ĐẠI HỌC THÁIs NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA HUYỆN THUỘC
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên- 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA HUYỆN THUỘC
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số ngành: 60.64.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. HOÀNG VĂN DŨNG
2. TS. NGUYỄN THỊ NGÂN
Được sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, tôi đã vượt qua mọi
khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể
và cá nhân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................. 1
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI ............................................................................. 3
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................ 3
3.1. Ý nghĩa khoa học ........................................................................................ 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ......................................................................................... 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 4
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ........................................................ 4
1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé ................................ 4
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé .................................................. 9
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé .................. 11
1.1.4. Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé ........................................................ 14
1.1.5. Biện pháp phòng trị bệnh. ...................................................................... 15
1.2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC................. 17
3.2.1. Những biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa ở một số huyện
thành của tỉnh Thái Nguyên ............................................................................. 49
3.2.2. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá bê, nghé do giun đũa gây ra.............51
3.2.3. Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh
giun đũa............................................................................................................52
3.2.4. So sánh công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa và bê, nghé
khỏe mạnh........................................................................................................54
3.3. NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN
ĐŨA CHO BÊ, NGHÉ....................................................................................57
3.3.1. Phương pháp ủ phân nhiệt sinh học để diệt trứng giun đũa bê,
nghé..................................................................................................................57
3.3.2. Phương pháp điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé.................................58
3.3.3. Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước và sau khi dùng thuốc.........60
3.4. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH PHÒNG, TRỊ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ,
NGHÉ..............................................................................................................61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................................64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 66
PHỤ LỤC........................................................................................................73
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là của chúng
tôi (học viên và người hướng dẫn khoa học). Các số liệu, kết quả trong luận
văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một
học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
gam
Nxb:
Nhà xuất bản
PTNT:
Phát triển nông thôn
TN:
Thí nghiệm
TT:
Thể trọng
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi trâu, bò ở nước ta trước đây chủ yếu để cung cấp sức kéo cho
nông nghiệp và lâm nghiệp. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta
phát triển khá mạnh, theo hướng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sản xuất sản phẩm
hàng hóa tập trung. Chăn nuôi góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao thu nhập của người nông dân. Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con
người hai loại thực phẩm có giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dưỡng là thịt và
hàng hóa, tập trung nâng cao chất lượng, giá trị, sức cạnh tranh sản phẩm
chăn nuôi; đa dạng loại hình chăn nuôi phù hợp với điều kiện của từng địa
phương quy mô nông hộ, trang trại, chăn nuôi công nghiệp, bán chăn thả.
Trong những năm gần đẩy tỉnh Thái Nguyên rất quan tâm đến công tác phòng
chống dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm nói chung, đàn trâu, bò nói riêng. Tuy
vậy mới chỉ tập trung vào nghiên cứu, đề ra các giải pháp phòng chống các
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng
trâu, bò... Bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh giun đũa ở bê, nghé mặc dù tỷ
lệ nhiễm cao, gây hại đáng kể nhưng chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy,
bê, nghé ở các địa phương của tỉnh còn bị bệnh phân trắng nhiều, gây thiệt hại
kinh tế đáng kể. Mặt khác, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, tổng đàn gia
súc, phương thức chăn thả, điều kiện chăn nuôi ở nước ta nói chung và các
tỉnh miền núi nói riêng có nhiều thay đổi. Điều đó có thể ảnh hưởng và làm
thay đổi đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở Thái
Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ
của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của
tỉnh Thái Nguyên”.
3
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
trong điều kiện chăn nuôi hiện nay.
- Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh giun đũa bê,
nghé và xây dựng được biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé hiệu
quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trâu bò ở Thái Nguyên.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ,
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(1999) [12], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba
lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối
tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau
phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm,
đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun cái dài 19 – 23 cm,
chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37
- 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ
lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070- 0,075 mm.
5
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [22], giun đũa Neoascaris vitulorum
(Goeze, 1782) ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 -15
cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 -16 cm. Giun cái ở nghé dài 19-23 cm,
đường kính 0,5 cm, trứng 70-75 x 80-90 µm; giun cái ở bê dài 20-26 cm,
trứng 75-85 x 90-100 µm. Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân.
Phan Lục (2005) [26] cho biết, giun đũa cỏ kích thước to, vàng nhạt,
dài 13-22 cm, trên đầu cò 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ
phình to ra gọi là dạ dầy giả. Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều
gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp
ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75mm.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [23] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: giun
đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm,
thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19
mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành
2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 –
200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42
mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách
mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
7
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun
trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai.
Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian.
Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng.
Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh. Sau đó trứng này lại vào cơ
thể con vật theo thức ăn, nước uống. Khi mới theo phân ra ngoài trứng
không phân chia. Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian
trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau.
Galila A. B. và cs (1990) [49] cho biết, ở 250C trứng giun đũa phát
triển thành trứng ấu trùng sau 7 ngày.
Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng
như yếu tố vật lý. Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối
với một số chất sát trùng.
Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen 4 5%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi
không bị diệt. Phạm Chức (1980) [4] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng
giun đũa trong một giờ; Axit phênic 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút
đến một giờ. Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31], trứng
giun đũa phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 22°C, nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17°c.
Dương Công Thuận và cs (1986) [38] đã lấy phân của bê, nghé bị
nhiễm giun đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri,
để ở nhiệt độ trong phòng khoảng 15 - 22°C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát
triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 - 17°C phôi hình thành sau
38 ngày.
người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu cảm nhiễm trứng
giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có khả năng đẻ trứng phải tối
thiểu trên một tháng. Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ
đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai.
9
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy
ra hầu khắp các nơi trên thế giới.
Swain G. D. (1987) [62] cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ, thấy
4 con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột. Tripathi J.
C. (1967) cũng cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh.
Theo Vichitr Sukhapesna (1981) [65], bê, nghé nhiễm giun đũa
Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa.
Muangyai M. (1989) [53] thông báo rằng, giun đũa bê, nghé
Neoascaris vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh
cho bê, nghé.
Theo Panday V. S và cs (1990) [55], kiểm tra phân của 20 bê, nghé
trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có
trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng/gam phân.
Akyol C. V (1993) [45] cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị
nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân. Ấu
trùng cũng được tìm thấy trong mẫu sữa. Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun
nên làm bê, nghé bị nhiễm bệnh nhanh. Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh
thái khác nhau là khác nhau.
Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm giun đũa với tỷ
lệ 58% ở tuần tuổi thứ nhất; 87,5% ở tuần tuổi thứ 2; 96% ở tuần tuổi thứ 3
và 100% ở tuần tuổi thứ 4. Hầu hết bị nhiễm qua bào thai, một số ít trường
Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng
bằng, trung du, miền núi. Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả
rông đi theo mẹ đi ăn.
Tô Du (2005) [6] cho biết, bệnh giun đua ở bê, nghé hay mắc từ 15 –
60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ cỏ dính trứng giun
đũa, bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh. Bệnh thường gặp nhiều ở
nghé đẻ vào vụ Đông – Xuân.
iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................. 1
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI ............................................................................. 3
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............................ 3
3.1. Ý nghĩa khoa học ........................................................................................ 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ......................................................................................... 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 4
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ........................................................ 4
1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé ................................ 4
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé .................................................. 9
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé .................. 11
1.1.4. Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé ........................................................ 14
1.1.5. Biện pháp phòng trị bệnh. ...................................................................... 15
1.2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC................. 17
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 17
1.1.5. Biện pháp phòng trị bệnh. ...................................................................... 15
1.2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC................. 17
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 17
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ....................................................... 19
Chương 2. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU.. ............................................................................................................... 22
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ........................................ 22
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: .......................................................................... 22
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu: ............................................................................... 22
2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU .......................................... 22
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................. 22
2.2.2. Thời gian nghiên cứu: ............................................................................ 23
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ..................................................................... 23
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................. 24
2.4.1. Bố trí điều tra và nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê,
nghé ở 3 huyện của tỉnh Thái Nguyên. ............................................................ 24
13
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [35], bê nghé bị bệnh giun đũa
có dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật
không theo mẹ. Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy
nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 41°C. Con vật mệt mỏi,
đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần
chuyển thành màu trắng, lỏng.
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31], con vật ăn kém,
ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật.
tạo thành búi làm tắc ruột. Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt
lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét. Có trường
hợp bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc. Ngoài
một non, có thể thấy giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế. Biến đổi
hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm
do tổn thương ở phổi.
1.14. Chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé
Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào
triệu chứng lâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê
nghé bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám
kiểm tra bệnh tích ở ruột non cho phép chẩn đoán chính xác bệnh.
*Đối với bê, nghé sống:
Theo nhiều tác giả, việc chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum
ở bê nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát
bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh.
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)
[12] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi,
bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2. Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14
ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không
bị nhiễm. Trâu bò không mắc bệnh này. Đây chính là những điều tra cơ bản
để sơ bộ chẩn đoán bệnh. Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu
trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang
hậu môn và khuỷu chân...là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán
bệnh giun đũa bê nghé.
15
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học
của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký
sinh trùng có biểu hiện giống nhau. Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng
buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn
với 2 gam muối hoà với 13 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào
buổi sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ hoà với 1/3 lít
nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền. Có thể cho uống 3 ml tinh dầu
giun trộn với 60ml dầu đu đủ, cho uống 1 lần vào buổi sáng. Cũng có thể
cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin
0,2 - 20,3 gam/kg TT.
Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [7] cho biết, để chủ động phòng trị bệnh
giun đũa bê, nghé ngay sau khi sinh, chúng ta dùng một số loại thuốc đặc trị
bệnh giun đũa bê, nghé, có thể dùng: Polystrongle với liều 1 ml/50kg TT.
Vichitr Sukhapesna (1981) [65] đã dùng Pyrantel Tartrate các liều
khác nhau 5, 10 và 20 mg/kg tẩy cho 28 bê nghé bị nhiễm giun đũa thì thấy
với các liều lượng trên thì đều có hiệu quả cao (100%). Số lượng trứng giun
đũa thải ra theo phân giảm nhiều sau 1 tuần điều trị.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [34]: Piperazin 0,3 – 0,5 gam/kg
TT, Silicofluorat natri liều 0,035 g/kg TT chia hai lần trong ngày, tinh dầu
giun 30 - 60 ml, cho uống, kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc
chu đáo cho trâu bò mẹ. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11] cũng sử
dụng những hoá dược như trên tẩy giun đũa bê nghé cho kết quả tốt.
Theo Cao Tuyết Lan (1996) [13], dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT
tẩy cho nghé nhiễm giun đũa ở thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt.
Vương Đức Chất (1995) [3] đã tẩy giun đũa cho bê nghé bằng thuốc
Piperazin 0,25 g/kg TT, Mebendazole 10 mg/kg TT đạt kết quả tốt.
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11] đã thử nghiệm dùng
Benzimidazole liều 7,6 - 9 mg/kg TT, tẩy cho 73 bê nhiễm Neoascaris
vitulorum, kết quả đạt 100% ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phú), Kim Bảng