năm 2004 tổng đàn lợn cả nước là 26.14 triệu con. Thịt và
mỡ lợn chiếm tỷ lệ cao trong tổng lượng thịt được sản xuất tiêu thụ ở nước ta
cũng như toàn thế giới. Theo tài liệu của FAO số lượng thịt lợn trên toàn thế
giới năm 2005 la 100.3 triệu tấn. Ở Việt Nam tỷ lệ thịt lợn hơi tính theo đầu
người chiếm trên 72% trên tổng số các loại thịt được tiêu thụ. Với giá cả phải
chăng, chất lượng đảm bảo, là loại thịt an toàn nên nhu cầu tiêu thụ thịt lợn
của người dân rất lớn. Vì vậy ngành chăn nuôi lợn đã khẳng định rất rõ đặc
tính ưu việt của mình trong cuộc sống hiện nay.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của nền kinh tế thị trường,
việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng được nâng
cao, lai tạo được nhiều loại giống khác nhau, từ đó quy mô phát triển của
ngành chăn nuôi cũng rất đa dạng và phong phú. Nhưng cũng chính vì vậy mà
bệnh dịch ngày càng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là bệnh giun tròn ký sinh
ở đường tiêu hoá của lợn, nó không gây chết lợn ngay mà làm cho lợn còi
cọc, sinh trưởng phát triển kém và làm giảm sức đề kháng của lợn từ đó làm
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá thường là những bệnh tiến triển ở
thể mãn tính, triệu chứng không rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khác
22
che lấp. Do đó, chính những con vật bị nhiễm đã trở thành nguồn gieo rắc
mầm bệnh ra bên ngoài và lây ra các con khác làm cho bệnh càng có điều
kiện phát sinh mạnh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của vật nuôi.
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [11], ký sinh trùng phân bố rất rộng trong
thiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau. Có số lượng loài
phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài. Giun sán gồm
đại diện của 13 lớp: Lớp sán lá gần 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000 loài, lớp
sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai 500 loài.
2.2.1.1. Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn
2.2.1.2. Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn trong hệ thống phân
loại động vật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], ở lợn cho đến nay đã phát hiện
được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng
ký sinh. Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ
lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột
lợn do Fascioloposis buski,… Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăng trọng từ
15 - 20% so với lợn không bệnh.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9] cho biết: lớp giun tròn thuộc ngành
giun tròn Nemathelminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện
sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu. Phần lớn giun tròn sống tự
do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán ký
sinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3], hiện nay đã biết hơn 5.000
loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1.000 loài giun sống tự
Loài Oesophagostomum longicaudum
(Goodey, 1925)
Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934
Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856)
Loài Trongyloides ransomi
24
(Schwartz et Alicata, 1930)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linacus, 1758
Giống Ascaris Linnaeus, 1758
Loài Acaris suum Goeze, 1782.
Chu Thị Thơm và cs (2006) [19], Phan Lục và cs (2006) [12] cho biết:
giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3.000 loài sống ký sinh nhưng giun tròn
ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau:
+ Bộ phụ giun kim
+ Bộ phụ giun đũa
+ Bộ phụ giun xoăn
+ Bộ phụ giun tóc
+ Bộ phụ giun xoăn (Spirulata)
+ Bộ phụ giun chỉ
+ Bộ phụ Dictyophymata
+ Bộ phụ giun lươn
+ Bộ phụ Cucullanata
2.2.1.3. Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn
thước giun thay đổi tuỳ loài. Giun tròn gồm nhiều loài sống ký sinh ở động vật
và thực vật.
* Đặc điểm hình thái giun đũa lợn (Ascaris suum)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết: Giun đũa ký sinh ở gia
súc, gia cầm thuộc bộ phụ Ascaridata. Bệnh giun đũa lợn do loài Ascaris
suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng.
Theo Phan Lục và cs (2006) [12], giun đũa lợn có màu trắng sữa, hình
ống, hai đầu hơi nhọn. Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ở
phía lưng, 2 môi ở phía bụng). Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấu
tạo của răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở giun
đũa người không rõ bằng giun đũa lợn. Giun đực dài 12 - 15 cm, đường kính
3,2 - 4,4 mm. Đoạn đuôi cong về phía bụng. Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ
69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt khác xếp trên một rồi
trên hai hàng, một gai thịt lẻ ở trước hậu môn. Con cái dài từ 20 - 30 cm,
đường kính 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng. Đuôi mang hậu môn về phía bụng, hậu
môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên, âm hộ có hình dáng
một lỗ nhỏ hình bầu dục ở về phía bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân.
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt
bụng, đuôi giun cái thẳng. Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau,
khoảng cách 1,2 - 2 mm không có túi giao hợp.
26
Theo Đào Trọng Đạt (1995) [1], trứng giun đũa hình ovan, vỏ dầy, bề
mặt nhăn nheo, màu vàng, trong có nhân màu vàng thẫm. Kích thước từ 45 -
85 m x 35 - 55 m. Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời
phát triển của giun.
* Đặc điểm hình thái giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] mô tả: giun lươn sống ký sinh ở
ruột lợn, giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm. Đuôi ngắn, âm hộ ở vào nửa
sau của thân giun, trứng uốn khúc. Trứng hình bầu dục, màu trắng, kích thước
hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37
mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm,
âm đạo dài 0,1- 0,15 mm, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng.
* Đặc điểm hình thái giun tóc (Trichocephalus suis)
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7] cho biết, giun có màu trắng đục, giống
một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: Phần đầu nhỏ thực quản có các tế
bào xếp thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể phần sau ngắn và to,
bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 -
0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại. Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7
mm được bao bọc trong cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ, lỗ huyệt thông ra
ngoài ở phần cuối của giun. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở
vào phần cuối của thân, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản.
Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, có
kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm.
2.1.3. Cấu tạo của giun tròn
Lớp ngoài là biểu bì bằng giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọc hoặc
vân chéo. Một số loài giun tròn có những chỗ biểu bì phình to gọi là cánh
(cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một số giun đực có cánh đuôi). Một số loài giun
có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng cảm giác, vận động và bám
vào ký chủ. Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt. Trong cùng
là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình vòng tuỳ loài.
Giun tròn thường có môi, gai, xoang miệng. Một số loài giun tròn có
túi đuôi, cơ thể giun thường được bao bọc bằng lớp vỏ ngoài dày. Trên lớp vỏ
này có những vân ngang, dọc, giác, móc và các cấu tạo phụ khác. Thành phần
của lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn chịu đựng khoẻ với
hoá chất, dịch tiêu hoá và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh của
28
giun. Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp, những giun ký sinh đường tiêu hoá có từ 7
- 10 lớp (lớp vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến
29
nâng đỡ túi giao hợp (sườn bụng, sườn lưng, sườn hông). Bộ phận sinh dục
cái: Gồm hai ống nhỏ uốn khúc hợp với nhau gồm buồng trứng, ống dẫn
trứng, tử cung, âm đạo thông ra ngoài qua lỗ sinh dục gọi là âm hộ ở mặt
bụng giun. Vị trí âm hộ có thể ở phía trước, phía sau, ở gần hậu môn hoặc ở
đoạn giữa giun, một số loài có nắp âm hộ.
+ Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: không có (hô hấp yếm khí), vì sống
trong môi trường yếm khí.
2.1.4. Vòng đời của giun tròn
Giun tròn có thể đẻ trứng (giun đũa, giun tóc) hoặc đẻ ra ấu trĩ (giun
xoắn, giun chỉ). Ở ngoại cảnh, trứng và ấu trùng này phải có thời gian phát
triển thành trứng hoặc ấu trùng gây nhiễm. Ấu trùng phải trải qua hai lần lột
xác thì thành ấu trùng gây nhiễm. Quá trình lột xác như sau: dưới lớp biểu bì
cũ sinh ra một lớp biểu bì mới, rồi lớp biểu bì cũ thay thế lớp biểu bì mới (có
loài vẫn giữ lớp biểu bì cũ tạo thành màng bọc ấu trùng, giúp nó chống đỡ với
điều kiện ngoại cảnh bất lợi). Trứng sau khi được thụ tinh, trong trứng tiếp tục
phát triển từ một phôi bào thành nhiều phôi bào, hình quả dâu, hình ấu trùng
giun và hình thành ấu trùng giai đoạn I, sau đó lột xác lần 1 thành ấu trùng
giai đoạn II, sau lột xác lần 2 thành ấu trùng giai đoạn III, sau lột xác lần 3 thì
ấu trùng giai đoạn IV được hình thành, sau lột xác lần 4, ấu trùng biến thành
giun tròn dạng trưởng thành, ký sinh trong vật chủ. Lần lột xác 3, 4 thường
xảy ra trong vật chủ cuối cùng.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9], đa số giun tròn đẻ trứng, một số
loài đẻ ấu trùng. Trứng được bao bọc trong nhiều lớp vỏ, vỏ ngoài phẳng hoặc
lồi lõm, ở một số loài trứng có nắp ở hai cực. Trứng hoặc ấu trùng của giun
tròn được thải ra môi trường ngoài cùng với phân, đờm, nước tiểu và nước
mắt của gia súc.
Chu kỳ sống của giun tròn rất đa dạng, một số phát triển trực tiếp nghĩa
là không có thay đổi vật chủ gọi là giun tròn ký sinh sinh học.
Căn cứ vào đặc điểm quá trình phát triển, giun tròn được chia làm hai dạng:
trung gian (côn trùng, giáp xác, giun đất…) nuốt phải những trứng này, ấu
trùng thoát khỏi vỏ trứng, lột xác và phát triển thành ấu trùng A2, lại lột xác
thành ấu trùng A3 (gây nhiễm). Khi xâm nhập vào vật chủ cuối cùng, ấu trùng
gây nhiễm tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành.
Trứng
Trứng có ấu
trùng A1
A2
A3
Phân
t
0
, A
0
, pH
Dạng trưởng
thành
(ở vật chủ cuối
cùng)
Thoát
vỏ
trứng
Xâm nhập vào vật chủ cuối cùng lột xác
31
Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun chỉ (Filariata). Giun trưởng thành thụ
tinh, đẻ ấu trùng A1 trong cơ thể vật chủ. Ấu trùng A1 vào hệ tuần hoàn, vào
máu. Khi vật chủ trung gian (côn trùng) hút máu, ấu trùng A1 xâm nhập vào
vật chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng A2, A3 (ấu trùng gây nhiễm).
lợn)
Trứng
Ấu trùng
(có sức gây nhiễm)
Ấu trùng
Phổi<-Gan<-Máu<-Niêm
mạc ruột
Phân
t
0
, A
0
, pH32
Giun đũa hình thành vòng đời là 54 - 62 ngày, tuổi thọ của giun đũa là
không quá 7 - 10 tháng, giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian.
Giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27
triệu trứng (Cram, 1923). Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24
0
C
và ẩm độ thích hợp, trong 2 tuần trong trứng có phôi thai, sau một tuần nữa
thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh. Lợn nuốt phải trứng này thì
ấu trùng nở ở ruột, chui qua niêm mạc vào mạch máu, theo máu về gan. Một
số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột vào
gan. Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất
là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi. Khi tới
phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch máu phổi
chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu, rồi được nuốt